Tất cả là vì con người

Như một sự gặp gỡ tự nhiên mà đẹp đẽ: Rất nhiều tên tuổi nhà văn khu vực miền Đông Nam Bộ đều gắn bó với văn chương thiếu nhi với những mức độ và ở những thành công khác nhau. Thế hệ các nhà văn đi trước như Hoàng Văn Bổn (1930-2006), Xuân Sách (1932-2008) từng để lại những tập truyện thiếu nhi đã trở thành dấu mốc trong văn chương cách mạng một thời, có ảnh hưởng xã hội vô cùng sâu rộng, nổi bật là Tướng Lâm Kỳ Đạt (1962)  Đội du kích thiếu niên Đình Bảng (1964). Có nhà văn hầu như thành danh chỉ bằng văn chương thiếu nhi như Hồ Việt Khuê và Trần Hoàng Vi. Có lẽ bởi thế, lúc gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam có thể có người chưa thật biết nhiều về các anh qua tác phẩm. Lại có nhà văn tiếng tăm đi bằng cả hai chân, rất ý thức, thể hiện bằng hai bút danh lừng lững: khi viết cho thiếu nhi thì ký tên khai sinh Nguyễn Thái Hải còn bình thường thì lấy bút danh Khôi Vũ. Thật khó nói anh thành công ở lĩnh vực nào hơn? Chỉ riêng về số lượng, đến nay anh đã cho ra đời tới 15 tập truyện dài và truyện ngắn cho thiếu nhi! Cả một sự nghiệp chứ đâu có nhỏ. Thường thì các nhà văn trong khu vực không hẳn học theo ai mà chủ yếu nương theo sở trường, sở nguyện của mình mà đến với văn chương thiếu nhi. Tiêu biểu hơn cả là Trần Đức Tiến và Nguyễn Thị Thu Trân. Hai nhà văn này cũng như những nhà văn kể trên đã gặt hái không ít giải thưởng danh giá của Hội Nhà văn và các tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp khác. Đấy là chưa có dịp kể tới các nhà văn khác, lúc này lúc kia, từ sự thôi thúc da diết của nội tâm, cũng đã dành cho trẻ thơ mà trước hết là cháu con mình, không ít những câu chuyện, những vần thơ chân thực đến nao lòng, có ý nghĩa không nhỏ trong sự nghiệp của một đời viết. Chẳng hạn nhà thơ lão thành Cảnh Trà của chúng ta.

Nói tới văn chương thiếu nhi, tôi muốn nhắc tới tên tuổi nhà văn Trần Hoài Dương. Anh mới đột ngột ra đi vào đầu tháng 5 năm 2011, để lại biết bao tiếc thương cho đồng nghiệp và bạn đọc, đặc biệt là bạn đọc thiếu niên nhi đồng cả nước. Nhiều người có thể chia sẻ với ý nghĩ sau của anh lúc sinh thời: “Sao lại bảo những trang văn của tôi là dành cho thiếu nhi, tôi viết cho người lớn đấy chứ!”. Đâu phải anh không có lý của mình. Chỉ xin nhắc tới một truyện cực ngắn mà vô cùng đặc sắc và sâu sắc của anh có tên là Hoa kim ngân. Nhân vật người kể chuyện thuở nhỏ thấy hoa kim ngân có hai màu xen kẽ, trắng và vàng, thì lấy làm thích thú lắm vì rất lạ. Trưởng thành hơn, hiểu biết một chút, mới hay đó chỉ là hai giai đoạn chuyển đổi khác nhau của màu hoa: lúc mới nở thì màu trắng và khi mãn khai thì lại hóa vàng. Rất có thể vì vậy mà nhân vật “tôi” nhìn hoa không còn mơ mộng, lãng mạn như trước. Phải chăng, cùng với thời gian, tâm hồn con người đã cỗi cằn, chai lì đi? Thật bất ngờ trước lời kết của nhà văn thông thái Trần Hoài Dương: không đâu,… “chính là tôi đã lớn lên” đấy mà. Ai dám bảo câu chuyện không làm cho người lớn chúng ta buộc lòng phải ngẫm nghĩ. Nên, ở một phương diện nào đó, cũng có thể bảo là anh viết cho người lớn, thật đấy!  Chỉ có điều, anh nhờ  qua trẻ thơ để đến với người lớn chúng ta. Do vậy, trên thực tế, người ta vẫn có lý để xem anh gần như là một trong những nhà văn thuần thành về  cho thiếu nhi. Lại rất thành công. Chẳng phải phần đông các em đều coi Trần Hoài Dương là nhà văn của mình đó sao! Tôi xem đấy là một lối nhìn nhận, một cách đánh giá không hề thấp đối với công tích, sự nghiệp của một nhà văn, nhất là khi có ai không biết trẻ em ở ta hiện giờ đang “đói” văn chương quay quắt đến mức nào!

