Trao Đổi‎ > ‎

Tài và Tâm của người viết phê bình

        Lẽ ra đã không có bài viết này nếu như không có cái ngoặc đơn ghi rõ tác giả bài báo “Sự ngái ngủ của phê bình” Hàn Vũ Hùng là học sinh của Trường viết văn Nguyễn Du. Tôi là người rất trọng uy tín của Trường Nguyễn Du - một trong số ít trường trên thế giới tập trung đào tạo các cây bút trẻ, bổ sung cho đội ngũ những người làm văn chương ở nước ta. Đã không ít nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận - phê bình xuất sắc trưởng thành từ đây. Công lao không nhỏ của Nhà trường đã được cả xã hội thừa nhận. Tôi cũng là người rất trọng nhà văn và nghề văn. Đó là nghề cao quý của những người cao quý. Và có lẽ vì vậy mà danh hiệu và nghề nghiệp đòi hỏi rất nhiều, rất cao ở những ai đã nguyện hiến thân cho nó. Phải trau dồi, phải rèn luyện có thể nói là suốt đời, không ngừng, không nghỉ. Thế mà có mấy ai cảm thấy đủ đâu. Một tài năng lớn như Chế Lan Viên khi đi gần hết cuộc đời sáng tạo sôi nổi và giàu ý nghĩa của mình vẫn nhận thấy (không chỉ là cảm thấy) “trang mơ ước” của đời mình vẫn còn xa vời ở phía trước, và mỗi khi đối mặt với trang viết, nhìn lại những gì vừa viết ra, lại thêm một lần thấm thía cái “hữu hạn” của ngòi bút. Anh Hàn Vũ Hùng là học sinh trường viết văn, nghĩa là có ý nguyện trở thành nhà văn. Cố nhiên, có thể trở thành nhà văn hay không, trở thành nhà văn ở tầm mức nào còn là chuyện khác. Có ý định trở thành nhà văn sao anh Hùng lại dụng bút viết một bài như “Sự ngái ngủ của phê bình”, tình thực, tôi không hiểu. Do vậy, tôi mới viết bài này, không có mục đích trao đổi về cái tài và cái tâm của người cầm bút hay nói riêng là của người phê bình. Hãy xem đây như  những tâm sự của riêng tôi với các bạn đồng nghiệp xa gần. Nếu có gì không phải, rất mong được cùng đối thoại.

