Trao Đổi‎ > ‎

Xin được cùng đối thoại

Thơ là hiện tượng tinh thần cao quý và tinh tế. Xưa nay đã có nhiều người gắng định nghĩa thơ, gắng tìm hiểu lao động của người làm thơ, nhưng xem ra câu nói của Chế Lan Viên cách đấy 20 năm vẫn còn nguyên giá trị: “Thơ... lơ... mơ”. Vậy mà ta đang mong muốn định hướng thơ. Đối với một nền thơ, định hướng là đúng và cần. Với từng nhà thơ trong từng chặng đường thơ cũng vậy. Nhất là giữa lúc này, khi thơ có vẻ “lạm phát” và thơ hay có vẻ như “lá mùa thu”. Thế mà thật khó nếu không muốn nói là không thể định hướng khi quan niệm về thơ còn ngổn ngang bao sự. Không nên nghĩ có thể đi tới thống nhất được hoàn toàn trong mọi vấn đề. Song ít ra đường hướng chính cũng nên và cần được thống nhất nếu chúng ta thành tâm chờ đón và góp sức tạo ra những thành tựu mới cho thơ trong tương lai gần. Đó là một công việc lớn, thật khó khăn và nặng nề, ngoài sức vóc và trí lực của một người. Và đối thoại, trao đổi giữa những thực lòng tìm tòi chân lý là điều kiện không thể thiếu. Đó là lý do chính thôi thúc tôi viết bài này.

Xin được giải bày trước: Lê Đạt là nhà thơ tôi rất quý. Ông luôn trăn trở tìm tòi bất chấp tuổi đã già, sức đã yếu. Lần gặp vào tháng 7 mới đây ở Hà Nội, tôi đã không giấu nổi mối thiện cảm của mình trước ông. Dường như, ông cố níu giữ cái trẻ trung trong tư duy, trong nghệ thuật. Câu nói của Picasso có lẽ đã thành phương châm sống của đời ông: “Người ta cần rất nhiều thời gian để trở nên trẻ”. Đọc bài: “Chữ bầu lên nhà thơ” của Lê Đạt (1), tôi ít nhiều nhận ra cái vẻ trẻ trung ấy trong ông. Chưa thể nói đó là những gì thật sự mới mẻ. Quan trọng là nhiều điểm đúng mà sâu. Lại được diễn đạt theo một lối rất riêng. Chẳng hạn câu sau tôi thích đọc đi đọc lại nhiều lần: “Tôi rất biết những câu thơ hay đều kỳ ngộ, nhưng là kỳ ngộ kết quả của một thành tâm kiên trì”. Và, câu này nữa: “Con đường thơ gồm nhiều con đường riêng rất khác nhau của từng người. Không có đại lộ chung một chiều cho tất cả”. Rồi: “Ta có thể nói đường thơ chính là số phận của một nhà thơ”. Thật súc tích tựa những châm ngôn. Rất đậm sắc thái “thi thoại” Đông phương. Đọc những câu như vậy tôi thấy sáng lên bao điều.

Tuy nhiên, phải nói là không ít vấn đề tôi hiểu khác Lê Đạt. Lại là những vấn đề thật hệ trọng, ít ra là theo quan niệm của tôi. Đồng ý với ông “phải biết trân trọng đối thoại với cái khác, cái lạ của bạn”, bởi, cũng theo ý ông, “không ai được vỗ ngực độc quyền chân lý cũng như tự cho mình nói tiếng cuối cùng”. Vậy nên tôi xin được thằng thắn trình bày “cái khác” của tôi so với ông. (Chỉ là “cái khác” thôi, tôi không nghĩ đó là những cái “lạ”). Nếu có hơi “ồn ào” đôi chút thì cũng mong nàng thơ “vốn con nhà tử tế” của chúng ta chớ “lặng lẽ rút lui”. Vì tôi (và chắc nhà thơ Lê Đạt cũng như tôi) rất tán thành câu trả lời của bạn Văn trong mục “Giải đáp văn học” trên Đặc san “Văn nghệ" (tháng 8.94) rằng: “Thái độ của người tranh luận không quan trọng bằng việc người ấy tranh luận để bảo vệ điều gì”.