            Nhớ lại câu chuyện của người thơ Tản Đà hồi đầu thế kỷ XX. Một lần, ông lên Hòa Bình chơi, dừng chân trước một cửa hiệu người Tàu. Chợt ông thấy một người đàn bà Mường, tuổi đã già, gánh hai sọt lá gai đi ngang qua. Vợ người khách hỏi mua, chỉ trả có hai xu lẻ. Người đàn bà miền núi ban đầu không thuận bán. Tuy đi được một quãng, nghĩ sao đó, bà gánh trở lại, đồng ý bán. Có lẽ bà ta nghĩ, nếu không bán, dầu biết là rẻ như cho, thì chiều hôm đó cả nhà sẽ đứt bữa ăn. Trong khi từ chỗ bà ở ra tỉnh vừa đi vừa về dễ đến hơn một ngày đường. Nhà thơ kịp đưa ra một câu hỏi phải nói là thật đích đáng: “Vậy thời, đố ai biết hai đồng xu trên thế giới nhiều hay ít, to hay bé, là trọng hay là khinh?”. Không dừng ở đó, Tản Đà còn nghĩ sâu và xa hơn: “Mà hai đồng xu có lỗ tròn, hoặc đủ làm bộ kính hiển vi để xem xét nhân tình vật lý”. Tôi lại muốn suy luận thêm: lỗ tròn của đồng xu qua con mắt tinh tường của Tản Đà còn đủ sức soi tỏ biết bao lẽ huyền vi thường ẩn trong đời sống tưởng như quá đỗi quen thuộc của nghệ thuật, như chủ đề chúng ta đang bàn về văn chương thiếu nhi chẳng hạn. Câu chuyện xem ra càng ngẫm càng ý vị.           

Thú thật, cho đến giờ, cách hiểu về cái gọi là văn chương thiếu nhi còn chưa được hoàn toàn thống nhất. Trong và ngoài giới đều vậy cả. Người ta có thể giải thích đó là thứ văn chương về (đối tượng thể hiện) thiếu nhi; cũng có thể hiểu là cho (đối tượng phục vụ) thiếu nhi; mà đồng thời có thể giới hạn là của (đối tượng sở hữu) thiếu nhi. Tôi thì hiểu, đúng hơn là muốn hiểu, đó là thứ văn chương vì thiếu nhi (mục tiêu sáng tạo), từ đấy và qua đấy, có điều kiện đi xa hơn, vươn cao hơn tới mục tiêu tối hậu là vì con người. Tôi nghĩ, văn chương chân chính, ở đâu và thời nào cũng vậy, đều chỉ hướng tới CON NGƯỜI, tất thảy là vì CON NGƯỜI trong dạng thức lý tưởng có thể có. Nếu thế thì văn chương chân chính nào chẳng ẩn chứa những ý nghĩa vượt thoát ra khỏi chính hình thái tồn tại xác định của nó. Tất thảy tùy thuộc vào tầm mức của ý tưởng, độ day dứt gợi từ ý tưởng cùng tài năng tương xứng để thực hiện thành công ý tưởng ấy trong một hình hài cụ thể nào đó.