      Việc đầu tiên là tôi tìm đọc lại tập thơ “Sự mất ngủ của lửa” của Nguyễn Quang Thiều và nhất là bài viết “Sự mất ngủ của lửa – hay là căn bệnh ngủ chết người của thơ” của Trần Mạnh Hảo - đối tượng phê phán của Hàn Vũ Hùng. Có một điều đáng mừng là một vài năm trở lại đây, kế tục truyền thống của Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư…một số nhà thơ thuộc thế hệ sau đã chủ động cầm bút viết phê bình, như Vũ Quần Phương, Trần Đăng Khoa, Trần Mạnh Hảo, …Nhiều bài viết thành công của các anh đã tìm được sự kết hợp khá nhuần nhị giữa tính khoa học và tính nghệ thuật, tạo ra những trang viết vừa thú vị vừa thấm thía chứng tỏ năng lực cảm thụ tinh tế, sắc sảo của người viết. Đặc biệt là lối nói và cách viết say cuốn và thanh thoát biết bao nhiêu! Các anh đã phát huy được thế mạnh của người nghệ sĩ khi tiếp cận với các chuẩn mực thường bị khuôn cứng của việc thẩm định văn chương. Riêng góc độ này, các nhà phê bình chưa từng là nhà văn, nhà thơ quả phải nhường bước. Với Trần Mạnh Hảo, ngoài tư cách là nhà thơ ra, tôi còn quý anh ở điểm đó. Phải thừa nhận trong nhiều chân dung văn chương như chân dung hai nhà văn Tô Hoài và Sơn Nam, trong nhiều trang phê bình như bài viết về Chế Lan Viên, về 100 bài thơ hay in ở Thành phố Hồ Chí Minh, về thơ thời Kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ …, Trần Mạnh Hảo với tư cách là nhà phê bình đã thật sự làm hài lòng nhiều người đọc. Chúng như những luồng gió mới thổi vào lãnh địa phê bình có vẻ như yên ắng trong vài năm trở lại đây. Tuy nhiên, ngoài cái ưu thế nổi trội vừa nói, phải thấy các cây bút nhà thơ – phê bình thường ít khi thoát khỏi cái “lốt” cố hữu của bản thân. Trần Mạnh Hảo cũng không phải là một biệt lệ. Phê bình cần “tỉnh” hơn là “say”, thế nhưng đôi lúc anh “say” hơn “tỉnh”, và nhất là lại “say” trong khi rất cần “tỉnh”. Vậy nên đôi lúc anh khó tránh khỏi cực đoan. Với người nghệ sĩ, người ta dễ thể tất, còn đối với nhà phê bình người ta khó bỏ qua hơn, đặc biệt trước những người ác ý. Ngay với bài “Sự mất ngủ của lửa – hay là căn bệnh ngủ chết người của thơ” cũng vậy. Những đoạn sau đây chưa phải đã tạo ra được sự cảm thông của đông đảo bạn đọc: “Tôi không thể tin vào một con người trước mọi vấn đề, mọi tình huống đều chỉ biết một lối thoát duy nhất: ngẩn ra mà nhè khóc – PQT nhấn mạnh”. Hay: “Thấy các cô gái cưỡi xe mặc váy, tự nhiên tự lành, tác gia như lăn đùng ra mà quằn quại một cách vô lối…- PQT nhấn mạnh”. Theo tôi, đó là cách nói phù hợp với người nghệ sĩ hơn là với người phê bình. Tương tự, cái cách rút câu thơ ra khỏi văn cảnh để phục vụ cho ý định có trước như đoạn phân tích “ước mơ biến thành chó” trong “Bài hát cố hương” của Nguyễn Quang Thiều quả có cái gì thật khiên cưỡng. Song, nhìn đại thể, bài viết của Trần Mạnh Hảo về thơ Nguyễn Quang Thiều ít khi tạo ra cảm giác hồ nghi nơi người đọc. Trong khi ấn tượng ấy lại rất rõ ở bài“Sự ngái ngủ của phê bình”. Tôi không chỉ hoài nghi cái tài mà còn hoài nghi cả cái tâm của Hàn Vũ Hùng.

      Trước hết là cái tài. Bài viết của Hàn Vũ Hùng ngắn (chưa đầy hai cột báo) chủ yếu là nêu nhận xét, có chứng minh song rất ít. Ngoài vài dòng mở đầu nêu lý do của bài viết, tác giả tập trung vào 4 luận điểm có ghi thứ tự từ 1 đến 4. Trong 4 luận điểm được trình bày có lẽ luận điểm thứ 3 được viết ngay ngắn nên có sức thuyết phục hơn cả. Ba luận điểm kia tiếc thay càng đọc càng thấy mắc. Có thể nói, hầu như không có câu nào không có sai phạm. Tôi nghĩ nếu Hàn Vũ Hùng muốn nhân danh thế hệ nhà văn trẻ thời “hậu chiến” (chữ dùng của tác giả) để phát ngôn thì quả là không mấy thích hợp vì anh chưa đủ tư cách. Nói đến thế hệ trẻ là nói đến trường lớp, bài bản, đâu còn viết văn làm thơ phần nhiều bằng kinh nghiệm bằng tư chất như một số nhà văn lớp trước. Trong khi Hàn Vũ Hùng lại tỏ ra thiếu hụt về tri thức đến lạ lùng. Khoan nói những chuyện cao siêu, xin từ cái tối thiểu nhất: tính chính xác của tư duy đi liền với tính chính xác của từ ngữ sử dụng. Hàn Vũ Hùng muốn bênh vực, biện minh cho Nguyễn Quang Thiều mà không biết cách. Lại còn sai nữa. Ví như anh viết: “Tỏ ra – PQT nhấn mạnh – uyên bác, mới mẻ tân kỳ là tốt chớ sao lại chê bai”. Theo nghĩa thông thường “tỏ ra” nghĩa là mình không có hoặc có rất ít mà lại muốn ra vẻ là mình có thậm chí rất nhiều. Chuyện ấy chưa dễ đưa tới lố bịch, chướng tai gai mắt lắm! Người có thực chất không bao giờ muốn “tỏ ra” hết. “Hữu xạ tự nhiên hương” thôi. Nên gắng “tỏ ra” là uyên bác, là “mới mẻ”, là “tân kỳ” thì không có gì hay hớm cả. Vậy tự mãn làm gì?! Người đời thường khuyên nhủ nhau,“đẹp đẽ trưng ra, xấu xa đậy lại” kia mà.