“Chữ bầu lên nhà thơ”, thú thật mới đầu đọc lên tôi có hơi ngờ ngợ. Sao cử tri “chữ” có thể bầu lên nhà thơ được? Chữ là đơn vị dùng để viết. Trong tiếng Việt mỗi chữ thường tương ứng với một âm vị. Chỉ là âm vị thì chưa có nghĩa nên chưa nói được điều gì về tài nghệ của người sử dụng, ở đây là nhà thơ. Có lẽ Lê Đạt muốn dùng khái niệm “chữ” thay cho khái niệm “từ”. Một vài người trong khi trò chuyện cũng đã dùng “chữ” thay cho “từ”. Ví như một lần Tô Hoài trao đổi với Nguyễn Công Hoan thế này: “Anh viết văn bằng cái gì? Không phải bằng chuyện chung chung mà bằng cuộc sống, bằng nhân vật, thành chữ, không thể bằng cái gì khác được. Cho nên tinh thông về chữ là một điều cần thiết”. Đã rõ là Lê Đạt muốn đề cao vai trò của “từ” rộng ra là của “ngôn ngữ” trong sáng tạo thi ca. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả! Không giống các hình thái nghệ thuật khác, văn chương lấy ngôn từ làm chất liệu sáng tạo. “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn chương” (M. Gorki). L. Tônxtôi gọi nhà văn là “nghệ sĩ của từ” là vì vậy. Cái đáng ngạc nhiên là Lê Đạt tuyệt đối hóa vai trò của ngôn từ đến mức ông coi việc nắm bắt chữ nghĩa hầu như là quyết định tất cả trong sáng tạo thi ca. Vì vậy mà ông ủng hộ lời phát biểu của Etmông Giabex: “Chữ bầu lên nhà thơ”. Lê Đạt viết: “Người ta làm thơ không phải bằng ý mà bằng “chữ””. Để làm sáng tỏ hơn quan niệm của mình, ông viết tiếp: “Nhà thơ làm chữ chủ yếu không phải ở “nghĩa tiêu dùng”, nghĩa vị tự của nó, mà ở diện mạo âm lượng, độ vang vọng, sức gọi cảm của chữ trong tương quan hữu cơ với câu, với bài”. Ở đây Lê Đạt không khỏi tự mâu thuẫn với chính mình. Ông vừa khẳng định: “Làm thơ không phải bằng ý”, ngay sau đó ông lại bảo: “Chủ yếu không phải... ở nghĩa vị tự của nó”. Trước đấy ông còn viết: Thơ... dựa vào “ý tại ngôn ngoại” nghĩa là vẫn dựa vào ý chỉ có điều ở đây là “ý ở ngoài lời”. Đọc kỹ, cũng nhận ra yêu cầu của ông về nhạc điệu vang lên trong các chữ và giữa các chũ của bài thơ. Vậy là đã rõ, Lê Đạt chịu ảnh hưởng có thể là sâu đậm trường phái thơ tượng trưng đặc biệt người đại diện lớn nhất, tiêu biểu nhất của nó là Paul Verlaine (1844-1896). Với các nhà tượng trưng chủ nghĩa, từ ngũ trong thơ mang hai chứa năng: bình thường và khác thường. Bình thường ở chỗ nó nhằm diễn tả những điều thầm kín nhất mà nhà thơ đã cảm nhận được trước cuộc sống và con người. Tính nhạc vốn mơ hồ, vốn khơi gợi được đề cao trong thơ là vì vậy. Trong bài “Nghệ thuật thơ” (1874) được coi là “Tuyên ngôn” của trường phái thơ tượng trưng chủ nghĩa, Paul Verlaine viết:

Âm nhạc trên hết, trên tất cả,

Âm nhạc nữa và âm nhạc mãi.

