Khởi đi từ ngữ học J. Greimas

            Ta thường đề cao vai trò của của ngôn ngữ đối với văn chương như một loại phương tiện đặc trưng biểu hiện một lĩnh vực tinh thần riêng biệt của con người và xã hội. Điều đó đúng và cần, giải thích sự gắn bó giữa ngữ văn trong từ ghép hữu lý ngữ văn rất quen thuộc truyền từ xưa tới nay. Nhưng, từ góc độ văn học, nói riêng là từ góc nhìn lý luận văn chương, vai trò của ngữ học ra sao? Có dịp đi sâu tìm hiểu lại hé lộ ra nhiều điều không thể nói là không thú vị và bổ ích. Bài viết chọn mối quan hệ giữa ngữ học và văn học qua một điểm nhìn cụ thể để xem xét là vì thế.

            Trước nay, nhất là trong thế kỷ XX, đã từng xuất hiện nhiều dự định táo bạo muốn biến ngữ học thành mô hình hoặc trung tâm tạo lập lý thuyết nhiều bộ môn, thậm chí nhiều ngành khoa học khác nhau. Năm 1957, nhà nghiên cứu Firth xem ngôn ngữ học là “một khoa học xã hội… vượt trội các khoa học khác trong việc lập thức lý thuyết và kỹ thuật nhận định”. Sau đó mười năm, vào năm 1967, nhà ngữ học Pike lại quả quyết rằng “những nghiên cứu hình thức trong khu vực ngôn ngữ” luôn đề xuất “một cơ sở” mà nhiều ngành khoa học “dễ dàng được xây dựng”. Theo cách đặt vấn đề của nhiều nhà nghiên cứu đi trước, nhà ngữ học Hjelmslev vào 1969 đã triệt để hơn “coi toàn bộ khoa học như được đặt trung tâm xung quanh ngôn ngữ học”. Không dừng ở thời hiện tại, ông còn thấy trước một viễn cảnh nơi “không có đối tượng nào lại không được soi sáng từ vị trí then chốt này của lý thuyết ngôn ngữ học” (1, tr.411). Chỉ cần khảo sát ảnh hưởng của ngôn ngữ học hiện đại bắt nguồn từ F. de Saussure tới nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn trong thế kỷ XX cũng đủ rõ. Điểm xuất phát của các ý kiến này chủ yếu nằm ở chỗ, ngôn ngữ học dẫu sao cũng thuận lợi hơn trong việc tạo dựng lý thuyết ở nhiều phương diện như tính trừu tượng, tính khái quát, tính nghiêm ngặt. Lại bằng các phương pháp kinh nghiệm cụ thể hơn đi cùng những đối tượng hữu hình hơn. Khi đó, ngữ học được chứng minh bằng những cứ liệu xác thực nên dễ dàng tìm được sự chia sẻ rộng rãi của cộng đồng trí thức.

Riêng về vai trò của ngữ học với văn học, có lẽ không nhà nghiên cứu nào lại không biết tới khẳng quyết của nhà lý luận ngôn ngữ và văn chương hàng đầu thế giới trong thế kỷ XX R. Jakovson trong công trình nổi tiếng Ngôn ngữ học và thi pháp học: “Nếu như còn có nhà phê bình hoài nghi về thẩm quyền của ngôn ngữ học về mặt thơ ca, thì riêng tôi, tôi cho rằng những nhà phê bình ấy đã lấy sự bất tài về thi văn của một số nhà ngôn ngữ học nào đấy để nghĩ đến sự bất lực về bản chất của bản thân khoa học về ngôn ngữ - Tuy thế, mỗi một chúng ta ngồi đây đã hiểu dứt khoát rằng: một nhà ngôn ngữ học không hay biết gì về chức năng thi ca thì cũng như một chuyên gia văn học vô tâm đối với những vấn đề ngôn ngữ học và mù tịt những phương pháp của ngành khoa học ấy, cả hai loại này từ rày về sau đều là những thứ lỗi thời một cách quả tang”. Trước đó, để củng cố thêm niềm tin khoa học của mình và đồng nghiệp, ông có nhắc lại câu nói của nhà nghiên cứu Lollander: “Hình như chẳng có lý do nào đáng giá để tách những vấn đề của văn chương ra khỏi những vấn đề của ngôn ngữ học nói chung” (2, tr.60). Từ đấy, có thể nói không sợ quá lời rằng, tiếng nói đầy quyền uy của R. Jakovson hầu như vang lên tại nhiều diễn đàn và trong nhiều công trình lý luận văn chương quan trọng sau đó của thế kỷ XX.