Để xác minh điều vừa khái quát, tôi xin đi vào những trang văn dung dị, mộc mạc mà thấu lẽ nhân tình phổ biến của nhà văn Hoàng Văn Bổn. Cũng chỉ giới hạn ở truyện thiếu nhi ấn tượng hơn cả là Lũ chúng tôi (1980) được ông hoàn thành vào thời gian trước Đổi mới. Lũ chúng tôi kể về hoạt động của Trường tiểu học kháng chiến Tân Uyên ở chiến khu Đ vào thời gian từ 1946 đến 1950. Trường học thì chủ nhân chính bao giờ cũng là thầy và trò. Rồi mở rộng ra là cộng đồng dân cư - xã hội. Trường học trong kháng chiến, ngoài những thử thách muôn thuở của việc dạy và học, khi nào cũng phải trải qua những gian khó, thạm chí khốc liệt can hệ trực tiếp tới sự tồn vong. Truyện của nhà văn Hoàng Văn Bổn có đủ những con người, cảnh vật và sinh hoạt ấy, lại được thể hiện bằng một cách thức không hề mới: mọi chuyện, mọi người, mọi sự kiện đều chuyển vần xoay nhân vật xưng “tôi”. Kết cấu vẫn theo mạch thời gian tuyến tính giản đơn: không hề thấy tác giả sử dụng những thủ pháp viết tiểu thuyết hiện đại như đồng hiện, cắt dán, dòng ý thức… vốn đã được nhiều nhà văn Việt Nam cùng thời mạnh dạn thể nghiệp. Vậy mà sao cuốn sách vẫn cứ cuốn ta vào, nâng ta dậy, bắt ta suy ngẫm không thôi? - Câu hỏi ấy cứ bám riết lấy tâm trí tôi.

Câu trả lời sáng tỏ dần khi đọc từ dòng đầu tiên đến dòng cuối cùng của cuốn truyện. Nó vỡ vạc ra trước nỗi băn khoăn sau của nhân vật xưng “tôi” khi mới gặp Đoàn: “Đã đi bộ đội, đánh giặc ngon quá trời, còn đi học văn hóa làm gì?”. Còn ông Ba Trợn thì nói oang oang: “Giặc giã, Tây tà quanh năm, đói thấy ông bà ông vải, ở đó mà học văn hóa!”. Như đã thấy, câu trả lời dường như đã ẩn ngay sau câu hỏi đó rồi. Chỉ với điều kiện là cái nhìn của người đọc phải được nâng lên theo tầm nhìn của người viết. Tất cả dường như tập trung vào nhân vật thấm nhuần lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn là anh Chín. Không xuất hiện nhiều trong tác phẩm, nhưng anh là linh hồn của cái tập thể kết gắn thành một gia đình thân thiết kia. Khó khăn, thiếu thốn, sống chết ư? Hẳn nhiên mọi người đều hướng tới anh. Từ cái chung của tập thể tới cái riêng của mỗi người. Tưởng như, với anh, nghĩa là với trái tim, khối óc và tầm nhìn của anh, mọi chuyện sẽ đều được nhìn nhận và giải quyết một cách thấu đáo nhất, tối ưu nhất. Mà vấn đề lớn hơn cả là sự tồn tại của chính ngôi trường trong hoàn cảnh vô cùng ngặt nghèo. Người đọc chợt nhớ tới đôi mắt anh Chín đỏ bầm trong ánh lửa bùng lên từ ngôi trường khi vừa bị giặc thiêu đốt. Mới một năm mà trường đã bị đốt ba lần. Học chữ trong tình cảnh ấy phải tốn bao nhiêu mồ hôi, xương máu. Rồi thày, trò cùng xúm lại quyết dựng lại trường lần thứ tư chỉ trong một năm.

