Trao Đổi‎ > ‎

Văn chương - bản sắc và giá trị

Gần đây, nhà văn Đỗ Chu viết đều đều, in đều đều, tỏ rõ nội lực và ưu thế của mình. Giữa dòng chảy văn chương vài năm trở lại đây xem ra có chiều bằng lặng thì đọc anh ít khi thấy chán, có lẽ là bởi nó gợi, nó đậm, buộc người ta khi rời trang sách, có thể đồng tình hoặc không đồng tình với anh, cũng đều phải nghĩ thêm, nghĩ lại nhiều chuyện, cả xưa và nay, gần và xa, chuyện văn lẫn chuyện đời. Không phải anh chỉ hiến cho bạn đọc tòan vị ngon ngọt cả đâu. Còn có vị đắng. Có cái đắng dã tật. Cũng có cái đắng nhằn nhặn, tạo cảm giác gây gây. Cũng là chuyện thường tình thôi, khi đã bị cuốn vào nghiệp cầm bút thì khó ai tránh khỏi vậy!  Ở bài viết này, tôi chỉ xin tập trung bàn về một quan niệm mới đây của anh xung quanh giá trị văn chương dân tộc trong thời hội nhập. Thiết nghĩ, chắc phải có nguyên cớ sâu xa khiến anh buộc phải cầm bút. Và, vì vậy, chắc đây không chỉ là quan niệm của riêng anh.

Điều tôi muốn nhắc tới liên quan tới tùy bút Bàn về một dáng đứng của Đỗ Chu in trên Báo Văn nghệ, Số 40/2007. Bệ phóng của mọi liên tưởng phóng đạt của anh là  tâm trạng và việc làm của nhà văn Chu Phác lúc rời quân ngũ để nghỉ hưu. Khi có thể gác kiếm nghỉ ngơi, có dịp vui vẻ quây quần quanh cái gia đình thân thuộc và ấm cúng của mình, ông lại không thế, nói như người xưa, thân ông nhàn mà tâm chẳng thể nhàn. Ngày ngày, ông vẫn cứ bận rộn với công việc tình nguỵên, âm thầm mà thiêng liêng là dùng mọi khám phá có thể của cận tâm lý học hiện đại, cùng với những người đồng chí hướng tâm huyết như mình, để tìm mộ đồng đội, hữu danh có vô danh có, còn nằm rải rác ở khắp các chiến trường ác liệt năm xưa. Thế rồi, theo con đường chính, họ còn gặp bao ngả ngang lối tắt khác, thật là khó xử, nhưng dường như  không thể không xử. Đó là những nấm mộ tội nghiệp của những người lính Cộng hòa chết trận thê thảm vào những năm tháng đất nước nhức nhối bởi sự xẻ chia. Thật thấm thía với ý nghĩ có sức xoáy sâu vào lòng người này của Đỗ Chu: “Trên các nẻo đường dọc ngang khắp ba miền đất nước, các anh còn thường xuyên gặp không biết bao nhiêu ngôi mộ khác… đó là mộ của những binh sỹ phía bên kia. Thế là lại thêm một vấn đề nhức nhối nữa đặt ra khiến các anh không thể quay mặt đi. Đây cũng là một thách thức lớn, một công việc lớn của tòan xã hội, chừng nào vẫn còn thiếu một cách nhìn đầy đủ trước vấn đề hết sức hệ trọng này, dân tộc chúng ta chưa thể tìm được một dáng đứng mới. Sau mọi đau đớn nếm trải, với không biết bao nhiêu cái gía phải trả, giờ đây cái chúng ta cần là phải tìm cho đất nước một dáng đứng sao cho thật vững chãi. Đây cũng là mong muốn đã có từ muôn đời…”. Riêng với những người làm văn chương, văn học, tôi nghĩ, điều này còn gợi nên những liên tưởng khác, không thể nói là kém ý nghĩa, ấy là việc xem xét lại, đánh gía lại bộ phận văn chương công khai ở miền Nam trong giai đọan 1954 – 1975 mà cho tới giờ, nếu thẳng thắn để nói, ta chưa làm được bao nhiêu, chủ yếu là do mặc cảm, thiên kiến nặng nề còn thống trị trong đầu óc của không ít người. Tôi xem đây là một trong những vị đắng hữu ích mang tính phản tư sâu xa của bài ký.

