Học lối ứng xử với cái khác mình


            Hội nghị Quốc tế Giới thiệu văn học Việt Nam được long trọng tổ chức tại Hà Nội từ ngày 5/1 đến ngày 10/1 năm 2010. Tôi được may mắn tham dự. Đây là bản tham luận của tôi tại Hội nghị quan trọng này.                                                   

Tại diễn đàn trọng thể này, tôi chắc sẽ được nghe vang lên nhiều lần thứ âm thanh đặc biệt của một từ rất hệ trọng mà gần đây đã trở nên quen thuộc, thật sự biến thành ý nguyện thiêng liêng của tất thẩy những ai tha thiết với tinh thần canh tân, đổi mới triệt để trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hóa – đó là từ hội nhập. Đã gọi là hội nhập đúng nghĩa thì phải có cho và có nhận. Lĩnh vực nào cũng thế cả. Không hề có ngoại lệ. Văn chương, nghệ thuật vì vậy không thể đứng ngoài. Trong khi muốn thực sự hội nhập, và hội nhập một cách hiệu quả, trước tiên phải chuẩn bị một tâm thế hội nhập cho thật phù hợp. Với tôi, sự chuẩn bị đó khởi đầu từ lối ứng xử đúng đắn với những cái khác biệt đến từ bên ngoài. Bởi, nếu không hiểu và chấp nhận cái khác mình sẽ không thể xảy ra quá trình tiếp xúc; mà đã không có tiếp xúc thì nói gì tới giao lưu, hội nhập. 

Lịch sử văn chương Viêt Nam đã từng đem lại những bài học quý giá về sự hội nhập. Không chỉ toàn những bài học chính diện, còn có cả những bài học phản diện nữa. Tất cả cần được bình tâm soi xét bằng cái nhìn lịch sử. Rất đáng mừng là sau một thời gian dài lúc thăng lúc trầm, đến đầu thế kỷ XXI này, văn chương nước ta đã tỏ dần thế đứng chững chạc hơn, do từng trải hơn trong thái độ đối với mọi trào lưu, xu hướng mới lạ thường đa tạp đến từ nước ngoài, nhất là từ phương Tây. Không dễ có ngay được một cách ứng xử chín chắn như vậy. Chúng ta phải học, nghiêm túc và khó nhọc, trong hứng khởi và trong cay đắng, để dần trưởng thành. Bởi chúng ta hiểu đã là con người thì luôn tồn tại sự khác biệt. Chỉnh thể lớn hơn là dân tộc cũng thế! Và chỉ khi chấp nhận cái khác mình mới tính đến chuyện học người để tự làm giàu có mình. Điều này đúng trong khoa học, lại càng đúng hơn trong văn chương.

Có điều, khi đòi hỏi cao, rất cao điều này từ mình, ta cũng có quyền yêu cầu, ít ra là như vậy, từ người khác. Dân tộc ta đã từng trải qua hàng trăm năm sống o ép, nặng nề dưới ách thực dân, cả cũ lẫn mới. Chúng ta quá thấm thía với đủ loại đủ kiểu áp bức về tinh thần, bóc lột về vật chất và kiềm chế về văn hóa của kẻ thù ngoại bang. Do vậy, giờ đây, hơn ai hết, chúng ta dễ dị ứng với những biểu hiện thâm độc dầu rất tinh vi, được che đậy dưới nhiều hình thức mỹ miều của chủ nghĩa hậu thực dân trên lĩnh vực văn chương, văn học. Biết là đã hết thời làm mưa làm gió một cách trắng trợn và trơ trẽn, chủ nghĩa đế quốc ngoan cố tìm đến một con đường khác: thâm nhập bằng nhiều con đường ẩn hiện quanh co về mặt văn hóa. Chúng muốn dần dà áp đặt những chuẩn mực đánh giá phương Tây lên phương Đông, biến khái niệm phương Đông từ một thực thể đơn thuần về địa lý trở thành một phạm trù giá trị hẹp hòi, biệt phái và thiên lệch. Rất may, những người đầu tiên phát hiện và nói to lên điều này lại là những bậc thức giả đáng kính ở chính phương Tây, tiêu biểu là hai nhà mỹ học danh tiếng Hoa Kỳ  F. Jamenson và E. Said. Chúng ta cần cảm ơn họ, nhất là đối với với E. Said – nhân vật được nhiều người xem là trung tâm của trường phái Phê bình văn chương hậu thực dân xuất hiện vào đầu những năm 1990.