Khi đi sâu vào vấn đề, không phải các nhà nghiên cứu không đề phòng xu hướng tuyệt đối hóa vai trò của ngữ học đối với văn học. Vì dẫu thế nào, đó cũng là hai ngành khoa học khác nhau, có những đòi hỏi riêng phản ánh những quy luật riêng trong sự khái quát lý thuyết. Nhiều lời nhắc nhở hữu ích đã được lưu truyền và được quan tâm. Cơ sở của vấn đề nằm ở chỗ, ngôn ngữ rõ ràng giữ vị trí trung tâm trong đời sống tinh thần của con người và cộng đồng, có điều tính trung tâm của ngôn ngữ không nhất thiết xác lập tính trung tâm của ngôn ngữ học, như nhiều học giả đã từng chỉ ra một cách thấu đáo. Nói một cách khác, phải tìm ra một cách thức vận dụng ngữ học phù hợp với văn học. Thiết tưởng cũng nên thường xuyên lưu ý tới bài học sau: trong lịch sử khoa học, triết học từng gây thành siêu hình học “tồi” và logic hình thức “tốt” bởi các nhà thực chứng luận, cũng như tâm lý học tác thành hành vi luận “tồi” và duy lý luận “tốt” với các nhà sinh sản luận. Phản - xu hướng từng diễn ra trong lịch sử khoa học chắc chắn là một kinh nghiệm quý giá cho bản thân văn học trong quá trình xây dựng và hoàn thiện lý thuyết khoa học cho mình (1, tr.410). Đó có thể xem là một trong những nguyên cớ khiến cho xu hướng xem thi pháp học chỉ là một bộ phận của ngôn ngữ học được khởi đầu từ R. Jakovson vị tất đã thành niềm tin của tất cả những đầu óc văn học tỉnh táo.

Nhưng dẫu sao, đó cũng chỉ là những lưu tâm mang tính cảnh báo, còn trên đại thể, sự gợi ý về mặt phương pháp luận của ngữ học cho văn học là định hướng đúng đắn, cần thiết và dài lâu. Đó là nguyên do khiến tôi chủ động tìm đến các công trình ngôn ngữ học được nâng lên thành ký hiệu học của nhà nghiên cứu danh tiếng người Pháp J. Greimas (1917 - 1992). Đối tượng của ngữ nghĩa học - một bộ phận cơ bản và hữu cơ của ngôn ngữ học, thường được hiểu là nghiên cứu nội dung thông tin của một thông báo trong một ngôn ngữ tự nhiên nhất định. Do ông đặt ra cho ngữ nghĩa học một nhiệm vụ bao quát hơn ở “khả năng miêu tả được tất cả những sự kiện mang nghĩa, độc lập với ngôn ngữ tự nhiên dùng để miêu tả chúng” (3, tr.49), nên đối tượng của bộ phận này với ông được nâng cao, mở rộng thêm nhiều: đó là sự miêu tả ngữ nghĩa trên bình diện cấu trúc hình thức. Từ đây, ngữ nghĩa học chỉ có thể được xây dựng trong “sự hợp nhất hai siêu ngôn ngữ - PQT lưu ý, có quan hệ tiền giả định tương hỗ: một siêu ngôn ngữ miêu tả để chuyển dịch những ý nghĩa chứa trong ngôn ngữ đối tượng thành những dạng thức xác định và một siêu ngôn ngữ phương pháp luận - PQT nhấn mạnh, nó định rõ các khái niệm để miêu tả và kiểm nghiệm những quan hệ liên kết nội tại giữa chúng” (3, tr.50). Ý hướng chỉ đạo của dạng “siêu ngôn ngữ” sau khiến cho ngôn ngữ học của J. Greimas thực sự trở thành ký hiệu học, không chỉ là ký hiệu học thông thường mà là ký hiệu học khoa học đúng nghĩa. Chính hướng dẫn quan trọng này của nhà ký hiệu học người Pháp đã đưa tôi tới hệ thống nghĩacách thức tạo nghĩa trong văn học.

Vì sao vậy?

