Trả lời phóng viên Văn nghệ Vũ Nguyên

 

  • Xin chào PGS-TS, Nhà phê bình Phạm Quang Trung. Người ta nói: “Muốn yên thân thì chớ có đi vào phê bình. Cái nghề ấy bạc bẽo lắm!” Anh nghĩ gì về câu nói cửa miệng này?
  • Câu hỏi của chị khá là nhạy cảm đấy. Riêng tôi nghĩ, ở đời, nghề nào cũng thế, đều có mặt này mặt kia cả. Phê bình văn chương cũng vậy thôi! Nói về mặt dở, người đời hay bảo dấn thân vào phê bình tất phải chịu thất thiệt bởi ba lẽ: khó, khổ và bạc. Khó khăn và khổ ải thường đi liền với nhau. Riêng về sự bạc bẽo mà chị vừa nhắc tới, thì ít có nghề nào trên đời có thể sánh được với nghề phê bình. Nếu so với sáng tác thì có hai biểu hiện dễ thấy nhất của sự bạcMột là, nghề này rất khó thành đạt, thành danh lại càng khó hơn. Nên chi những tên tuổi sáng chói trong lĩnh vực phê bình thường ít hơn sáng tác rất nhiều. Chẳng hạn, cả thế kỷ XX, biết bao nhà văn, nhà thơ nổi danh được nhiều người thường nhắc tới. Trong khi nhà phê bình tiếng tăm thì nào có mấy ai. Hoài Thanh là một tên tuổi hiếm hoi trong số ấy. Hai là, dầu đều là những người cầm bút nhưng các nhà sáng tác lại hay có tâm lý xem thường các nhà phê bình lắm kia. Vì tác nghiệp phê bình liên quan đến chuyện khe chê mà. Chê, tôi nói là chê có lý có lẽ ấy, hẳn nhiên dễ mua thù chuốc oán rồi. Khen, cũng không vì thế mà được xem trọng hơn đâu. Các nhà văn vẫn thường dè bửu: “Cái loài tầm gửi” ấy, hay ho cái nỗi gì! Đằng nào thì cũng rất đáng nản. Cứ như đứng trước bức tường, vừa cao vừa trơn: leo qua thì khó, mà lùi lại cũng chẳng xong. Tuy nhiên, chẳng lẽ lại thoái thác. Trời chọn người. Mà mình cũng đã chót nhận rồi. Vả lại, chẳng lẽ một nền văn chương phát triển lành mạnh lại chỉ có sáng tác. Tránh sao khỏi khập khiễng, phải không chị?
  • Theo quan niệm của anh, chức năng đích thực của phê bình là gì?
  • Trước nay có nhiều quan niệm khác nhau về chức năng của phê bình văn chương. Có thể dễ nhận thấy chức năng của phê bình bộc lộ ở bề mặt. Đó là sự phát hiện, rồi cổ suý những giá trị mới vừa nảy sinh trong đời sống văn chương. Biểu hiện ở sự nhận biết, phân tích, đánh giá những tác phẩm mới, những cây bút mới, thường là trẻ cả về tuổi đời và tuổi nghề. Rất cần sự tinh tường ở con mắt nhìn. Nhưng cần hơn là sự nhạy bén, trẻ trung của con tim. Nhưng đó chỉ là chức năng hiển lộ dễ thấy ở bề mặt của phê bình. Bề sâu, quyết định và hệ trọng hơn, lại nằm ở khả năng biết nhận ra yêu cầu thẩm mỹ ở dạng thức lý tưởng của dân tộc và thời đại, để qua và từ những hiện tượng văn chương cụ thể nhằm định hướng sáng tạo, thúc đẩy dòng chảy của đời sống văn chương đi về phía trước. Tôi nghĩ cái ý nghĩa bề sâu khó nhận ra này của phê bình mới đáng kể. Không hoạt động văn chương nào có thể thay thế được nó là vì thế. Đó cũng là chỗ đáng phàn nàn nhất của đời sống phê bình hiện nay.
  • Vậy tình trạng phê bình văn học “trăm hoa đua nở”, ai cũng có quyền thẩm bình, nhận định như hiện nay, theo anh, đã tạo ra những cơ hội và đặt ra những nguy cơ gì cho sự phát triển lành mạnh của đời sống văn học nước nhà?
  • Đúng là hiện trạng của phê bình khá là lộn xộn. Rất nhiều chuyện đáng bàn. Nhiều người có trách nhiệm đã lên tiếng. Phần lớn là những tiếng nói khẩn thiết và trách nhiệm cả. So với nhu cầu phát triển lành mạnh của văn chương dân tộc thì tình trạng đó của phê bình vừa có mặt thách thức lại vừa có mặt cơ hội. Chúng đan xen nhau. Nguy cơ thì dễ thấy hơn. Ai cũng có quyền bình luận văn chương cả nên dễ dẫn tới chuyện lệch và loạn chuẩn. Tôi muốn nói tới chuẩn thẩm mỹ tiến bộ mà bất cứ thời đại và dân tộc nào cũng cần phải hướng tới ấy. Nó uyển chuyển và tương đối, ai cũng biết thế, nhưng không thể không xác định, nếu ta còn nghĩ tới một đời sống thẩm mỹ tích cực mà con người và xã hội cần nương tựa. Tuy nhiên, như chị nhận xét, tình hình không chỉ có mặt tiêu cực thôi đâu. Cơ may dễ thấy nhất là khi có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái chiều nhau, trước một hiện tượng văn chương mới xuất hiện thì trong sự phức tạp lại phát lộ sự đa dạng. Vẻ giàu có của giá trị văn chương mới có điều kiện phát tiết. Tôi nghĩ đây là cái thiếu nhất trong đời sống văn chương của dân tộc ta trong suốt một thời gian dài dằng dặc. Vậy nên mới cần phải đổi mới. Một trong những mục tiêu của công cuộc đổi mới văn chương - văn học là sự phong nhiêu. Đơn điệu trong nghệ thuật bao giờ cũng dẫn tới tẻ nhạt vốn là kẻ thù của mọi sự sáng tạo đích thực xưa nay.