Thế còn vị đăng đắng mang thiên hướng khác? Nó nằm ở cuối bài tùy bút. Ai mà chẳng biết, những gì lắng đọng nhất thường được người viết chủ tâm ý nhị dồn vào phần kết, nên bao giờ nó cũng có sức nặng riêng. Đỗ Chu nói về một sự thật văn chương nhiều người đã biết nhưng lại gửi gắm những tâm sự sâu nặng không phải ai cũng có thể trải qua: “Tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam đầu tiên được dịch qua tiếng Pháp từ cuối thế kỷ XIX là áng văn xuôi Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ. Vì trong tiếng Pháp không có dấu “ư” cho nên có lúc đã có người nghĩ rằng đó là sách của Nguyễn Du được chọn dịch. Nguyễn Dữ với Truyền kỳ mạn lục cũng rất xứng đáng để cho nhân lọai biết tới, nhưng bảo đây là một tác phẩm tiêu biểu vào bậc nhất nhì thì chưa phải, cho nên cũng chưa thể vội vàng cứ thấy cuốn sách nào được dịch ra nước ngoài là bảo đấy là tác phẩm tuyệt vời nhất…Sinh thời nếu ông Lỗ Tấn mà sớm được dịch thì độc giả phương Tây chắc chắn sẽ nhìn nhận văn học hiện đại Trung Quốc không phải quá thiếu người tài”.  Anh cảm luận một cách trực diện về tình hình chuyển dịch các tác phẩm văn chương Việt Nam ra nước ngòai. Đọc đến đây thì dường như chưa có điều gì cộm lên, đáng phải bàn lại cả. Chẳng phải mới đây tại Hội thảo Quốc tế “Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hóa khu vực vào quốc tế” được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 11 năm 2006, nhiều tham luận đã đụng tới vấn đề này rồi sao! Thực tế quả còn ngổn ngang bao nhiêu chuyện chung quanh việc giới thiệu văn chương Việt Nam ra nước ngòai rất cần được khẩn thiết tập trung tâm lực để tháo gỡ. Nhận xét của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều sau khi đi dự Hội chợ sách 2006 ở Gothenburg (Thụy Điển) rất đáng để chúng ta suy gẫm:“Bạn đọc Thụy Điển chẳng biết một chút gì về thơ ca Việt Nam. Chỉ có hai nước dịch thơ Việt Nam nhiều nhất trên thế giới từ trước đến nay là Liên Xô cũ và Mỹ. Liên Xô cũ dịch thơ chúng ta là do chính sách ngọai  giao. Mỹ dịch thơ chúng ta vì để tìm hiểu thêm con người Việt Nam sau chiến tranh. Cả hai không dịch thơ chúng ta vì thơ. Dù tự ái đến mấy chúng ta cũng phải thừa nhận thực tế này. Tôi mong một ngày họ dịch thơ chúng ta chỉ vì một lý do thi ca mà thôi” (Xin xem Tạp chí Nhà văn, Số 8/2007, tr.60) Tôi nghĩ, hiện trạng đáng buồn này là có thật, và không chỉ riêng đối với thi ca thôi đâu. Cần được phân giải đến ngọn ngành, tìm ra nguyên nhân, đề ra giải pháp tích cực để khắc phục. Riêng phần mình, nếu được quyền đề xuất, tôi chỉ mong ở ta sớm thành lập Trung tâm dịch thuật Quốc gia, trong đó có bộ phận chuyên lo dịch văn chương, cả vào lẫn ra. Thực tình, đây đó cũng đã xuất hiện những dự kiến tương tự rất đáng khuyến khích theo xu hướng này. Họat động của Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây có lẽ là một dấu hiệu sáng sủa hơn cả. Nhưng đó mới chỉ là thiện chí của một vài người tâm huyết, chưa mang tính Nhà nước, nên làm theo ý hướng và sở thích là chính. Mà cũng chỉ nghiêng về việc dịch văn chương nước ngoài theo nhu cầu của trong nước, con đường ngược, giới thiệu văn chương nước ta ra bên ngoài thật ra chưa làm được mấy. Cũng chả trách được họ. Vậy nên, phải có một cơ quan chuyên trách tầm cỡ quốc gia, có đầu tư đáng kể và lâu dài, mới mong đảm nhận nổi chức năng giàu ý nghĩa, quy mô và cần thiết ấy. Trong tình hình kinh tế - xã hội nước ta đã có nhiều biến chuyển rõ rệt theo xu hướng đi lên như hiện nay, một dự án văn hóa như thế không thể bảo là qúa viển vông, vu khoát cho được. Chỉ có vậy mới nhanh chóng chấm dứt tình trạng dở khóc dở cười ai cũng thấy, chả ai muốn, nhưng chưa mấy ai thật sự bắt tay vào làm như vừa nêu.