Bài thơ “Những bản tình ca không lời” là biểu hiện rõ rệt nhất “Tuyên ngôn thơ” của ông.

Gần hơn có thể thấy khá rõ dấu ấn quan niệm trường phái thơ “Xuân thu nhã tập” tới Lê Đạt. Dấu ấn này không chỉ bộc lộ qua những lời bàn về vai trò của nhạc điệu trong thơ. Khi nghe ông nói: “Văn xuôi chủ yếu dựa vào “ý tại ngôn ngoại”. Thơ khác hẳn, dựa vào “ý tại ngôn ngoại”. Đã “ý tại ngôn ngoại” tất nhiên phải cô đúc và đa nghĩa”, người đọc tinh ý sẽ liên tưởng tới những lời bàn sau của nhóm Xuân thu: “Về tinh thần văn chương có hai tính chất: Một là tính chất giãi bày thuộc lý trí, vụ ích lợi nó gồm là tính chất “văn”. Hai là tính chất hàm súc, tiềm thức, thuần túy gọi là tính chất “thơ”. Quan niệm về “thơ” phải suy nguyên ở tính chất này”. Tác động rõ hơn tới Lê Đạt là những lời bàn của nhóm Xuân thu về ý nghĩa tối thượng của nhịp điệu, âm điệu trong thơ: “Không có nhạc lý là không có gì hết... Một thiên tình hận lâm ly, một cảnh điền viên. Một bước lung lạc đều có ngụ ý phảng phất một ý nhạc u uẩn sâu xa. Phải hội được ý nhạc kia mới tìm được đường diễn tả thật nhịp nhàng những giọng văn thích đáng, mới tạo được một điều huyền diệu, thực hiện và truyền được ý nhạc mong manh. Bằng không... chỉ là nông cạn, hời hợt, vô duyên”.

Tôi không có ý khước từ sự học hỏi lẫn nhau. Người ta tiến bộ bởi biết tiếp thu người khác. Tôi cũng không nói rằng trường phái thơ tượng trưng ở Tây Âu cũng như nhóm “Xuân thu nhã tập” ở ta thì chỉ toàn cái dở, chẳng có gì khả dĩ đáng tiếp thu. “Thi trung hữu nhạc”, các nhà thơ cần khai thác đến cùng khả năng diễn tả cảm nghĩ bằng âm điệu, vần điệu, nhạc điệu của lời trong thơ. Nhạy cảm và đồng cảm với âm thanh hài hòa của vạn vật, nhất là của lòng người được xem là một trong những phẩm chất đáng quý của nhà thơ. Chế Lan Viên hồi nhỏ rất ưa đoạn văn trong sách giáo khoa về vệ sinh:

Răng sạch không bao giờ sâu

Răng sâu trông thực là xấu

Đánh răng thì phải đánh

Cả trên lẫn dưới

Cả trong lẫn ngoài

Có điều, trong thơ không phải chỉ có nhạc. Vả lại nhạc trong thơ chỉ nên xem là phương tiện. (Mặc dầu trong nhiều bài thơ hay, nhạc của lời là phương tiện cơ bản và tỏ ra rất hữu hiệu, rất đắc dụng). Cái đích là phải biểu hiện cho súc tích, cho gợi cảm, cho cuốn hút cái tình trong thơ. Chớ nên tuyệt đối hóa vai trò của nhạc điệu. Càng không nên coi nhạc điệu là cứu cánh.

