Sự gởi mở thật đáng suy ngẫm


            Tôi muốn nói tới bài báo Nghiên cứu văn học và xã hội diễn giải của Yves Citton in trên số chuyên đề Chất vấn phê bình văn chương của tạp chí Bán nguyệt san văn học danh tiếng ở Pháp được Chân Phương dịch và cho công bố trên mạng vanchuongviet. Yves Citton là một lý thuyết gia văn học Pháp từng nhiều năm giảng dạy ở các trường đại học Yale và Pittsburg của Mỹ. Đây có thể xem là ý tưởng chính của công trình dầy dặn hơn nhiều được ông ấn hành ở Paris vào năm 2007.

Như nhiều nhà văn học thức thời và trách nhiệm khác, nhà nghiên cứu Yves Citton đã chỉ ra hiểm họa chung của khoa nghiên cứu văn chương hiện giờ, nổi bật và tập trung ở chỗ: “Chúng có nguy cơ lặp lại số phận của ngành thần học”, khiến cho “dưới mắt của các thế hệ tương lai điều này rất có thể bị xem là trò dị đoan huyễn hoặc”. Số phận mang tính “thần học” của văn học được ông giải thích ở xu hướng dựa trên sự linh thiêng hóa văn bản” - PQT lưu ý, mặc dầu cũng chỉ trong một mức độ nào đó” mà thôi. Có thể xem đó một thảm trạng bởi, theo ông, với thế kỷ đang đến, “ngày nay còn ai tiếc nuối cái thời khi thần học đứng chung với các bộ môn đại học khác? Ai mà không nhìn các đồng nghiệp thần học với nụ cười hơi thương hại - những phế tích lỗi thời từ một quá khứ nặng tín ngưỡng giữa cõi nhân gian thế tục vô thần?”. Cũng theo Chân Phương, tạp chí The American Scholar (mùa thu 2009) có đăng một bài nhận định của William M. Chace, phân tích các nguyên nhân khiến cho giáo dục đại học chuyên về nghiên cứu văn chương ở Mỹ đang xuống cấp cả về phẩm chất lẫn số lượng sinh viên. Có lý do thiếu hụt ngân quĩ ngày càng nghiêm trọng. Nhưng cũng có nguyên do từ sự mất giá của môn lý luận văn chương bởi nó, cũng như khoa văn học nói chung, thật sự rơi vào tình trạng mất phương hướng trong học thuật. Phải chăng, khuynh hướng chỉ biết đi vào khai thác văn bản, không chú trọng phát huy đến mức có thể vai trò tích cực của chủ thể tiếp nhận hiện đại là một trong những biểu hiện dễ thấy nhất của sự “mất phương hướng” đó?

Từ cách đặt vấn đề như vậy, không chịu thúc thủ, Yves Citton đã chủ động đặt ra câu hỏi: “Nghiên cứu văn học có thể làm gì để khỏi phải nối bước thần học về nhà kho của những kiến văn cũ càng?”. Theo ông, muốn tìm các giải pháp hữu hiệu, cần nhận ra “ba điều khả dĩ mở ra hướng đi khác trong thế kỷ đang đến” trong sự “liên kết mật thiết” giữa chúng với nhau. Đó là những yếu tố nào vậy?

 Trước nhất, Yves Citton cho rằng, cần “nhận diện chính xác những động lực nằm trong lòng các hình thái sản xuất của cải mới tiêu biểu cho thời đại chúng ta”. Đúng quá rồi! Thấy rất gần với quan niệm quen thuộc của triết học marsism. Xã hội mới với những hình thái sản xuất nhiều phần đã đổi khác sẽ quyết định tới quan niệm của chính con người. Ông giải thích rõ hơn như sau: “Phần lớn các phạm trù chính trị, kinh tế, nhân học của chúng ta bắt đầu với kỷ nguyên tư bản công nghiệp từng ngự trị hai thế kỷ 19 và 20. Các quan niệm thống soái và các cách đo lường “lao động”, “phát triển”, “thịnh vượng” của chúng ta trật nhịp hoàn toàn với những gì đang (và nhất là sẽ) tạo nên sức sản xuất thực sự vào thời đại của chủ nghĩa tư bản tri thức đang bước đầu thành hình”. Vậy đặc điểm của thời đại mới khi chủ nghĩa tư bản tri thức bắt đầu manh nha là gì? “Kể từ đây - ông giải thích tiếp, chỉ đạo các lĩnh vực sản xuất vật chất sẽ là lô gíc của sự truyền thông/truyền đạt cái phi-vật chất; trong các xã hội dư thừa (dư thừa tương đối do phân phối bất công) của chúng ta những bài toán về khan hiếm và những xung đột về quyền lực từ đây phần lớn tùy vào mức thu hút sự chú ý hơn là sự chiếm đoạt ‘đồ vật’”. Đã vậy thì những hình thái diễn giải cao cấp tác động tới sự chú ý của con người hiện đại như nghiên cứu văn chương cố nhiên sẽ ngày càng được xã hội coi trọng.

