Thư trả lời anh Nguyễn Huy Canh 2

Lời thưa: Chào các bạn - những người đã mở rộng lòng bước vào trang nhà thân thuộc của Phạm Quang Trung. Xin thành thật cáo lỗi ngay vì tôi có hứa với các bạn là cuối ngày hôm 27/02, Phần 2 bức thư trả lời anh Nguyễn Huy Canh sẽ chính thức được post lên mạng. Tuy nhiên, từ sáng tới 16h ngày này, toàn bộ khu nhà tôi ở hoàn toàn mất điện. Cứ như bị trói tay bó chân không bằng. Mới hay, cái ông có tên là EVN gớm thật! Chả là cuối Phần 1 của lá thư ngỏ, tôi có nêu ý kiến của bà Phạm Chi Lan chê bai sự độc quyền của Tổng công ty Điện lực Việt Nam với sự tán đồng sâu sắc, cố nhiên. Thế là bị trừng phạt ngay tắp lự. Đến khi có điện thì internet không thể vào nổi. Bao trùm lên cả một khu vực rộng lớn… Hóa ra vì tôi mà mạng công cộng cũng chịu vạ lây. Quả là tai bay vạ gió! Ôi, sợ quá, cứ như nỗi kinh hãi của nhà thơ nọ trước viên Tướng công an Hữu Ước vậy. Ấy là tôi mới nghe hơi nồi chõ! Bản thân tôi thì không tin. Còn nếu bạn muốn kiểm tra thì cứ nhấn chuột vào đây sẽ biết… http://khoivudongnai.vnweblogs.com/post/2228/282318#1329791

Giờ thì xin đáp lại tấm thịnh tình của anh Canh và các bạn đây.

 

                                  Đà Lạt, chủ nhật ngày 27 tháng hai năm 2011

 

 Anh Nguyễn Huy Canh kính mến!

Thưa anh,  

Bây giờ, tôi xin phép bàn tới trọng điểm thứ hai trong ý kiến của anh chung quanh lời dẫn sức mạnh chở thuyền và lật thuyền của dân trong quan niệm của Nguyễn Trãi ở bài viết của tôi. Toàn văn đoạn này được anh viết như sau: “Nhân đây, tôi cũng xin mạo muội có ý kiến với tiến sỹ Phạm Quang Trung, câu nói ‘lật thuyền cũng là dân…’ là tư tưởng của Tuân Tử. Tư tưởng này của ông rất gần với Mạnh Tử. Sau này Nguyễn Trãi có nói đến cũng chỉ là sự nhắc lại ý của cổ nhân thôi. Viết đến đây tôi lại nhớ đến lời nhận xét của ông Nguyễn Trần Bạt về trí thức nước ta (dù cay đắng và nhiều phũ phàng) chỉ biết nói và viết lại những điều đã có sẵn. Nguyễn Trãi với tư cách là một nhà tư tưởng cũng không phải là trường hợp ngoại lệ - PQT nhấn mạnh. Chúng ta đều biết những tư tưởng lớn đều là tài sản của nhân loại, không nên vì ‘nước lạ’ mà bỏ đi rồi nhận là của mình. Triết gia Tuân tử không có lỗi gì về việc này…”. Hết đoạn trích.