      Đấy là tri thức sơ đẳng. Cao hơn một chút, xin nói đến những kiến thức về lý luận văn chương mặc dù cũng chỉ ở mức độ tối thiểu. Dễ thấy ngay những kiến thức cơ bản nhất về văn chương có trong hầu hết các giáo trình anh Hùng cũng chưa nắm vững. Có lẽ anh đọc giáo trình chưa kỹ. Hơn một lần trong bài báo ngắn anh lên tiếng chê bai Trần Mạnh Hảo: “Là nhà thơ mà Hảo không hiểu bản chất thơ ca và quá trình sáng tạo của nhà thơ”. Đọc kỹ lại thấy chân lý không cùng đường với anh. Hàn Vũ Hùng biện luận: “Người ta không đói và buồn cũng có thể viết Trong cơn mơ đói và buồn” (thơ Nguyễn Quang Thiều)”. Vâng, tôi hoàn toàn tán đồng với tác giả bài báo rằng, không chỉ ở trường hợp Nguyễn Quang Thiều, nhà thơ nào cũng vậy, không buồn vẫn có thể viết ra những câu thơ buồn, không vui vẫn có thể làm ra những câu thơ vui…Chỉ có điều nếu không nhập vào nỗi buồn vui, sướng khổ của người đời thì chỉ sinh ra thứ thơ “tỏ ra” buồn và vui, nghĩa là thứ thơ giả. Người đọc chưa khi nào và không bao giờ cần thứ thơ ấy. Nếu cần nói đến lý luận thì có lẽ không ai quan tâm đến văn chương lại không nghe biết câu nói sâu sắc của nhà thơ Pháp danh tiếng ở thế kỷ XIX: “Hãy đập vào trái tim, thiên tài ở đó!”. Nói thế nào thì nói, thi ca trước hết là tiếng nói của tình cảm. Muốn xúc động lòng người nhà thơ phải thật sự xúc động. Sự chân thực đến cùng của người viết có điều kiện làm nên những trang văn bất tử. Có lẽ, đây là bài học cơ bản đối với người sáng tác. Lại nữa, xin hãy nghe tác giả bài báo phản bác Trần Mạnh Hảo: “Mơ trong thơ và mơ của tác giả là hai sự khác nhau, mang ý nghĩa khác nhau…Trong thơ mơ không còn là mơ, tôi không còn là tôi…” Bảo rằng “tôi trong thơ và tôi thực của tác giả không đồng nhất” thì đúng. Nhưng đến mức“mơ trong thơ và mơ của tác giả là hai sự khác nhau, mang ý nghĩa khác nhau” thì có lẽ phải bàn thêm, bàn thêm rất nhiều. Thơ của Nguyễn Quang Thiều - đối tượng tìm hiểu của cả Trần Mạnh Hảo và Hàn Vũ Hùng - phần nhiều là thơ trữ tình. Đó là tiếng thơ trực tiếp bộc lộ cảm nghĩ của con người. Có trường hợp nhân vật trữ tình và cái tôi trữ tình không phải là một. Nhưng trong nhiều trường hợp chúng hoà quyện vào nhau. Hầu hết các bài thơ trong tập“Sự mất ngủ của lửa” thuộc loại sau. Tuy nhiên, Hàn Vũ Hùng muốn nói tới cái tôi trữ tình trong thơ và cái tôi thật của nhà thơ. Đồng nhất nhập làm một quả là thiên lệch. Còn cho rằng cái tôi trữ tình trong thơ khác biệt đến mức xa lạ với cái tôi thật của nhà thơ như tác giả bài báo quan niệm thì lại rất chông chênh. Tai hại là từ cái lối lập luận kiểu ấy dễ đưa tới thái độ phủi tay vô trách nhiệm của nhà thơ. Không! Không thể được! Liệu ai có thể biện hộ cho người viết những câu thơ sau là không bi luỵ, bi quan:

            Nghĩ tới tương lai trào nước mắt

            Nhìn về quá khứ toát mồ hôi

Phải thấy đây là sự bế tắc của chính tác giả.