Nhưng, như đã nói, đọc bài tùy bút của Đỗ Chu cho tới đọan này hầu như vẫn chưa mấy ai có ý kiến ngược chiều. Ở đọan tiếp sau, liền mạch với ý tưởng vừa nêu, nếu tinh ý, ta đã bắt đầu cảm thấy khang khác. Nét gờn gợn, vị nhằn nhặn khó trôi đã dần dà lộ ra. Anh bảo: “Nghĩ cho cùng mọi giải thưởng ở đời, kể cả giải Nobel cũng chỉ nên nhìn nó trong một khuôn khổ rất tương đối mà thôi (Vẫn chưa thật rõ, cái vị kia! - PQT). Công chúng đáng tin cậy nhất sau cùng vẫn là công chúng ở quê nhà tác giả (Đã dần dần rõ hơn! - PQT). Đã không đủ sức chinh phục những người đang sống quanh mình thì mong gì thiên hạ biết đến. Sự hão huyền rất dễ thành một căn bệnh khó chữa…(Đến đây thì đã quá rõ! - PQT). Vậy nên, chẳng có gì là khó hiểu, khi Đỗ Chu lập tức khái quát thành một quy luật, mà theo đúng cách diễn đạt của anh, thì phải nên hiểu là một chân lý bất di bất dịch, đến nỗi chẳng còn đất trống cho sự bàn cãi nào thêm nữa. Anh viết: “Con đường đi đến những tác phẩm có biên độ ảnh hưởng rộng thường bao giờ cũng được chính nhân dân mình thẩm định – PQT chủ ý nhấn mạnh - công bằng cùng thời gian, những tác phẩm mang đậm dấu ấn dân tộc, đậm đà hồn cốt dân tộc chính là những tác phẩm dễ được nhân lọai trân trọng”.  Chung quanh điểm này, tôi lại nghĩ có phần khác Đỗ Chu. Xin được chân tình giãi bày cùng anh.