Có điều, cách thức nhìn nhận và giải quyết mọi vấn đề nảy sinh trong thực tế nghiệt ngã ấy của anh Chín đâu phải mang tính nhất thời. Con mắt anh trông xa, thấy rộng hơn nhiều. Đúng như ý nghĩ thường nung nấu trong anh: “Vài chục năm sau, gặp lại nhau, có lẽ chúng mình phải tự hỏi những ngày này đã làm gì cho các em, cho xã hội…?” Bởi, trước sau gì anh Chín vẫn nhất quan một ý nghĩ trung tâm: “Còn người còn của… Nhiệm vụ của các em bây giờ là phải sống, học, học và học!”. Câu nói vang lên như một mệnh lệnh sống còn. Nên nhớ, mệnh lệnh ấy nảy sinh trong một hoàn cảnh căng thẳng ra sao! Đến cái ăn để sống cũng không đủ. Một số học sinh vì đói đã làm liều. Ăn cắp quen tay như ngủ ngày quen mắt. Anh Chín buồn bã nói: “Cũng tại tôi có tính cả nể… Tôi thiếu thốn tình cảm… Người ta nói: gieo cái gì gặt cái ấy. Cũng tại tôi cả”. Anh trước hết nhận trách nhiệm về mình. Của một người thầy, lại là thầy hiệu trưởng. Rồi anh biến quyết tâm của mình thành quyết tâm của cảu tập thể: “Phải tìm cách kêu tụi nó trở lại. Không thì chết như chơi. Đi đêm có ngày gặp ma!”.

Làm thầy, biết bao đòi hỏi đi cùng biết bao thử thách. Anh Chín nghĩ: “Muốn làm thầy người ta, nào phải chỉ chữ nghĩa là đủ đâu… Còn phải tư cách, đạo đức, tấm lòng như thế nào nữa chớ…”. Vậy nên, “làm người thầy giáo tốt, thật là khó. Khó lắm”. Anh nói với đồng nghiệp của mình mà như tự nhủ mình vậy. Cũng không chỉ đồng nghiệp của một thời và với một xứ sở nào đó thôi đâu. Bạn đọc khó quên nhân vật Đoàn “điên điên khùng khùng muôn thuở” trong tập truyện. Em thật sáng dạ.  Bàn về nguyên cớ sinh ra thần đồng, Đoàn giải thích là do “bộ óc”. Đích đáng lắm chứ! Và quý, thật quý nếu đặt vào hoàn cảnh bấy giờ. Nhưng nếu Đoàn ỷ vào bộ óc và năng khiếu bẩm sinh thì Mười lại “cộng” cái trời cho ấy với “mồ hôi và nghị lực”. Vậy nên, trong lúc thiếu tài liệu mới để học, nhờ Mười nghiên cứu thêm mà thầy trò có cái để dạy và học. Tầm nhìn của nhân vật Chín ở đây rất hài hòa: “Hoàn toàn ỷ lại vào bộ óc và tài năng trời cho… mà lười biếng, kiêu căng, coi thiên hạ bằng rơm rác là chết cháy! Nhưng ngược lại, ai coi thường năng khiếu cũng là một cách chết!”. Cụ thể: môn văn Đoàn học vẫn trội, bài văn thường được chọn đọc mẫu cho cả lớp nghe. Nhiều người tán thưởng vì những trích dẫn cổ, kim, đông, tây có vẻ uyên bác và thông thái lắm. Nhưng, tiếc thay, những điều diễn ra trước mắt thì Đoàn thường lúng túng, viết không hay bằng Mười. Bởi vậy, với học trò nữ, bên cạnh việc học văn hóa, anh Chín còn chú trọng tới cả việc dạy những “đường kim mũi chỉ, công việc bếp núc”. Vai trò phối hợp của cán bộ bên Hội Phụ nữ huyện, như Thanh Trúc. Được đề cao. Anh nghĩ: “Công việc ấy ảnh hưởng đến đức tính công, dung, ngôn hạnh, đảm đang, hiếu thảo, thủy chung của người phụ nữ sau này”. Thật rõ cái mong mỏi vượt thoát khỏi những giới hạn của hoàn cảnh, vươn tới những yêu cầu chung của con người trong mọi trạng huống. Hạnh phúc không xa lạ đâu, mà thường nảy sinh từ đó!