Thực ra, thưa anh, trong bài trả lời Trần Mạnh Hảo, tôi chỉ muốn xác định cái điều mà anh ấy lên tiếng chất vấn chung quanh tính xác thực biểu hiện ở “sự trích dẫn rất là hư cấu” của tôi. Chỉ để tuân thủ đúng luật chơi “có hỏi thì có thưa” thôi mà. Anh Hảo cho việc tôi nêu câu nói của Nguyễn Trãi chở thuyền và lật thuyền là đã “trích sai sách” mà theo anh là nghiêm trọng và rõ rành rành như ban ngày. Đó phải bảo là câu của Tuân Tử, nhưng do tôi mắc bệnh “đọc sách nhiều quá nên đã lấy râu ông nọ xọ cằm ông kia”. Anh muốn kể công lật tẩy sự lẩm cẩm của tôi và tri hô lên Hóa ra cái tay này dốt nát chứ không thông minh gì, thế mà mang danh PGS - TS kia đấy! Vậy là, bất đắc dĩ tôi phải đưa Nguyễn Trãi toàn tập ra, để chứng minh nhà tư tưởng xuất sắc người Việt đã nói ở đâu, trang nào, dòng nào. Quả tình, tôi cũng có nghe biết như anh và anh Hảo rằng Tuân Tử đã nói câu “lật thuyền cũng là dân…”. Nhưng thiết nghĩ, vị Bách gia Chư tử này không thể “độc quyền” về phát ngôn tư tưởng được, anh ạ! Trong lĩnh vực ta đang bàn, không ai có thể “độc quyền” hết, dù họ thông thái, giỏi giang hơn người đến thế nào. Trong kho tàng tri thức cũng như tư tưởng sâu xa, quảng bác của nhân loại thực ra có không ít những điều mà nhà nghiên cứu Đỗ Văn Hỷ ở ta từng gọi là sự “ngẫu hợp”, nghĩa là sự gặp gỡ tự nhiên của những bộ óc lớn thuộc mọi dân tộc và mọi thời đại trên nhiều phương diện. Bởi lẽ, nhận thức của con người có thể rất khác nhau về cách thức song về mục đích và bản chất lại cơ bản gần gũi nhau. Điều này phù hợp với nhận thức của người xưa: “Bế môn tạo xa, xuất môn hợp quỹ” (Đóng cửa tạo xe, ra cửa vừa đường). Đã vậy thì không ai có quyền cản trở anh hay tôi tìm tới tư tưởng của Tuân Tử hay Nguyễn Trãi cả. Riêng Nguyễn Trãi, thì như anh đã biết đấy, đó là một trong ba danh nhân Việt Nam hầu như được cả thế giới biết tới và xem trọng. Tôi không phải là một ngoại lệ hiếm hoi.

Tuy nhiên, tôi muốn bày tỏ với anh một nguyên do khác, riêng với bản thân tôi, phải thừa nhận là nghiêm chỉnh và thiêng liêng hơn nhiều. Anh biết không, tôi là một người luôn đề cao tinh thần dân tộc. Như nhiều trí thức khác, tôi yêu, quý và thương dân tộc Việt lắm. Bởi một lẽ giản dị là: nếu không có tổ tiên thì làm sao có mình. Điều này dường như quán xuyến toàn bộ công việc trau dồi, đào luyện và trước tác nữa từ trước tới nay của bản thân tôi. Xin được “khoe” với anh: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội vừa cho ra đời tập sách dày 444 trang của tôi có tên Quan niệm văn chương cổ Việt Nam – Từ một góc nhìn (Nếu bạn nào cần mua ủng hộ xin liên hệ Công ty Truyền thông Hà Thế
Địa chỉ: 34b, ngách 47, ngõ 278, Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội). Cũng xin kể anh nghe, vào năm 1981, khi sang làm nghiên cứu sinh ngành Văn học ở Liên Xô (cũ), theo thông lệ, tôi buộc phải chọn đề tài dưới sự hướng dẫn của giáo sư người Nga. Nghĩa là bạn mạnh chỗ nào thì ta phải học chỗ nấy. Không có quyền chọn lựa. Cho dầu, giáo sư hướng dẫn tôi là một chuyên gia vào loại hàng đầu của ngành lý luận văn chương Xô Viết khi đó (Ông là Gulaiev, Chủ nhiệm Bộ môn Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Kalênin, tác giả bộ Lý luận văn học nổi tiếng đã được dịch sang tiếng Việt vào năm 1982) nhưng đầu óc của ông, theo ý nghĩ của tôi, cũng không vượt thoát khỏi giới hạn của tư tưởng nước lớn. Vì thế, anh biết không, tôi phải tìm hiểu toàn những vấn đề văn học có thể quan trọng thật nhưng vốn nảy sinh từ xứ người. Rất xa lạ nên thiếu hẳn hấp lực. Đặc biệt, cái động cơ xuất phát từ đời sống thực làm nên chất sống thực vốn là đòi hỏi cơ bản của một công trình khoa học có giá trị rất là hạn chế. Mà thiếu sự thôi thúc nội tâm thì chưa làm cũng có thể biết trước hiệu quả nghiên cứu sẽ thế nào rồi. Những ngày cô đơn ở xứ người, tôi cứ phấp phỏng một nỗi trăn trở: Sao việc của nước mình còn ngổn ngang, có làm đến hết đời cũng không xuể, mà lại lạc sang xứ lạ, tìm hiểu những vấn đề của xứ lạ để làm gì? Mà thú thật, dầu có gắng sức làm thì thành tựu thu được sao so sánh nổi với chính người họ làm được kia chứ! Chẳng khác gì người Mỹ sang ta nghiên cứu Truyện Kiều, có tận tụy miệt mài suốt đời cũng không thể nào bằng kết quả nghiên cứu của các học giả ta vậy. Cho nên, khi được vinh dự kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam, tôi có viết một đoạn trong tự thuật văn chương nhằm bổ sung tư liệu đưa vào cuốn Kỷ yếu Hội in lần thứ 2 năm 1997 thế này: “Nhiều mâu thuẫn sâu xa và triền miên làm nên chân diện Phạm Quang Trung với tư cách là một cây bút lý luận - phê bình văn chương. Trước hết, không ít cái trong anh được rút tỉa từ di sản văn chương của nhiều vùng đất khác nhau trên thế giới, thế nhưng Phạm Quang Trung lại cả quyết rằng: chẳng cứ gì nhà văn, mỗi nhà phê bình suốt đời cũng chỉ viết về một cuốn sách duy nhất. Với anh, cuốn sách ấy có tên là dân tộc. Có lẽ vì vậy mà anh luôn dành cho các nhà dân tộc chủ nghĩa những cảm tình sâu sắc, cho dầu về phương diện nhận thức cũng như về phương diện tư tưởng anh không hoàn toàn tán đồng với họ. Lý lẽ anh đưa ra nghe khá ngộ: việc của xứ sở mình làm hết đời cũng không xuể, lấy sức đâu quan tâm đến việc của người, trừ những gì thật cần cho chính mình. Tập tiểu luận lớn nhất của anh chắc sẽ có tên Văn chương – Từ cội nguồn dân tộc”.  