Bàn về văn chương nghệ thuật, người ta thường có xu hướng phân biệt phạm trù bản sắc dân tộc với phạm trù giá trị dân tộc. Tôi nghĩ như vậy là xác đáng và cần thiết. Chúng hiển nhiên có quan hệ mật thiết với nhau, giá trị dân tộc bao giờ cũng thấm nhuần bản sắc dân tộc.  Tôi hiểu ý của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt hòa nhập nhưng không hòa tan mà nhà văn Đỗ Chu có nhắc tới trong bài ký là theo tinh thần bản sắc như vậy. Tuy nhiên, phải thấy đó là hai phạm trù khác nhau. Một tác phẩm mang bản sắc dân tộc, dẫu là đậm đà, chưa hẳn đã có giá trị dân tộc. Bản sắc nghiêng về tính chất, trong khi giá trị lại thuộc về phẩm chất  Hơn thế, giá trị dân tộc  giá trị nhân lọai cũng không hòan tòan là một. Hẳn nhiên, không thể có giá trị nhân loại trừu tượng, chẳng bắt rễ vào một vùng đất nào cả. Có điều, giá trị nhân lọai bao giờ cũng ở tầm cao hơn, không phải bất cứ giá trị dân tộc nào, ngay cả khi được thừa nhận rộng rãi trong phạm vi đồng bào mình, cũng vươn tới nổi. Nếu hiểu như vậy, thì trong trường hợp này, nhà văn Đỗ Chu hình như có sự lầm lẫn giữa ba khái niệm then chốt: bản sắc dân tộc, giá trị dân tộc  giá trị nhân lọai. Tôi cho rằng, nhân dân mình, nghĩa là dân tộc mình chỉ tòan quyền trong việc định giá những giá trị văn chương thuộc dân tộc của mình mà thôi. Xin lưu ý, giá trị chứ không phải là bản sắc.  Bản sắc chỉ là điều kiện, mặc dầu là điều kiện không thể thiếu, thậm chí bắt buộc, khi muốn được cộng đồng dân tộc thừa nhận như một giá trị. Chỉ một số ít trong giá trị dân tộc được nhân loại thừa nhận rộng rãi, nói theo cách của Đỗ Chu là có biên độ ảnh hưởng rộng, mới gia nhập vào di sản văn chương nghệ thuật của thế giới. Số này không nhiều, và không thể nhiều được, bởi lẽ tiêu chí của giá trị nhân loại khi nào cũng cao hơn, phổ biến hơn, và chính vì thế mà giá trị nhân loại luôn tiềm ẩn những giá trị vĩnh hằng, nghĩa là có xu hướng vượt thóat mọi giới hạn khắc nghiệt của thời gian. Cũng chính vì vậy mà ta chỉ có thể định hướng trong sự nghiệp tạo dựng một nền văn chương mang bản sắc dân tộc, chứ không thể đòi hỏi các tác phẩm mang giá trị dân tộc. Giá trị nhân lọai lại càng không thể, vì điều đó thuộc về tài năng. Những tài năng lớn, những tài năng đích thực. Mà đã là tài năng tầm cỡ và với tính chất ấy thì bao giờ cũng hiếm hoi. Chúng là tinh hoa của  trời và đất, tự nhiên và xã hội, lịch sử và hiện tại, những cái lộ diện dễ nhìn thấy và cả những cái chìm ẩn khó nhận ra. Cho nên, sự xuất hiện của chúng lắm khi đường đột, khó ai có thể quyết định và đóan định cho nổi. Nói gọn lại, ta có quyền mong mỏi xuất hiện những tác phẩm văn chương có giá trị, ở tầm mức dân tộc hay nhân loại, ta cũng có thể chủ động tạo mọi điều kiện cho chất Refael trong mỗi người phát triển rồi tỏa sáng, còn có xuất hiện tài năng hay không, tài năng ở tầm cỡ nào, lại hòan tòan không thuộc quyền hạn của chúng ta. Tài năng vô cùng kỳ diệu, vô cùng bí ẩn là vậy!  Một xã hội thật sự văn minh luôn hiểu và quý tài năng là bởi vậy!