Từ chỗ quá đề cao yếu tố âm nhạc trong thơ, Lê Đạt đặc biệt coi trọng việc trau chuốt từ ngữ của người làm thơ. Ông đưa ra nhận xét: “Người ta hay nói đến công phu người viết tiểu thuyết... Nhưng các nhà lý thuyết ít nói đến công phu của nhà thơ”. Đây là đoạn Lê Đạt luận bàn về việc gia công chữ nghĩa đưa lên cân “tiểu li” như một thầy lang bốc những vị thuốc công phạt có thể chết người”. Riêng tôi, tôi lại tiếp xúc với một thực tế có phần khác ông. Khi bàn về việc đắn đo mặt sấp mặt ngửa, độ nặng độ nhẹ để dùng cho “đắc địa”, cho thành “thần tự” “nhãn tự”, các nhà tâm lý học sáng tạo văn chương thường hay nhắc tới lao động của nhà thơ hơn là lao động của nhà văn. Do đặc thù loại thể ấy thôi! Truyện dài như tháp Eiffel kia, còn bài thơ trữ tình như chùa Một Cột ấy. Tính chất công việc không giống nhau. Nói tới việc tỉa tót câu ngữ cần trước tiên nghĩ tới người làm thơ là phải. Đọc các giáo trình lý luận phần bàn về ngôn ngữ văn chương thì rõ. Ta sẽ bắt gặp ngay câu nói của Đỗ Phủ “Ngũ bất kinh nhân tử bất hưu” (Lời thơ không gây xúc động lòng người thì tới lúc chết vẫn không thôi sửa chữa). Để minh họa câu nói nổi tiếng ấy các soạn giả không quên nhắc tới ý kiến của Maiacốpski: Phải từ một tấn từ để chọn lọc ra một từ khi viết. Chưa đủ, nhằm gia tăng sức thuyết phục người ta còn dẫn ra thực tiễn sáng tác thơ trong cũng như ngoài nước. Và việc chọn lựa giữa một loạt từ “đáo”, “hựu” để cuối cùng dừng lại ở từ “lục” trong câu thơ cổ của Trung Quốc được đưa ra: Xuân phong hữu lục Giang Nam ngạn. Trong lịch sử văn chương dân tộc thì ít có trường hợp nào tiêu biểu như câu htơ của Huy Cận trong bài “Tràng giang”:

Củi một cành khô lạc mấy dòng

Dừng lại ở chữ “lạc” chứ không phải chữ nào khác, dụng công không phải ít đâu. Những dẫn chứng vừa nói quen thuộc tới mức thành “kinh điển”. Sao có thể bảo các nhà lý luận ít bàn tới việc gia công câu chữ trong thơ cho được? Điều cần nói thêm là làm thơ cần “lầm lũi” “một nắng hai sương”, song không cứ bỏ công sức nhiều là sẽ có những vần thơ “kỳ ngộ” đâu. Nói riêng việc chữa thơ cũng vậy. Vốn là nhà thơ cao niên trong nghề  chắc ông dễ đồng tình với tôi rằng làm thơ xong phải sửa nhưng không hẳn sửa nhiều, sửa kỹ đã hay. Có khi sửa nhiều quá đâm rối, đâm hỏng. Tôi nhớ cho mãi tận những năm cuối đời Thế Lữ vẫn còn chữa đi chữa lại từng câu trong bài “Nhớ rừng” danh tiếng. Vậy mà ông có hài lòng đâu. Riêng tôi trộm nghĩ để như cũ có lẽ hay hơn. Trong trường hợp này, lời của Viên Mai càng nghĩ càng thấy thấm thía: “Làm thơ xong không thể không chữa nhưng không nên chữa nhiều. Không chữa thì ắt hời hợt, chữa lằm lại rắc rối”.

Song chỗ khác nhau chủ yếu của tôi với Lê Đạt là ở chỗ này: Ông tuyệt đối hóa vai trò của việc dùng câu đặt chữ, còn tôi chỉ coi đây là điều kiện, dù là thiết yếu, để có những áng thơ bất hủ để đời. Chẳng thế ông đả không tuyên bố: “Nhà thơ có thể nghĩ tới việc cấy chữ như nhà khoa học có thể cấy gen trong công nghệ sinh học”. Tôi chia sẻ với ông là trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển vũ bão ngày nay, thi ca, nghệ thuật cũng phải đổi khác. Tuy tôi chưa bao giờ nghĩ tới sự thay đổi theo hướng ấy, Nhà thơ cấy “chữ” như nhà khoa học cấy “gen”! Nếu đúng thế thật thì đó chỉ là những sản phẩm “máy móc”, được sản xuất hàng loạt theo kiểu công nghiệp. Chúng chỉ là những thực thể vô hồn đánh mất đi vẻ độc nhất vô nhị vốn là lẽ tồn vong của thi ca chân chính mọi thời, mọi nước. Xem ra kỹ nghệ thơ như thế không mấy phù hợp với “con đường riêng” của thơ mà ông đã chỉ ra: “Không có đại lộ chung một chiều cho tất cả”. Và điều chắc chắn là thi ca sẽ gặp toàn “bất hạnh” (chữ dùng của ông).