  • Vậy trách nhiệm của các nhà phê bình chuyên nghiệp trước sự chuyển động phức tạp, đa dạng của đời sống văn học hiện nay ra sao?
  • Chị có nhắc tới các nhà phê bình chuyên nghiệp, nghĩa là những người trong nghề, phải chịu trách nhiệm chính về tình trang yếu kém của phê bình hiện nay là phải lắm! Cũng dễ đi tới thống nhất về mặt giải pháp là phải bằng mọi cách, bằng mọi giá nâng cao tính chuyên nghiệp của phê bình văn chương lên thôi! Tính chuyên nghiệp bao giờ cũng bộc lộ ở hai phương diện chủ yếu: trình độ, kỹ năng và thái độ, trách nhiệm đối với nghề. Nếu chỉ đòi hỏi riêng ở yếu tố sau cũng có lắm điều để nói. Tháng tư vừa rồi, tôi có tham dự Hội nghị nâng cao chất lượng phê bình văn học ở Hà Nội do Hội đồng Lý luận Phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Trong tham luận trình bầy tại Hội thảo, tôi nghiêm túc và thẳng thắn chỉ ra những khiếm khuyết đáng kể nhất của giới phê bình là thờ ơ, lười nhác và né tránh. Chị chắc cũng có thể chia sẻ với tôi về điều đó. Nhức nhối lắm! Nhưng là một sự thật, không thể tránh né được. Vậy nếu nói đến trách nhiệm ở đây thì có lẽ không gì khác hơn là cùng động viên nhau vượt qua những hạn chế ấy thôi! Tôi nói “động viên nhau” là bởi có quá nhiều nguyên do cả trong và ngoài văn chương rất đáng cảm thông với họ lắm đấy. Chỉ có người trong cuộc mới thấm, chị ạ!  
  • Xin đồng tình với anh. Có một thực tế là, trong khi những người sáng tác trẻ đã trở thành một đội ngũ hùng hậu thì số lượng những người trẻ viết phê bình vẫn chỉ đếm trên đầu ngón tay, chưa thể xem là một “đội ngũ”. Sự “vắng bóng” ấy của họ, những người làm phê bình trẻ, theo ý anh có nguyên nhân từ đâu?
  • Kể cũng lạ thật, sự thiếu vắng những cây bút phê bình văn chương trẻ ấy mà! Hàng năm, như nhiều người đều biết, số tiến sỹ, thạc sỹ ngành Ngữ văn do các trường, các viện chuyên sâu đào tạo là khá nhiều. Riêng trường Đại học Đà Lạt, nơi tôi đang giảng dạy, năm học 2011 - 2012 này sẽ có chừng trên 20 luận văn Cao học được bảo vệ. Ở một mức độ nhất định, có thể xem họ là những chuyên gia văn học được rồi. Vậy mà số người làm phê bình văn chương trẻ vẫn cứ hiếm. Cố nhiên, không phải cứ có bằng cấp cao về văn học là đều có thể hành nghề phê bình được đâu. Phải thoả mãn nhiều yêu cầu khác nữa. Ai cũng đều biết thế! Nhưng muốn làm phê bình thì lại không thể không học hỏi đến nơi đến chốn về nghề văn. Vậy cái khâu mắc ở đây nằm ở chỗ nào? Theo tôi, chính là ở những tấm gương tày liếp của những người đang hành nghề phê bình chúng tôi. Cái nghề vừa khó, khổ và bạc như đã nói. Lại còn bị ám ảnh bởi cái nghèo nữa. Liệu có người sống được bằng nghề phê bình chăng? Một khi có bằng cấp cao về văn học, người ta dễ nghĩ đến các nghề gần gũi khác, như làm báo của chị chẳng hạn. Nhu cầu báo chí trong xã hội đang khá dồi dào. Cái chính là với nghề làm báo, nếu có tài, có tâm và có duyên, thì ít khi rơi vào cảnh nghèo khó, phải không chị?
  • Vâng. Anh nói cũng có lý. Nhìn chung, những vấn đề được bàn thảo trong cuộc trò chuyện hôm nay rất đáng để chúng ta phải tiếp tục suy nghĩ. Mong rằng khi vai trò của lý luận phê bình được nâng cao thì chất lượng biên tập mảng văn học ở các tờ báo ngày càng được chú trọng, để có thể mang đến cho bạn đọc những bài viết chất lượng hơn. Xin cảm ơn nhà phê bình về cuộc trò chuyện này.

                                                              

                                                                                                                                                                Đà Lạt, tháng 7/2012