Bởi suy cho cùng, theo tôi, văn chương mà cụ thể là tác phẩm văn chương, muốn thật sự có ý nghĩa xã hội và nhân sinh thì không thể không chứa nghĩa. Các quan niệm hình thức chủ nghĩa xuất hiện từ trước tới nay, dầu ở dạng thức nào, tự trong thực chất cũng chỉ nghiêng về đòi hỏi sự ứng xử sao cho phù hợp với đặc thù của văn chương chứ tuyệt nhiên không hề chủ trương hoàn toàn khước từ nội dung, bởi một lẽ đơn giản là một khi đã khước từ nội dung thì đồng thời khước từ nghĩa, mà khước từ nghĩa thì tác phẩm chỉ là một vật thể trống rỗng, chẳng còn là một thực thể văn chương đúng nghĩa được nữa. Như thế có thể khẳng định là hoàn toàn “vô nghĩa”! Vậy cơ chế nghĩa của tác phẩm văn chương ra sao? Đi liền với vấn đề này là cơ chế tạo nghĩa của văn chương như thế nào? Đó là những vấn đề lớn, nhưng lạ thay, chưa được lý luận văn chương từ xưa tới nay tập trung soi xét. Theo ý tôi, muốn giải đáp thỏa đáng hai vấn đề thiết cốt về nghĩa của văn nói trên, không thể không chỉ ra thật biện chứng, thật toàn diện quy trình thật sự của đời sống văn chương. Cố nhiên, vấn đề cơ bản này đã từng được nhiều nhà lý luận trước nay đề cập tới. Ở ta, quan niệm của nhà văn học sử  M. Abrams trình bầy trong cuốn Tấm gương và cây đèn từ năm 1953 thường được viện dẫn nhiều hơn cả. Với ông, mô hình đó gồm 4 yếu tố như sau: Thế giới - Bài thơ - Tác giả - Công chúng (4). Kể ra, như vậy cũng có thể xem là tạm ổn. Nhưng, tôi thấy có ba khiếm khuyết chính: Một là, thiếu hẳn yếu tố tâm thức (gồm tâm lý, ý thức và vô thức) xã hội; Hai là, chưa thấy vai trò của từng yếu tố trong hệ thống chung; Ba là, chưa làm rõ mối quan hệ của từng yếu tố với nhau và với toàn bộ hệ thống. Nếu xem xét kỹ theo hướng đó, có thể nhận định là M. Abrams chưa tạo ra được một hệ thống phổ quát diễn tả biện chứng một cách toàn diện đời sống chân thực của văn chương. Cũng có thể ông chỉ nhân tiện đề cập tới mà không chú tâm tới mục đích lý thuyết này chăng?

Theo tôi, có thể hình dung 5 yếu tố trong tương quan mang tính hệ thống của đời sống văn chương như sau:

 

                                  Tâm thức xã hội

           

 

Nhà văn                          Tác  phẩm                 Người tiếp nhận

                                   

  

  Đời sống      

           

Xin được giải thích cụ thể về hệ thống này.

- Tôi chủ động thêm một yếu tố cơ bản tạm gọi là Tâm thức xã hội làm thành hệ thống 5 yếu tố hài hòa, chặt chẽ như cấu trúc ngũ hành trong quan niệm triết học Á Đông thời cổ đại. Nói gì thì nói, ta không thể bỏ qua tính chỉ đạo thường là gián tiếp, vô hình và “suy cho tới cùng” (K. Marx, F. Engels) của ý thức xã hội (gồm tư tưởng xã hội và tâm lý xã hội) và vô thức xã hội tới mọi yếu tố chính yếu của đời sống văn chương. Điều này không xa lạ với tư tưởng của các bậc tiền bối như Phan Kế Bính. Để trả lời câu hỏi “cái hay của văn chương ở đâu?” trong Việt Hán văn khảo (1918), cụ cho rằng, trước hết là ở “tư tưởng cao”, sau đó mới “ở kiến văn rộng”, “ở nhời bàn thấu lý”, “ở câu nói đạt tình”. Điều đó cũng không xa lạ với tư tưởng của các nhà mỹ học, các nhà văn thuộc mọi khuynh hướng khác nhau. G.N. Pospelov, nhà lý luận nổi tiếng thời Soviet trước đây quả quyết: “Trong những định nghĩa nghệ thuật có sức thuyết phục cao thì sự nhận thức một cách tư tưởng - cảm tính những đặc điểm của đời sống xã hội là đặc tính quan trọng nhất của nghệ thuật” (5, tr.75). Nhà văn đương đại danh tiếng người Mỹ Raymond Carver trong bài viết Nguyên lý của truyện ngắn trước sau quan niệm dứt khoát: “Một bài thơ hoặc một truyện ngắn hoàn toàn có thể viết về những điều bình thường bằng một thứ ngôn ngữ thông dụng nhưng chính xác. Bằng cách đó, nhà văn có thể cung cấp cho những sự vật rất đỗi thân quen… những ý nghĩa phong phú và đáng ngạc nhiên” (6).  