Nhắc tới chuyện cấy “chữ” trong thơ như nhà khoa học cấy “gen” tôi lại nghĩ đến nguồn gốc cổ Hy Lạp của “Poésis” (thi ca) và “Poètes” (nhà thơ) từ “Poisò” (tôi làm). Trong cái thời hoang sơ, nghệ thuật vốn không xa lạ với nghề thủ công là mấy. Và người Hy Lạp cổ chỉ có một từ duy nhất chỉ chúng “Tèchne”. Thời đại ngày nay khác rồi. Từ lâu, văn sinh nhân loại đã cho phép ta phân biệt rạch ròi nghệ thuật và kỹ nghệ (ngay cả những ngành kỹ nghệ tiên tiến xen lẫn không ít những yếu tố nghệ thuật). Lịch sử có lẽ chẳng bao giờ đi vòng vo trở lại. Không thế đã không tồn tại khái niệm tiến bộ nghệ thuật.

Vì cho rằng làm thơ là một ngành kỹ nghệ (cố nhiên là ngành kỹ nghệ siêu hạng – kỹ nghệ cấy “chữ”) Lê Đạt coi thường cảm hứng trong sáng tạo thi ca là phải. Ông viết không chút nương nhẹ: “Thiên hạ sính ca tụng những nhà thơ viết tức khắc trong những cơn bốc đồng”. Đáng tiếc là phần nhiều các tác phẩm lớn xưa nay đều được sản sinh trong những “cơn bốc đồng” kiểu ấy. Lẽ nào không đúng thế! “Cơn bốc đồng” ông nói đây chính là tâm thế đặc biệt của nhà thơ giúp tạo nên hiệu quả đặc biệt trong sáng tác. Nói cách khác, đó chính là “cảm hứng sáng tạo”. Công đầu trong việc khám phá vai trò của cảm hứng trong sáng tạo thuộc về Dêmokritos (460-370 TCN) “bộ óc bách khoa cổ Hy Lạp đầu tiên” (Marx). Nhà triết học vĩ đại này viết: “Không ai có thể trở thành nhà thơ giỏi nếu không có ngọn lửa nào đó, một thứ bệnh điên rồ nào đó”. Vì vậy trước sauông dứt khoát loại bỏ những kẻ “chỉ biết suy nghĩ một cách phải chăng” ra khỏi vương quốc của nghệ thuật. Theo chỗ tôi biết thì hầu như không có nhà thơ nào không tranh thủ chớp lấy cơ hội ngàn vàng ấy cho sáng tác. Không phải vô cớ mà ở phương Tây nàng thơ được ví với con ngựa có cánh. Thiếu bay bổng sẽ không thể “tay tiên vẫy đủ mười khúc ngâm” (Kiều). Chẳng cứ gì thơ, viết văn xuôi cũng vậy. Một tài năng lớn như Nguyễn Tuân mà khi “đầu ngòi bút không thấy động gió” thì cũng cảm thấy “tờ giấy trắng như hất ngang ngòi bút mình đi, cứ lặng lờ mà khước từ bất cứ ý định câu cú nào định ươm ướm thả xuống”.