Thế nhưng, có lẽ không ở đâu thấm thía cho bằng cách dạy đi cùng với cách học tiên tiến được nảy sinh từ rất sớm trong đầu óc của nhận vật Chín. Nhà văn Hoàng Văn Bổn viết tác phẩm này vào khoảng năm 1980, nghĩa là trước thời Đổi mới chừng 5,6 năm. Và nếu tính cho tới giờ thì trên 30 năm đã trôi qua. Vậy mà tôi vẫn thấy cách đặt vấn đề ở đây thật là mới mẻ. Câu chuyện vẫn xoay quanh nhân vật Đoàn. Em thông minh nên hay chất vấn lại thầy: “Hầu như bài nào cũng vậy, thầy giáo giảng qua là nó hiểu ngay, đôi khi nó còn cãi lý bắt bẻ với thầy”. Đáng nói là không ít lần em có lý. Thầy Sáu Tử nhiều lúc tự ái, cho em là vô lễ. Anh Chín lại bảo: “Có lẽ đây là một quan niệm mới về phương pháp sư phạm. Thời tụi mình đi học, người ta áp dụng một phương pháp giáo dục thụ động. Thầy như con chim mẹ, học trò như con chim con chư mọc lông, cứ nằm há mỏ cho mẹ đút mồi…”. Lời tâm tình hơn là tranh luận, tự thổ lộ với mình hơn là nói với người. Sức thuyết phục của những câu nói dạng này bao giờ cũng không hề nhỏ. Nhân vật Chín tiếp tục: “Anh Sáu có thấy không, hầu hết thế hệ mình đều sợ sệt, không có lòng tin ở mình, chỉ há miệng chờ sung. Sung không chín, không rụng, cứ nằm đấy chịu chết… Làm gì dám gánh vác nhiệm vụ xây dựng đời mình, xây dựng xã hội, cải tạo thế giới?”. Nhận thức ấy xuất phát từ niềm tin có sức mạnh vượt qua năm tháng: “Tôi tin rằng thế hệ các em hiện nay và thế hệ sau nữa, sẽ khác hẳn chúng ta. Có tình thương, có tri thức, coi lao động là chuyện tất nhiên… Ngay bây giờ, trong cuộc kháng chiến gian khổ này, phải xây dựng một nền giáo dục mới hoàn toàn”.

Muốn vậy, người thầy phải bằng mọi cách tự vươn lên để tự vượt mình. Ngưng trệ đồng nghĩa với thất bại. Có những cái không thể dựa vào ý chí mà được. Ví như: trình độ. Trong khi tài liệu bị Tây đốt hết, gây khong ít lo ngại cho nhiều giáo viên. Một ý nghĩ ánh lên trong đầu anh Chín, kỳ lạ đến khó ngờ: “Nếu Tây không đốt, cũng không sài được”. Không đúng thế sao? Và thế là anh Chín quyết định “lên đường sang Tây Trúc thỉnh kinh’ như thầy trò Đường Tăng trong Tây du ký vậy. Con đường tới rừng U Minh Cà Mau để học lên khi ấy vô cùng vất vả, khó khăn. Lại nguy hiểm, rất nguy hiểm. Nhưng, anh Chín cả quyết: “Thiên hạ đi được. Mình đi được. Con người ta sinh ra ở đời, xét tận cùng, hơn kém nhau ở cái tâm và cái trí”. Một quyết tâm nảy từ một ý chí sắt đá. Lẽ nào chỉ có giá trị vào thời ấy và trong hoàn cảnh ấy?