Điểm quan trọng thứ hai, theo Yves Citton, là trong hoàn cảnh mới, con người “đừng nên mù quáng tin theo các cách nói về ‘xã hội của kiến thức’ , ‘xã hội của thông tin’, ‘xã hội của truyền đạt’, thường được dùng để gọi tên các lôgíc xã hội mới”. Bởi, “trái ngược với lối suy nghĩ sáo mòn do mấy từ ngữ ấy chuyển vận, điều xứng đáng được đặt ở trung tâm của năng suất và những xung đột quyền lực đang nổi lên hiện giờ không phải ‘kiến thức’, ‘thông tin’, ‘truyền đạt’ mà là diễn giải. Theo đà tự động hóa ngày càng nhiều các hoạt động trí tuệ dựa vào quyền năng của máy tính (ghi nhớ, tính toán, hệ thống hóa, sao chép, nhận diện-nhận dạng), kháng cự lại sự thay thế bằng máy móc một cách mạnh mẽ là các loại công việc liên quan đến sự diễn giải, như một hoạt động phức hợp cao cấp, đa chiều kích, giàu sáng kiến, chủ yếu mang tính dự phóng. Một bộ máy có thể đọc các dữ kiện (“thông tin”), có thể phân loại chúng (“kiến thức”), có thể truyền đạt chúng (“truyền thông”) nhưng không thể diễn giải chúng - có nghĩa là suy tư trên phương diện tính thích ứng phong cách về mặt nghĩa lý, nội hàm, giá trị ứng dụng của một tập hợp ký hiệu trong khuôn khổ một tình huống cùng thực tiễn đã định sẵn.

Sau cùng nên công nhận rằng các môn nghiên cứu văn học và nói rộng ra - các “khoa nhân văn” - tạo thành lĩnh vực kiến thức được trang bị tốt nhất để hiểu và thực hành những gì mà hoạt động diễn giải có thể làm một cách phức tạp nhất và phong phú nhất. Khi người ta nhận thức được việc quản trị/điều tiết sự chú ý và những cảm xúc, các vấn đề về phong cách, nghĩa lý, giá trị cùng tính thích ứng đảm trách đến mức nào cả hai vai trò động cơ và hoa tiêu trong mọi phát triển xã hội của chúng ta, làm sao không thấy rằng những gì giới văn học thực hiện trên các tạp chí, trong những hội thảo với giảng khóa văn học nằm ngay tâm điểm sinh tử nhất của các vấn nạn hiện nay của chúng ta? Thay vì chịu chung bản án với ngành thần học bị vứt vào nhà kho lịch sử, các môn nghiên cứu văn chương trái lại phải được chiếm vị trí xứng đáng ngay trung tâm các cơ chế giáo dục và nghiên cứu về thế giới tương lai, khi mà thế giới ấy hoạt động đồng nhịp với một xã hội của sự diễn giải.

Tuy nhiên, cần đặc biệt lưu ý rằng, yêu sách về vị trí trung tâm như thế đòi hỏi giới văn học về phần mình phải bỏ công sức suy xét và tổ chức lại công tác giảng dạy và nghiên cứu của họ. Không xếp cùng hàng các “bộ môn” khác đang còn tìm kiếm tính khoa học hay các bằng cớ về tính nghiêm túc thực chứng, các môn nghiên cứu văn chương phải được quan niệm như một bình đồ phi chuyên ngành có nhiệm vụ liên kết, hợp nhất, phê phán, làm bật tung và tách đôi các tri kiến bắt nguồn từ những bộ môn “khoa học”. Nghiên cứu văn chương phải đúc kết các hậu quả từ sự kiện sau: không thể đo lường những ưu điểm của việc diễn giải văn học bằng các ý niệm về chân lý tương ứng với một dữ kiện đã có mà phải bằng các ý niệm về gợi tưởng, tức năng lực làm hiện ra những thế giới khả dĩ khác.

Sau ba thập niên dưới sự thắng thế của duy sử luận nhiều lúc ngột ngạt, không còn động viên và thiếu sức gợi hứng cho học thuật, đã đến lúc chúng ta phải ghi nhớ rằng công việc nghiên cứu các văn bản, văn chương hoặc phi-văn chương cũng vậy, chỉ dùng đến kiến thức về quá khứ để đóng góp tốt hơn vào cuộc tranh luận về hiện tại và kiến tạo tương lai. Đúng là các môn nghiên cứu văn chương đang đứng trước ngã rẽ: một bên là con đường nền nếp của loại kiến thức thực nghiệm/thực chứng đang dẫn về lối bí của thần học nếu không chịu chất vấn vị thế của mình; bên kia là con đường phi chuyên ngành của các cách đọc hoạt khởi lấy lịch sử và tính văn bản làm dưỡng chất để đóng góp tốt hơn vào những cuộc tranh luận đang định đoạt hướng đi cho các xã hội diễn giải của chúng ta.

Có thể nói, ý tưởng có sức gợi mở này của nhà nghiên cứu Yves Citton vừa giúp các nhà văn học thời nay vững tin vào vị thế càng ngày càng gia tăng của mình vừa tạo ra định hướng phù hợp nhằm thổi vào một sức sống mới cho bộ môn khoa học xã hội - nhân văn quan yếu lại như đang mất đi vai trò từng có này của con người và xã hội.

                                                        

 

 

 

Comments