      Vậy là, anh Hùng càng viết lại càng thiếu thuyết phục. Xin nêu một loạt ví dụ khác: “Thi sĩ phải biết khóc, khóc nhiều hơn thiên hạ”. Rồi: “Nếu đã chấp nhận lôgíc của thế giới chừng mực thì không thể đi vào thế giới không chừng mực của tâm linh con người”…Vì không muốn kéo dài bài viết, vả lại, chân lý xem ra đã quá rõ ràng, nên tôi xin miễn bàn. Tôi chỉ muốn nói thêm rằng do tư duy có thể nói là mù mờ và tầm hiểu biết có thể xem là nông cạn, nên nhiều lúc Hàn Vũ Hùng cứ như tự mâu thuẫn với chính mình. Ra vẻ khách quan, tác giả bài báo viết: “Tôi nghĩ…Sự mất ngủ của lửa nổi bật lên sắc sảo, xứng đáng được Giải Hội Nhà văn Việt Nam, mặc dù tôi thấy chưa phải là một tác phẩm thơ xuất sắc – PQT nhấn mạnh”. Thế mà, có lạ không, trong những đoạn sau, khi triển khai ý tưởng của mình, anh Hùng lại đi ngược với cái điều cốt lõi mà chính anh đã khẳng định: “Những gì trong thơ Thiều đều hiện thực, có điều Thiều đưa hiện thực bằng những tia sáng lạ thường của một tư duy thẩm mỹ hiện đại sắc bén, giàu ưu tư và nội lực văn hoá…”. Và: “Tôi thấy tập thơ của Thiều đầy cảm xúc, đầy ấn tượng hình ảnh, đầy tâm hồn và trí tuệ”. Sự đánh giá rất cao, nghe cứ như phải tặng Giải Nobel Văn chương mới phải. Ấy vậy mà mới chỉ là Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam thôi. Lại chưa thể coi là “tác phẩm thơ xuất sắc” đâu đấy. Ôi! Có phải tôi đang đọc thứ phê bình “ngái ngủ” không đây?

      Vâng, tôi đã bắt đầu bằng chữ tài và có lẽ đã nói quá nhiều về nó, trong khi lẽ ra nên làm ngược lại, bắt đầu bằng chữ tâm và nói thật nhiều về cái chữ rất hệ trọng đối với người cầm bút này. Vì như Đại thi hào Nguyễn Du (Trường anh Hùng đang học được vinh dự mang tên ông) từng nói: “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”. Nghề văn có lẽ hơn bất cứ một nghề nào khác, cái tâm có vai trò thật đặc biệt. Vả chăng, trong phẩm chất nghệ sĩ của nhà văn, cái tâm gắn với cái tài. Hơn thế cái tài còn được khơi nguồn từ chính cái tâm. Nghĩ đến chữ tâm của người viết phê bình sau khi đọc xong “Sự ngái ngủ của phê bình”, tôi không khỏi cám cảnh. Cả ngậm ngùi, chua xót.