Tôi là thế đấy, anh Canh ạ! Bởi vậy, tôi mới chủ động dẫn lời của Nguyễn Trãi chứ không phải người xứ khác, nhất lại là người ở “xứ lạ” nằm ở phương Bắc. Nói nhỏ với anh, không hiểu sao, chưa bao giờ tôi ưa cái anh bạn núi liền núi, sông liền sông ấy cả. Hẳn nhiên, đúng như anh nói, ở đây “triết gia Tuân tử không có lỗi gì”. “Lỗi lầm” nếu có là chỉ tại cái tay “lịch sử” khó hiểu và khó bảo kia. Nó chẳng mấy khi chịu nghe ai đâu, nhất là ý nguyện chính đáng xuất phát từ trái tim của những người tử tế, lương thiện như anh và tôi đây. Nên, rất mong anh hiểu cho nỗi lòng uẩn súc, lắm “khúc” nhiều “nhôi” của tôi. Thêm vào đó, xem ra anh đọc chưa thật kỹ để hiểu ngầm ý của tôi thì phải. Không ngẫu nhiên mà tôi nhắc tới nước lạ để liên tưởng tới người lạ trong tên bài mới xuất hiện của Trần Mạnh Hảo viết về Hội thề của nhà văn Nguyễn Quang Thân đâu, anh ạ. Ở đời, càng sống lâu tôi càng nghiệm ra, lắm người giữa nói và làm cứ trái ngược nhau thế nào ấy. Ví như, một đằng anh Hảo hô hào chống kẻ thù ngàn đời phương Bắc, thơ anh khí thế ngút trời, nhưng phía khác, trong luận bàn văn chương, anh Hảo lại chỉ muốn nhắc tới Tuân Tử, Mạnh Tử… Những người như vậy thật đáng ngờ, tôi không thể tin họ nổi. Vâng, ý tôi ẩn đằng sau các con chữ là thế! Cái mà một nhà lý luận văn chương nước ngoài đặt tên rất đúng là “dung lượng âm” trong tiếp nhận nghệ thuật mà một người đọc tinh hoa không nên bỏ qua.