Vậy nên, tôi hiểu vì lẽ gì mà các thế hệ trưởng thành sau này luôn thương yêu, kính trọng và biết ơn những người như anh Chín. Còn nhớ, khi có dịp “liên hoan” trái gùi chín đỏ “ruột chia thành năm sáu múi giống như trái măng cụt, ngọt xớt”, Cúc nhỏ nhẹ ý tứ: “Để dành gửi về cho anh Chín”. Ấy là bởi đạo lý “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây” thấm sâu vào tim óc các em rồi. Có người thành thật hỏi: “Nhưng gùi này có phải do anh Chín trồng đâu?”. Cúc trả lời ngay gần như không cần suy nghĩ gì nhiều: “Nhưng anh Chín đã ươm trồng cái trường mồ côi của tụi mình”. Lời kết thúc cuốn sách vang lên những ý tưởng xúc động và thiêng liêng đến lạ lùng: “Tôi ngoảnh nhìn lại ngôi trường thân yêu, tự nhiên tôi khóc. Trời, lũ trẻ mồ côi mười bốn mười lăm chúng tôi, cái trường tiểu học kháng chiến huyện Tân Uyên của chúng tôi với lời thách thức sau hai ba chục năm, xem ai đúng, ai sai, ai thành người, ai thành khỉ…”. Mọi chuyện xem ra đã rõ. Một tầm nhìn xa rộng. Lại can hệ tới lĩnh vực đào luyện con người - cái quyết định mọi thành bại của một xã hội. Càng lùi xa, càng đứng cao mà nhìn thì lại càng thấy ý nghĩa của cuốn sách tưởng chỉ viết dành cho thiếu nhi như các tập sách mỏng mảnh này.

            Truyện Tuổi thơ trong làng của Hoàng Văn Bổn lại đi vào một khía cạnh khác của đời sống tinh thần ở con người: khai thác sức mạnh vô hình mà vô biên của một tác phẩm nghệ thuật khi chinh phục được trái tim và khối óc của lớp lớp công chúng thuộc nhiều thế hệ kế tiếp nhau. Khung cảnh mọi hoạt động của các nhân vật vào thời điểm giao thời: thực hiện hiệp định Genève, ở một vùng tạm phân cách: liền kề chiến khu Đ. Trong các nhân vật thiếu nhi xoay quanh nhân vật trung tâm là Hương như Hiền cụt, con nhỏ Quyên… người đọc không thể quên Phước Thạch Sanh. Em nổi lên chính vì cái tên gắn liện với nhân vật anh hùng mang tính huyền thoại ấy. Tác giả cho nhân vật Phước có cái vinh dự mở đầu tác phẩm bằng một đoạn văn đẹp như có ánh sáng âm thầm tỏa ra từ mỗi con chữ: “Trên một mỏm gò cao bên bờ sông Đồng Nai, cậu bé giàu trí tưởng tượng đứng nhón trên mười đầu ngón chân, mặt hơi ngẩng cao, căng ra và run rất khẽ theo từng tia nắng ẩn hiện trong đôi mắt rộng mênh mông”. Đoạn văn được viết tràn ngập tình cảm thương yêu, trìu mến của nhà văn. Chắc có nguyên cớ sâu xa riêng! Trong tâm tưởng cậu bé luôn ẩn chứa một cái xứ xa xăm, huyền bí mà rất thực, rất riêng nào đó. Phước kèm theo định danh Thạch Sanh xuất hiện như thế đó. Lý lẽ nhất quán: “Chết… Chỉ có ông Thạch Sanh mới cứu được”.