Giới trí thức Việt Nam cũng như nhiều nước thuộc địa cũ từng đón nhận những ý tưởng quả cảm và chân xác của E. Said với một thái độ trân trọng. Trong công trình nổi tiếng Chủ nghĩa phương Đông ấn hành năm 1978, ông đã phân tích, lý giải đầy sáng tạo và thuyết phục mối quan hệ quyền lực giữa phương Đông và phương Tây qua các hình thức diễn ngôn tiêu biểu, thể hiện một tầm nhìn học thuật xa rộng, một sự soi chiếu lịch sử sâu sắc đôi khi đến mức đáng ngạc nhiên. Hóa ra, không như nhiều người lầm tưởng, khái niệm phương Đông, như ông phát hiện, lại “hầu như là một phát minh của người châu Âu”, nhằm tạo ra thế đối lập, một chiều, không thể dung hòa với cực khác là phương Tây, rất tiện lợi cho sự thống trị được thay hình đổi dạng của văn hóa, văn chương đế quốc đối với thế giới thứ ba trong tình hình mới. Tôi đặc biệt thấm thía với ý nghĩa phạm trù chủ nghĩa phương Đông mà ông đã chỉ ra: đó không gì khác mà chính là những quy phạm chung, đầy ý thức của phương Tây để xem xét và đối xử với phương Đông, nhằm một mực tôn sùng, đề cao phương Tây. Sự đối lập đến ghê người không chỉ ở bản sắc mà còn ở trình độ được ngụy tạo một cách không cần che đậy: một bên - phương Tây - là trật tự, văn minh, duy lý, hùng cường, đẹp đẽ, còn bên kia - phương Đông - là hỗn loạn, man dại, duy cảm, yếu ớt, xấu xí. Nếu có cái gọi là huyền ảo phương Đông thì cũng chỉ đơn thuần là lãng mạn, xa lạ. Sự quyến rũ đứng sau vẻ lạ lẫm. May chăng chỉ thu hút sự chú ý của những kẻ hiếu kỳ! Phải thấy, đó là sự áp đặt vừa trơ tráo vừa thiếu khoa học, vì nó không hề bắt nguồn từ thực tế xã hội và lịch sử phương Đông, hay nói theo E. Said, nó không phải là thứ “phương Đông thuần khiết” mà chỉ là cái nhìn lệch lạc xuất phát từ quan niệm cho rằng “sở dĩ phương Đông còn có ý nghĩa là hoàn toàn được quyết định bởi phương Tây, chứ không phải bởi chính phương Đông”. Một quan niệm lỗi thời như vậy càng ngày càng tỏ ra xa lạ đối với chúng ta, và nói chung, đối với bất cứ người trí thức có lương tri nào trên thế giới.

Đáng tiếc là một số người hiện vẫn còn khá mù mờ, chưa kịp nhận chân ra sự thật giản đơn đó. Thậm chí do bị tiêm nhiễm quá lâu và quá sâu, nó có nguy cơ biến thành thứ vô thức tập thể tai hại, rất khó có hy vọng tẩy rửa trong ngày một ngày hai. Vì thế, đứng ở góc độ khoa học, để định danh lý thuyết hậu thực dân, tôi tán thành việc không nên dùng gạch nối ngăn cách giữa tiền tố hậu và từ thực dân mà nên viết liền để chú tâm tới những hậu quả còn kéo dài đến tận ngày nay của chủ nghĩa thực dân trong đầu óc của nhiều người, kể cả những người không ít thiện chí và hiểu biết trong chính đội ngũ chúng ta. Cần kịp thời thẳng thắn chỉ ra ảnh hưởng tai hại, rất phù hợp với ý đồ của những kẻ xiển dương chủ nghĩa hậu thực dân này, ở chỗ, nó làm cho chính những nhà trí thức, văn nghệ sỹ ở các nước thuộc địa cũ trong đó có Việt Nam tin theo cái điều vô cùng nhảm nhí tưởng như có thật ấy. Muốn thế, cần đề cao tinh thần khai sáng theo quan niệm của I. Kant, để có thể đảm bảo rằng, giờ đây chúng ta đã đủ trưởng thành về kinh nghiệm và trí tuệ, hoàn toàn có thể tự lập nghĩ suy theo cái đầu của mình mà không cần tới bất cứ sự dẫn dắt nào của kẻ khác. Do vậy, chúng ta không thể và không bao giờ chấp nhận mối quan hệ Đông – Tây theo kiểu một chiều, bất bình đẳng và bất hợp lý: người bị chi phối và kẻ chi phối, phía thụ nhận và phía tác động như đã từng diễn ra tại nơi này nơi khác, ở người này người khác, vào lúc này hay lúc khác với những mức độ và sắc thái khác nhau. Tôi mong muốn giữa chúng ta có được sự nhất trí cao về điều tối quan trọng này.