Bây giờ, tôi muốn bàn kỹ hơn, sâu hơn tới ý nghĩ, đúng hơn phải gọi là quan niệm, của anh bộc lộ qua đoạn văn sau: “…Nguyễn Trãi có nói đến cũng chỉ là sự nhắc lại ý của cổ nhân thôi. Viết đến đây tôi lại nhớ đến lời nhận xét của ông Nguyễn Trần Bạt về trí thức nước ta (dù cay đắng và nhiều phũ phàng) chỉ biết nói và viết lại những điều đã có sẵn. Nguyễn Trãi với tư cách là một nhà tư tưởng cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Chúng ta đều biết những tư tưởng lớn đều là tài sản của  nhân loại, không nên vì ‘nước lạ’ mà bỏ đi rồi nhận là của mình”. Có lẽ tôi chỉ phần nào tán thành với ý sau cùng của anh thôi. Đúng là ta không nên khước từ di sản tư tưởng quý báu của nhân loại dù nó được sinh ra và đến từ đâu. Cần xem đó là tài sản tinh thần chung, nếu quay lưng chối bỏ thì chỉ thiệt thòi cho bản thân, không thể nào khác được. Tuy nhiên, về đại thể, tôi lại hoàn toàn không đồng ý với anh. Dựa vào ý kiến của ông Nguyễn Trần Bạt, anh đánh giá trí thức nước ta nhìn chung “chỉ biết nói và viết lại những điều đã có sẵn”, và riêng Nguyễn Trãi thì “với tư cách là một nhà tư tưởng cũng không phải là trường hợp ngoại lệ” là hoàn toàn không thuyết phục. Mà sao anh cứ dẫn hết Trần Mạnh Hảo lại đến Nguyễn Trần Bạt làm gì? Trong bàn luận, về bất cứ vấn đề nào cũng thế, khi cần ta có thể dẫn ý kiến của người này người kia coi như là điểm tựa cho kiến giải của mình. Nhưng phải xem họ là ai chứ? Chỗ tựa không vững thì luận điểm khó lòng mà đứng vững. Dựa theo kinh nghiệm đáng tin cậy của nhiều người, khi đọc một bài nghị luận, bao giờ tôi cũng xem họ dẫn lời của ai? Riêng về ông Nguyễn Trần Bạt, tôi có một kỷ niệm nho nhỏ thế này. Tôi có một người bạn vong niên tên là Bùi Xuân Anh, hơn tôi chừng mươi tuổi, nguyên là giảng viên môn Hóa Trường Đại học Đà Lạt giờ chuyển về Thành phố Hồ Chí Minh làm tại một trường đại học tư thục. Dạo năm kia, anh trở lại Đà Lạt có ghé thăm tôi. Trong câu chuyện thân tình, anh luôn tỏ ý trầm trồ thán phục tên tuổi một nhà bình luận thời cuộc đang nổi lên như cồn là ông Nguyễn Trần Bạt. Quả thực lần đầu tiên tôi nghe tới tên ông. Tôi nghĩ, quái lạ, Nguyễn Trần Bạt là ai nhỉ? Sao ông anh mình tâng lên đến tận mây xanh thế nhỉ? Vậy là, ngay hôm ấy, tôi vào mạng, đọc một số bài nghị luận của ông Bạt. Xin nói thật cùng anh là tôi không thể khâm phục ông Nguyễn Trần Bạt như anh Bùi Xuân Anh của tôi được. Vì sao vậy? Thứ nhất là ý tưởng trong các bài viết của ông không hề mới. Chẳng hạn, cái ý anh dẫn ra kèm theo vẻ tâm đắc ở trên, có người nói rồi, lâu rồi mà là người mang tên tuổi sáng láng kia. Đấy là giáo sư Dương Quảng Hàm. Trong cuốn sách khá nổi tiếng Việt Nam văn học sử yếu từ rất sớm giáo sư đã cho rằng: “Trong nền học thuật của ta, phần ‘hấp thụ’ của người thì nhiều mà phần ‘sáng tạo’ của mình thì rất ít”.  Thứ hai, và điều này mới đáng bàn, là nó không thật đúng. Tôi xin phép đi sâu vào lĩnh vực tư tưởng văn chương cổ Việt Nam - lĩnh vực tôi tương đối am hiểu, để xác nhận một quan điểm hoàn toàn khác ông Nguyễn Trần Bạt mà anh đã tin theo đến như không còn gì đáng hoài nghi nữa.