            Tập trung vào đôi mắt của Phước: Khi cùng mọi người dũng cảm bảo vê Hương: Đôi mắt vốn đã to của cậu giờ trở nên mênh mông, trông cậu càng tuấn tú, dĩnh ngộ… càng nhóm lên một thứ ánh sáng vô cùng kỳ lạ, soi mói, lạnh lùng và ảm đạm chẳng kah1c đôi mắt hoàn toàn của người lớn từng đau khổ, từng bị lừa gạt, từng bị thất vọng và từng hun đúc một ý nghĩ thầm kín nào đó thật mãnh liệt… Càng về khuya, khi con bìm bịp dưới sông Đồng Nai kêu từng hiệp gọi thủy triều, khi đàn dế khua cánh gáy tỉ tê ngoài hiên nhà, hai vệt ánh trăng pha sương mù lạnh lẽo cũng rón rén bò lên giường, mon men trên ngực và soi vào đôi mắt cậu, cậu đắm đuối nhìn hai vệt ánh sáng trăng huyền ảo ấy, đơi mắt hửng sáng trong hạnh phúc ngập tràn. - Cậu bé Phước ngước đôi mắt run sợ theo dõi từng nét thay đổi trên mặt, trong đôi mặt đẫm lệ của Hương. Giờ đây cậu bé ấy sẵn sàng đem đổi tất cả cuộc đời của nó chỉ để lấy lại sự tỉnh táo bình thường trước đây của chị Hương nó… Đây là giờ phút thử thách cao độ lòng tin của em, sự thử thách thầm kín giữa những người thân của em và ông Thạch Sanh của em”.

               Hương bị giam hãm trong nhà tên xã trưởng Ngô Kỳ: “Càng ngày Hương càng hóe hắt, cành nhớ thương đám trẻ, nhớ cánh đồng, mùi cỏ, dòng sông”. Phước biết tin này, quyết định dùng tiếng thơ Thạch Sanh của mình để an ủi, trị bệnh đau buồn của Hương. Cậu đợi đến giữa trưa, một mình trèo lên ngọn bưởi ngoài bờ sôn ngâm thơ Thạch Sanh. Cậu lựa những đau khổ của nàng công chúa Quỳnh Nga bị giam hãm dưới hang sâu mà ngâm với niềm tin chân thành rằng chị Hương của cậu sẽ phấn chấn, và sẽ khỏi bệnh… Tiếng thơ rắt rắt của cậu theo gió bay vào nhà giam Hương. Giữa cơn mê man bất tỉnh, Hương bỗng như nhận ra đây không phải là tiếng thơ mà tiếng sóng rì rầm của dòng sông Dồng Nai, theo tiếng gió từ chiến khu Đ bên kia sông bay vào. Lạ thay, chính tiếng thơ này đã làm Hương tỉnh lại. Chậm một chút, Hương ngột ngạt, cô đơn không chịu nổi đã khẽ thốt lên: “Ngâm lên, em Phước”… “Tiếng thơ Thạch Sanh vang lên như tiếng đồng quê khi chiều xuống, tiếng đàn trâu gõ móng về làng, tiếng chéo khuấy nước ngoài dòn sông, tiếng các bà mẹ ru con trên võng…” – Đoạn trữ tình ngoại đề ngọt ngào lan tỏa. Kẻ thù tìm cách “bóp cổ” tiếng thơ đó. Vì, nói như Từ Khiêm: “Thằng nhỏ ngâm thơ đó, cả làng cùng nghe, có phải riêng con Hương nghe đâu?”.

                 Trên ngọn bưởi sát mé sông, cậu bé Phước gồi vắt vẻo ngâm thơ. Giọng thơ của cậu đã khản đặc nhưng chứa chan tin yêu, vô cùng tha thiết. Chú đang ngâm tới đoạn Thạch sanh xuất hiện, tay rìu, tay cung nỏ, đón khố đánh nhau với chằn tinh thì bị bỗn một tiếng súng nhỏ gọn vang lên… Một nhánh bưởi trúng đạn rợt xuống đầu. Phước giật mình, miệng còn há to ngâm thơ. Giống như con dế mèn đêm khuya canh vắng lên miệng hang ngắm trời, mây, trăng, nước, phồng cánh gáy say sưa. Đó là giờ phút thoải mái, đáng sống nhất của nó. Ít ra nó cũng ban cho đời tiếng gay thanh cao của nó, cám ơn ngọn cỏ từng nuôi nó, cám ơn mảnh đất cho nó cái hang trú ẩn. Đến khi có một lưỡi dao xiên luồn phía dưới miệng hang, bịt đường sinh sống, nó bàng hoàng tự hỏi: “tôi có làm hại ai bao giờ, tôi chỉ gáy, tôi chỉ ca hát giúp vui cho đời, tại sao lại hại tôi, tại sao lại muốn giết tôi”.