Đủ thấy rõ thực tiễn sáng tạo thi ca rộng ra là sáng tạo văn chương, sáng tạo nghệ thuật không giống như Lê Đạt nói. Muốn có những câu thơ “kỳ ngộ”, “làm động lòng quỷ thần”, không thể thiếu “một đa mang đắm đuối được”. Cố nhiên, để có “những phút giây huyền diệu” nhà thơ không thể bị động trông chờ. Cảm hứng sẽ không đến nếu ta “bỏ đói” nó. Điểm này thì tôi đi gần với quan niệm của ông.

Vậy là Lê Đạt muốn đặt trọng tâm vào kỹ xảo ngôn từ trong thơ. Với ông, nó gần như là cội nguồn duy nhất của mọi thành công trong thơ. Do vậy tôi không lấy làm lạ khi ông “không mê những nhà thơ thần đồng”, “những nhà thơ thiên phú” vốn chủ yếu sống “bằng vốn trời cho”. Chỗ này tôi cũng lại khác ông. Trong mọi hoạt động văn chương (không riêng gì sáng tạo văn chương), muốn đạt tới đỉnh cao cho phép, theo tôi, phải có  “khiếu”. Có người suốt đời cặm cụi làm văn chương, vẫn chỉ có thể coi là “thợ văn” chứ không thể là “nhà văn”. Chỉ bởi thiếu (hoặc không có) “khiếu” và “tài”.

“Khiếu” là do “trời” cho, sinh ra đã có rồi. Cố nhiên, nếu ko biết vun xới “khiếu” văn sẽ mau tàn lụi. Phải luyện hàng ngày nếu không muốn nói là hàng giờ. Rèn luyện bồi đắp một cách tích cực, một cách tự giác. Song cái lạ và cũng chính là cái kỳ diệu của nghề văn là ở chỗ rèn luyện bao nhiêu, học hỏi bao nhiêu cũng chưa đủ nếu thiếu cái “khiếu” kia. Không, tôi không có ý định thần thánh hóa hay thần bí hóa tài năng văn chương đâu. Đó là sự thật. Tôi thường phân biệt 2 khái niệm: “tài nghệ” và “tài năng”. “Tài nghệ” có thể trau dồi kiên trì là có. “Tài năng” thì không thể. Tôi nghiêng về ý kiến của M. Gorki khi nhà văn khuyên những ai không có “khiếu” nên giã từ nghề văn. Ở ta, Phạm Văn Đồng cũng từgn có lời khuyên nhủ tương tự. Nếu cần viện dẫn một cách “kinh viện” tôi xin đưa ra ý kiến của Viên Mai. Tác giả “Tùy viện thi thoại” cho rằng, tài thơ vừa gồm “tiên thiên” vừa gồm “hậu thiên”. Ông giải thích như sau: “Thơ văn tạo ý dùng bút cũng như tóc da cười nói của người đẹp là những cái tiên thiên, thơ văn đặt câu dùng điển như quần áo, trang sức của người đẹp là những cái hậu thiên, tiên thiên thuộc về năng khiếu, và hậu thiên là do học tập mà nên”. Khi phân tích vai trò của năng khiếu, Viên Mai có so sánh việc viết thơ làm văn với việc săn bắn, rồi ông khẳng định: “Tin hay không tin không ngoài bốn chữ thiên phận và học lực. Mạnh Tử nói: “Đến là do sức, trúng không phải do sức”. Đến là do học lực, trúng là do thiên phận”. Những lời bàn luận thật giàu sức thuyết phục! Đó cũng chính là những gì tôi tin. Vậy nên tôi vừa mê “những nhà thơ thần đồng” vừa mê những “lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ”. Bởi đó là hai yếu tố gắn bó với nhau trong quan niệm của tôi. Thiếu một trong hai yếu tố đó sẽ khó có những “áng danh văn” của những “bậc đại bút”.

Như vậy tôi đã trình bày những chỗ khác biệt chính yếu trong quan niệm thơ giữa tôi với Lê Đạt. Hóa ra toàn những điều quen thuộc trong lý luận bấy lâu.

                                                                                                                      Đà Lạt 12-9-1994