Cần thấy, khuynh hướng tự chủ trong học hỏi người ngoài quán xuyến trong suy nghĩ, hành động của không ít bậc thức giả nước ta thời xưa. Ông cha ta thường chú trọng tới cái gọi là “xuất nhập pháp” khi đọc sách. Cần biết đi vào sách, cũng cần biết đi ra khỏi sách. Cần biết tiếp thu tinh túy của sách, cũng cần biết chuyển hóa thành cái của mình. Có thể không phải ai cũng nghĩ và làm được như vậy. Với Nguyễn Tư Giản thì “văn của Thánh nhân là để chở đạo”, còn “văn của văn nhân là để luận đạo”. Đạo trong cách hiểu của nhà Nho họ Nguyễn là Ngũ luân, Ngũ thường chứa trong Kinh Truyện. Tuy nhiên, với Lê Quý Đôn thì khác. Ông xác định: “Nên đem lời và ý của cổ nhân mà đúc lại cho mới, chứ đừng bước theo lối cũ” (Điều 10 – Văn nghệ). “Sư kỳ ý, bất sư kỳ từ” là phương châm đọc sách thuận lý nhất nên thuyết phục người đời nhất. Như vậy mới có thể đưa ra được cái mới, bổ sung và phát triển cái đã có. Lê Hữu Trác không mấy hài lòng với câu nói của cổ nhân: “Đọc sách nắm được cái nghĩa là khó”. Theo ông, “đưa ra được những phát kiến mới ngoài cái lý thuyết đó, mới lại càng khó”. Lê Hữu Trác trở thành ông tổ của nền y học dân tộc chính bằng con đường này. Sau khi “tổng hợp thành quy tắc” từ những “câu cách ngôn của hiền triết đời xưa”, qua những “chứng bệnh lạ”, Lê Hữu Trác đã phát hiện ra “lý thuyết” nằm ngoài những “lời lẽ” đã được đọc. Còn Nguyễn Văn Siêu lại từng hoài nghi câu nói của Hàn Dũ bên nước Tàu: “Đào Tiềm và Nguyễn Tịch chưa tránh khỏi nhược điểm, nhưng cũng là sự bất hạnh của hai ông; nếu họ được gặp Khổng Tử cùng ngao du với người như Nhan Uyên và Tử Lộ, thì đâu đến nỗi phải gửi gắm nơi chua cay, ẩn lánh nơi tăm tối”. Cứ làm như được gặp Thánh nhân hay học trò của Thánh nhân là mọi chuyện dầu nan giải đến đâu cũng đều hanh thông được cả. Ông còn nghi ngờ điều giáo huấn về “lời đạt” của Tô Đông Pha, và nói: “Tôi lại cho đạt là cái gọi là có gốc. Ví như nước vậy. Nước của biển khơi, tuy gò đảo chắn phía trước, nhưng dòng không rối loạn. Ao vịnh rất xa, nhưng nguồn mạch thường thông. Được thế, là vì biển chứa chấp sâu dầy vậy”.