- Để logic, hệ thống cần coi tác phẩm văn chương là yếu tố trung tâm, lấy đời sống làm nền tảng, dưới sự soi chiếu của tâm thức xã hội, trong khi vẫn xem trọng chủ thể sáng tạo mà không quên chủ thể tiếp nhận. Có thể gọi tên 5 yếu tố ấy như sau: Nhà văn - Tả tố; Tác phẩm - Trung tố; Người tiếp nhận - Hữu tố; Tâm thức - Thượng tố; và Đời sống - Hạ tố. Tôi lưu ý tới các chiều mũi tên qua lại giữa các yếu tố. Trong đó, dấu vạch thẳng () chỉ mối quan hệ trực tiếp: như quan hệ giữa Nhà văn với Tâm thức xã hội và Đời sống. Còn dấu chấm chấm (- - ) để chỉ mối quan hệ gián tiếp: như quan hệ giữa Tác phẩm với  Tâm thức xã hội và Đời sống. Chỉ cần chú tâm quan sát sẽ thấy ngay mối tương tác tất yếu nói trên.

- Trong 5 yếu tố của hệ thống phản ánh đời sống hay quy trình văn chương, có hai trục chính: trục ngang ­- là trục phản ánh cơ chế tạo nghĩa, và trục dọc - là trục biểu hiện cơ chế nghĩa. Ở trục nghĩa, chỉ có hai nhân tố: nghĩa do Tâm thức xã hội truyền cho tác phẩm (tạm gọi là tư tưởng); và nghĩa do Đời sống tạo cho tác phẩm (tạm gọi là hiện thực). Hai dạng thức nghĩa này làm nên nội dung tư tưởng và nội dung hiện thực của bất cứ tác phẩm thuộc bất kỳ loại hình và thể tài văn chương nào. Ở trục sinh nghĩa, có tới 3 yếu tố cùng tham gia: Nhà văn - Tác phẩm - Người tiếp nhận. Cần hết sức tránh phiến diện. Mà cũng cần hết sức tránh cực đoan. Một cái nhìn tạo sinh về nghĩa như thế mới mong tiếp cận được những quan niệm và phương pháp hiện đại trong khi vẫn không rời xa những quan niệm và phương pháp truyền thống.

Có thể xem nhận định quan trọng sau của nhà Khai sáng I. Kan đã thật sự đặt nền tảng về mặt phương pháp luận cho hệ thống nói trên của tôi: “Mỗi một ngành khoa học, xét riêng bản thân nó, là một hệ thống xây dựng ở bên trong nó dựa theo các nguyên tắc, và, do đó, tiến hành đúng theo phương thức kỹ thuật [máy móc, tách rời các bộ phận một cách siêu hình] là không đủ, mà còn phải xử trí với nó như với một tòa nhà tự mình đứng vững, nghĩa là xử trí theo nghĩa kiến trúc; phải đối xử với nó như với một toàn bộ tự tồn chứ không phải như với một phần được xây thêm hay một bộ phận của một tòa nhà khác, mặc dù sau đó, ta có thể xây một lối thông thương từ nó dẫn sang tòa nhà khác và ngược lại” (7, tr.388).

Như vậy, theo sự gợi ý của nhà ngữ học J. Greimas, tôi đã mạnh dạn trình bầy những hiểu biết riêng của bản thân về cấu trúc của đời sống văn chương chủ yếu dưới góc độ nghĩa. Vì muốn thể hiện nghiêng hẳn về logic hình thức, nên chắc bài viết khó tránh khỏi trừu tượng. Nhưng, tôi cho rằng, sự trừu tượng ở đây là cần thiết. Rất mong nhận được sự trao đổi thẳng thắn mà xây dựng của các đồng nghiệp xa gần. 

                                                                                                                                    Đà Lạt, 23/5/2013                                                         

……………………………………………………………………………..............................................

                                                         TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1) Lê Chí Dũng (Chủ biên) - Những suy nghĩ mới, những tiếp cận mới về ngữ văn, Nxb Khoa học Xã hội, H., 2007.

(2) R. Jakovson - Thi học và Ngữ học, Nxb Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, H., 2008.

(3) Trần Đình Sử (Chủ biên) - Tự sự học (Một số vấn đề lý luận và lịch sử ), Nxb Đại học Sư phạm, H., 2007.

(4) Huỳnh Như Phương - Trường phái hình thức Nga, Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2007.

(5) Pospelov G.N. - Lý luận văn chương, (Tiếng Nga), Nxb Trường cao đẳng, M. 1978.

(6) Carver  R. - Nguyên lý truyện ngắn - www.evan.com.vn.

      (7) I. Kant, Phê phán năng lực phán đoán, Nxb Tri thức, H,. 2007.