- Lời của ông Tám: “Dân làng Bình Long đất Đồng Nai mình ai mà không biết, không thích anh hùng Thạch Sanh”. - Đúng như lời nói chậm rãi của ông già: “Phải, dân Đồng Nai lớn lên cả bằng những lời ru, cả bằng chuyện Thạch Sanh ấy. Cho nên chúng tôi trọng đạo nhân nghĩa, đạo làm người. Chúng tôi căm ghét cái quân Lý Thông, cái bọn chằn tinh, gấu ngựa…”.

Có thể rút ra điều gì từ những gì đã được phân tích, diễn giải ở trên?

-          Các tác phẩm viết cho thiếu nhi của nhà văn Hoàng Văn Bổn nằm trong hai nguồn cảm hứng chính làm nên tầm vóc của văn nghiệp ông: quê hương và cách mạng.

-          Viết về bất cứ điều gì vẫn một trách nhiệm cao của một nhà văn luôn ý thức được sứ mệnh thiêng liêng của người cầm bút: tất cả là vì con người.

                                                                     *

Đọc hồi ký Một kỷ niệm về Thanh Tịnh của nhà văn Hoàng Văn Bổn chắc không ai quên được dòng tâm sự sau: “Tuổi trẻ khó lòng hiểu được tuổi già. Để đến khi hai đường âm dương cách trở, mới ngồi đấy ăn năn, sám hối”. Tôi và có lẽ các bạn đồng nghiệp của tôi ở Đồng Nai, chắc không đến mức như thế, nhưng đôi lúc vẫn cứ thấy cồn lên một nỗi áy náy tự sâu thẳm trong lòng. Sao không sớm viết những gì thật sự tâm huyết về ông. Cho xứng đáng với đóng góp lớn lao của ông cho cuộc đời và cho văn chương? Cho xứng đáng với tình cảm trân trọng, biết ơn của thế hệ chúng tôi luôn dành cho ông? Chỉ đến khi đọc những lời thành thật trong nỗi xót xa, nhớ tiếc của ông dành cho Chế Lan Viên, tôi mới cảm thấy phần nào khuây khỏa: “… ‘Chỗ các anh’ giờ đã đông vầy: Bao nhiêu tinh hoa văn nghệ, bao nhiêu con người cự phách đã kéo đến đó, toàn bậc tiên phong…”. Xin ông mãi mãi yên nghỉ thanh thản ở thế giới bên kia. Vì có lẽ giữa lúc này đây, ông đang quây quần cùng với những bậc tinh hoa, anh kiệt ấy đấy! Và, xin được thành thật mà nói, với tất cả những gì ông đã hết mình cống hiến cho đời và cho nghề, Hoàng Văn Bổn hoàn toàn xứng đáng thuộc về thế giới ấy. Chẳng phải, sinh thời ông từng thầm nhắc câu nói của Chế Lan Viên: “Cái câu ‘tồn tại hay không tồn tại’ anh thường dặn bảo tôi mỗi khi có dịp ngụ ý rằng mọi người rồi phải chết, tồn tại là cái khác, là tư tưởng tâm hồn, cách sống và tác phẩm”. Chúng tôi, những nhà văn thuộc thế hệ sau, xin khắc cốt ghi xương lời nhắn gửi thấm thía ấy từ lớp lớp các nhà văn đi trước…

 

                                                                                        Đà Lạt, 2/4/2012