Cũng cần nói rõ là nhiều người lầm tưởng phương châm “thuật nhi bất tác” thời xưa chỉ đòi hỏi có học mà không được phép sáng tạo gì trong khi học. Thật ra “bất tác” ở đây chủ yếu mang nghĩa là không được phép xây dựng học thuyết mới trái với Nho giáo. Còn khi vận dụng, để thành công, thì phải sáng tạo chứ! Nói khác đi, học ngoài mà không lệ thuộc vào ngoài, đó là lối nghĩ và cách làm của không ít nhà Nho tiến bộ ngày trước ở nước ta. Nguyễn Hành tuyên bố: “Mơ tưởng về người xưa, sao bằng mắt thấy tai nghe về đời nay; cầu ở nước ngoài, sao bằng tìm ở nước nhà”. Được vậy, thì “cổ vi ngã dụng” (cổ phải phục vụ cho ta), và cũng có thể nói thêm “ngoại vi ngã dụng” (ngoài phải phục vụ cho ta). Sau này, vào thời hiện đại, rất nhiều học giả văn nhân nước ta đã nhận rõ tinh thần độc lập tương đối trong việc tiếp thu tư tưởng văn chương Trung Quốc của cổ nhân. Cố nhà thơ Hoàng Trung Thông từng viết: “Tất cả các cái đó trong các ‘thi thoại’ có nhà Nho nào không biết, nào Lưu Hiệp với Văn tâm điêu long, nào Viên Mai với Tùy Viên thi thoại... mà họ không nhai đi nhai lại, họ viết cảm nghĩ của riêng mình”. Giáo sư Trần Thanh Đạm thì đưa ra nhận xét: “Thẩm mỹ ngoại lai muốn sống được ở Việt Nam cũng phải dung hòa hội nhập, 'tiếp biến' vào bản sắc đó của Việt Nam”.

Từ những gì vừa phân tích, có thể thấy, ý kiến xem nhẹ tính sáng tạo và tinh thần độc lập trong việc tiếp thu nền tư tưởng, học thuật và nói riêng là nền lý luận văn chương cổ Trung Hoa của các học thi nhân ta xưa là ít sức thuyết phục. Ở đây hiện hữu một thực tế hai mặt: ảnh hưởng sâu đậm của lý luận văn chương cổ Trung Hoa tới Việt Nam và ý thức độc lập, sáng tạo trong tư duy thi ca của các thi nhân học giả nước ta thời trước. Đó là một sự thật không riêng đối với nước ta, mà cũng không riêng trong lĩnh vực văn chương, học thuật. Bởi, muôn vật “nhất lý” nhưng từng vật lại “phận thù”. Muốn thành công cần vận dụng cái của người vào hoàn cảnh của mình. Phương châm hành động của người Trung Quốc là vừa “Tây dụng” vừa “trung thể”, của người Triều Tiên là vừa “Tây khí” vừa “Đông đạo”, của người Nhật Bản là vừa “dương tài” vừa “hòa hồn”. Có lẽ đây là chiếc chìa khóa thần giúp các nước đồng văn này có được những bước tiến nhảy vọt tiếp cận đến văn minh hiện đại chăng? Từ đó, tôi hoàn toàn tán đồng với ý kiến của cố giáo sư Lê Đình Kỵ: “Do điều kiện lịch sử một nghìn năm Bắc thuộc, cha ông ta không tránh khỏi chịu ảnh hưởng của nền văn hóa và học thuật Trung Hoa... Điều đáng tự hào là mặc dầu bị áp bức nặng nề từ phương Bắc, dân tộc ta đã không chịu để cho bị đồng hóa, vẫn nêu cao tinh thần độc lập tự chủ trong chính trị cũng như trong đời sống tinh thần nói chung”. Vậy là, có thể nói, đã tồn tại trên thực tế một nền lý luận văn chương độc đáo, phong phú và quý giá trong thời trung đại ở Việt Nam, và nền lý luận đó “cũng có tầm cỡ như bất cứ nền thi học của nước nào, nếu ta biết khai thác những cái được giấu kín trong đó” (Giáo sư Đỗ Văn Hỷ).

Vâng, đó là toàn bộ những gì tôi muốn chia sẻ cùng anh trong giới hạn có thể của một lá thư ngỏ. Vì là thư nên tôi chủ ý không dẫn ra xuất xứ của những lời được trích. Nếu anh hoặc bạn đọc nào cần, tôi sẽ sẵn lòng cung cấp thông tin thật chi tiết. Xin được nhấn mạnh là tôi không nói quan niệm tôi đứng ra bảo vệ là duy nhất đúng. Càng không nói quan niệm đó đã thật sự hoàn thiện, không còn gì để bàn bạc và bổ sung thêm nữa. Chỉ mong anh suy xét lại, kể cả những quan niệm tưởng là chân lý vĩnh hằng, với tư duy độc lập có thể có của một nhà trí thức đích thực, cố nhiên.

Xin chúc anh sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt.

Tạm biệt anh!

                                                                                                                Kính thư!

                                                                                                         Phạm Quang Trung