Để cho rõ hơn, tôi xin được vận dụng phạm trù tầm đón đợi của Mỹ học tiếp nhận.  Như nhiều người đã biết, tầm đón đợi là  khái niệm mang tính công cụ của Trường phái tiếp nhận Konstanz được nhà nghiên cứu nổi tiếng người Đức H. Jauss phát triển trên cơ sở tiếp thu từ quan niệm của K. Mannheim, trong cuốn sách ông này công bố vào năm 1958. Phạm trù tầm đón đợi được H. Jauss trình bầy khá rõ ràng và cụ thể trong công trình nổi tiếng Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa học văn học ra đời năm 1970 (*). Khi nâng thành khái niệm khoa học, H. Jauss buộc phải “khách quan hóa” nhằm xác định nghĩa ổn định cho khái niệm, và viết:“Nhưng khách quan hóa tầm đón đợi …có thể xác nhận nhờ ba yếu tố…: Đầu tiên là từ những chuẩn mực đã quen thuộc hoặc từ thi pháp nội tại của thể lọai; thứ hai là từ mối quan hệ ẩn kín đối với những tác phẩm quen thuộc của môi trường văn học, thứ ba là từ mâu thuẫn giữa hư cấu và hiện thực, chức năng thi pháp và thực tiễn của ngôn ngữ mà người đọc nhạy cảm thường xuyên có khả năng so sánh” (1. tr.90). Vậy là nghĩa của khái niệm tầm đón đợi được H. Jauss xác định rất rõ ràng, đó là trình độ và kinh nghiệm văn chương có trước của mỗi người đọc khi tiếp xúc với tác phẩm, bao gồm ba bộ phận hợp thành:  một là, quan niệm về thể lọai; hai là quan niệm về hình thức và đề tài; và ba là quan niệm về đặc trưng văn chương ở sự phân biệt giữa hư cấu và thực tế, giữa ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ tòan dân. Cần phát triển quan niệm của H. Jauss, như với quan niệm của bất kỳ nhà lý luận nào khác. Theo tôi, liên quan tới vấn đề đang bàn, có thể rút ra hai hình thái tầm đón đợi cơ bản là tầm đón đợi cá nhân  tầm đón đợi cộng đồng (vùng miền, dân tộc, khu vực, châu lục và nhân lọai). Tầm đón đợi dạng nào, nhất là tầm đón đợi cộng đồng, bao giờ cũng chịu chi phối một cách âm thầm mà chắc chắn bởi nhiều nhân tố kinh tế - xã hội – văn hóa – văn học cực kỳ phức tạp. Theo quy luật thông thường của tiếp nhận thì một tác phẩm văn chương càng được đón nhận rộng rãi thì càng có điều kiện để gia tăng ảnh hưởng của mình. (Ở đây, tôi chưa nói tới những giá trị mang tính khám phá nghệ thuật, chúng có những yêu cầu riêng mà nếu có dịp tôi sẽ bàn sau). Cần thấy rõ mối tương quan cùng sự khác biệt về tầm mức giữa tầm đón đợi nhân loại với tầm đón đợi dân tộc. Do tầm đón đợi nhân loại rộng hơn, nên biên độ ảnh hưởng của những tác phẩm nằm trong tầm đón đợi (Ở đây có lẽ nên gọi là trường đón đợi thì mới đúng!) của nó vì thế cũng rộng hơn so với bất kỳ tầm đón đợi cộng đồng nào khác, cố nhiên trong đó bao hàm cả tầm đón đợi dân tộc. Đã rõ là giá trị nhân lọai  luôn cao hơn và luôn bao hàm giá trị dân tộc. Vươn tới giá trị tòan nhân loại bao giờ cũng là ao ước cháy bỏng của những người cầm bút xưa nay là vì thế!

Như vậy, tôi đã trình bày khá tường tận sự khác biệt chính trong quan niệm của tôi so với quan niệm của Đỗ Chu chung quanh quan niệm về bản sắc, giá trị dân tộc  giá trị nhân loại của văn chương. Thiết nghĩ, ý kiến của một nhà văn khi nào cũng mang tính chất cá nhân. Huống hồ, đây lại là những lời bàn về một vấn đề quan trọng mà không hề đơn giản. Rất mong được sự quan tâm trao đổi của bạn đọc, nhất các đồng nghiệp. Trước khi ngừng bút, tôi muốn chúng ta cùng đọc lại lời kết của bài tùy bút Bàn về một dáng đứng của Đỗ Chu, để một lần nữa cùng tác giả soi xét lại mình trong can hệ với bao vấn đề lớn nhỏ của văn chương cũng như của đời người:“Ở trên đã nói, ta không thiếu những nhà ngoại cảm cừ khôi, những ông đồng bà cốt có khả năng đặc biệt, thật hết sức đáng khâm phục, nhưng giá mà các vị tu luyện thêm thế nào để có thể gọi được cả hồn cho người đang sống, chẳng hạn như hồn anh chị em văn nghệ sỹ lúc này, thì thế mới thật là phúc đức. Hồn tôi, hồn bạn bè tôi, rất nhiều lúc vẩn vẩn vơ vơ, nhiều lúc nó cứ lang thang vô định thế nào, khiến vợ con thường than thở, ông ấy nhà tôi trông ngu ngơ như kẻ mất hồn”.

________________________________________________________________________________

 

* Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa học văn học –Trương Đăng Dung dịch từ nguyên bản tiếng Hung – Tạp chí Văn học Nước ngoài, Số 1/2002.