Được vậy, chắc sẽ không còn người nào lại đặt ra câu hỏi xem ra không còn cần thiết nữa là việc giới thiệu văn chương Việt Nam ra nước ngoài thì sẽ có lợi cho ai? Tôi xin mạnh dạn trả lời: việc ấy có lợi cho tất cả chúng ta, vì vốn xuất phát từ nhu cầu sâu xa của mỗi người chúng ta, không phân biệt trong hay ngoài, dân tộc này hay dân tộc khác – những người luôn khao khát hướng tới xây dựng một nền Văn chương Thế giới giàu có đa màu sắc, kết tụ tinh hoa văn chương của mỗi dân tộc sống ở khắp năm châu bốn biển như mơ ước đã tồn tại chừng hai trăm năm nay của thi hào W. Goethe. Văn chương các nước thuộc thế giới thứ ba, theo quan niệm của F. Jamenson, thực sự làm phong phú thêm văn chương nhân loại nhờ những bản sắc có một không hai của riêng mình. Chỉ xin nêu lên một phương diện: lẽ nào sự cất cánh về kinh tế và sự nâng cao về vị thế của Việt Nam được nhiều người thừa nhận như hiện nay lại không có căn nguyên sâu xa từ những phẩm chất đặc biệt của con người và dân tộc ta?  Nếu thế, thì hãy tìm đến văn chương Việt như một nhu cầu tự nhiên, bởi đó chính là nơi biểu hiện tập trung, sáng tỏ lại hấp dẫn nhất tinh thần người Việt, giúp lý giải sự thật có phần kỳ lạ nói trên. Cũng như trước đây nhiều bạn hữu khắp nơi trên thế giới từng đến với văn chương Việt để mong giải đáp câu hỏi lớn mang tính thời đại là vì sao một nước còn nghèo nàn, kém cỏi về nhiều mặt như nước ta khi ấy lại có thể chiến thắng một đế quốc giàu mạnh bậc nhất về vật chất và súng đạn như Hoa Kỳ.

Tất nhiên, ở điểm này, tôi biết rõ là sẽ xuất hiện nhiều lo ngại chính đáng hướng về phía khác: đó là, liệu sức đề kháng văn hóa tất yếu của các dân tộc cựu thuộc địa có làm tiêu tan ý muốn thống nhất văn chương tốt đẹp kia hay không? Hay nói một cách khác, liệu chủ nghĩa phương Đông có chuyển thành chủ nghĩa chống phương Tây hay không? Đối với các nhà văn thuộc thế giới thứ ba khác, tôi xin nhường câu trả lời cho các bạn. Riêng với tư cách là một nhà văn Việt Nam, tôi có thể tự hào mà nói rằng: điều đó hiện nay khó có thể xảy ra ở đất nước chúng tôi. Tôi muốn nhấn mạnh đến từ hiện nay. Điều đó nghĩa là, từng có một lúc nào đó và với một ai đó, do chưa tôi luyện được một bản lĩnh văn chương cao cường, ý định ngờ vực, xa lánh đối với những các mới lạ đến từ bên ngoài, nhất là trên lĩnh vực thi pháp, là có thật. Tuy thế, nếu theo cái nhìn của M. Kundera, con người bình thường như chúng ta tránh sao khỏi tham dự một cách vô thức vào việc theo đuổi những mục đích lịch sử của nhân loại. Nói khác đi, con người dễ bị điều kiện hóa bởi hoàn cảnh để rồi phải dò “bước trong sương mù”, ngoài ý chí của mình. Giờ đây, có điều kiện nhìn lại, chắc không một ai lại quá khe khắt với những sai lầm mang tính lịch sử tương tự. Cái chính là mọi sự xem ra đã trôi về dĩ vãng. Không rõ tôi có lạc quan quá không khi khẳng định điều sau đây: cho tới lúc này, chúng ta đã có thể hoàn toàn điềm tĩnh trước mọi cái lạ đến từ phương Tây, ít nhất, chúng không còn là những con ngáo ộp dương nanh múa vuốt hù dọa khiến không ít người khiếp đảm như những năm về trước nữa rồi. Ta đã hiểu và hơn thế đã chủ động tiếp nhận lý thuyết hậu hiện đại và cả lý thuyết sau hậu hiện đại. Đối với chúng ta, các khái niệm tân kỳ đó chỉ là biểu hiện của những thay đổi tất yếu mang tính thời đại trên phạm vi toàn cầu và trong nội bộ từng dân tộc.  Nó có quy luật của nó. Hiểu được quy luật rồi ta có cơ hội tiến tới làm chủ được tình hình. Nhưng thực tế cũng còn dạy ta rằng, dù biến đổi ra sao, văn chương vẫn cứ luôn giữ những nét bất biến muôn đời của nó. Trong bản thể, và cả trong chức năng. Đó chính là cái mà nhiều người định danh rất đúng là nét đặc thù của văn chương, từng làm nên và sẽ làm nên lẽ tồn tại muôn đời của nó trong đời sống tinh thần của dân tộc và nhân loại.

Để kết thúc, cho phép tôi được đặt niềm tin vô hạn vào tương lai sán lạn của văn chương dân tộc trong thời gian sắp tới, vì, trên thực tế, chúng ta đã học để biết cách chế ngự những ảnh hưởng xa lạ, tai hại đến từ bên ngoài, đồng thời lại biết chủ động đón nhận những cái khác kể cả những cái lạ đến từ mọi chân trời, trên tinh thần thực lòng tôn trọng người khác, với phương châm đúng đắn và nhất quán là: Hãy từ ta mà tìm đến và học hỏi người! Và xem ra, bước chuyển động nhịp nhàng cũng đang đến từ bên ngoài…

Xin chúc Hội nghị của chúng ta thành công như mong đợi.

                                                                            Đà Lạt, 20/12/2009