      Theo tôi, nhà văn (trong đó có nhà phê bình) tâm phải sáng, sáng hơn nghề khác, hơn người khác. Phải luôn luôn sáng. Lòng mà tối thì trí dễ lầm lạc lắm. Vì tâm chưa sáng nên Hàn Vũ Hùng hay suy diễn tuỳ tiện. Anh viết: “Cái sự không thiết tha tìm đọc của Hảo đối với một tập thơ ít nhiều gây dư luận của một tác giả trẻ ít nhiều có tiếng và được Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam khiến tôi ngờ rằng Hảo sẵn có thành kiến với Thiều”. Lẽ nào mới “không thiết tha tìm đọc” đã bị ghép vào tội “thành kiến”? Quả là vô lối! Hơn thế, mới chỉ “ngờ”  “thành kiến”, anh Hùng đã vội quy kết anh Hảo có “thái độ kỳ thị quá thái”. Chả thế mà mới “thích đôi bài thơ Trần Mạnh Hảo” đã “mến người luôn tuy chưa bao giờ gặp anh”. Một người chín chắn và từng trải không khi nào xử sự kiểu ấy. Mà những người nông nổi và hời hợt thì lại rất dễ “thất vọng”. Còn hay đổi thay nữa! Từ thái cực này nhảy sang thái cực khác chỉ cách nhau một sớm một chiều, đó là đặc điểm nổi bật của loại người này. Tính khí ấy đối với những người thường đã không hợp, với người phê bình lại càng không hợp. Bởi từ bản chất, phê bình vốn được xem là chuẩn mực của dư luận, là định hướng đáng tin cậy của công chúng. Những lời phát ra từ những người như anh Hùng xem ra thật đáng “ngờ”. Đây, những câu văn đã hẳn là thiếu chất văn, lại còn thiếu văn hoá, thậm chí vô văn hoá: “Đọc mấy câu thơ triết lý nhân sinh ấy (Ý nói tới hai câu thơ Nguyễn Quang Thiều “Rằng nếu lấy họ. Tôi sẽ ngủ với họ thế nào?”) mà nghĩ đến chuyện dâm thì quả là dâm”. Hoặc: “Hẳn Hảo luôn luôn no và vui nên mới chế nhạo bằng lời lẽ hồ đồ…”. Rồi nữa, một lời bình: “Càn rỡ quá”; một lời đánh giá: “Nếu tôn trọng lôgíc của sự thật thì siêu thực thế quái nào được”. Thực tình tôi đỏ mặt vì hổ thẹn. Phải dẫn ra là chuyện bất đắc dĩ. Đây là lời nói của một người rắp tâm thành “nhà văn” kia đấy! Không rõ nếu là “nhà văn” thì Hàn Vũ Hùng sẽ là “nhà văn” kiểu nào? Người ta có thể từ lời lẽ hàng tôm, hàng tép để suy ra thứ hạng của kiểu “nhà văn” loại ấy được lắm chứ! Nhà văn là  “nghệ sĩ ngôn từ”. Qua ngôn từ của người viết, ta có thể nghĩ tới tầm kích của nhà văn, có gì là lạ. Chẳng thế mà Hàn Vũ Hùng trong bài viết của mình lại gọi một cách xấc xược “Hảo”, “Thiều”. Cứ cho là anh Hùng bằng vai phải lứa với anh Hảo và anh Thiều thì cũng không nên gọi như vậy. Lòng tự trọng của người cầm bút không cho phép. Chưa nói về mọi phương diện có thể nói anh Hùng không thể sánh cùng với anh Hảo và anh Thiều được.

      Cái tâm như thế khiến lý và lẽ không sáng là phải. Hàn Vũ Hùng chỉ ưa một kiểu nói: khẳng định, khẳng định bằng được và bằng mọi cách. Sao anh không biết đây là những vấn đề cần được trao đổi, tranh luận cho sáng tỏ. Liên tiếp, liên tiếp những nhận xét: “Hảo cố tình phá” “không nhận ra giá trị của nó (chỉ tập thơ “Sự mất ngủ của lửa”) ấy là lỗi của Hảo đã đọc thơ bằng găng đánh bốc và dụng cụ khoa học”. Đấy là phía Trần Mạnh Hảo. Còn phía Nguyễn Quang Thiều thì: “Thiều giàu tiềm lực”…“Sự mất ngủ… chưa là gì”… “Thiều là lực lượng dọn đường xây nền móng”…Có thể là như vậy. Nhưng, cái lối tranh ăn tranh nói, ăn nói lấy được của người đa ngôn, đại ngôn thì không thể có mảy may một sức thuyết phục nào cả. Ai cũng biết, để rút ra những kết luận hệ trọng tương tự phải cần nhiều đoạn, nhiều trang kiến giải đầy đủ và sắc sảo. Trong khi tác giả lại chỉ ưa lối “quy nạp”. Rất may là trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay người ta dễ dàng tìm được những  thông tin cần thiết nên anh Hùng có lẽ sẽ không “ám” được ai. Tác giả bài báo còn nhận xét: “May sao những gì Hào trích ra đều là những câu thơ hay – PQT lưu ý. Lẽ ra, anh Hùng nên nêu những câu thơ mà anh Hảo đã dẫn. Thực hư, đúng sai ra sao sẽ do người đọc tự đáng giá. Như thế mới là khách quan, là khoa học. Đằng này anh chỉ buông ra những nhận định, lại chỉ độc một xu hướng đề cao. Tôi tin, ngay anh Thiều – đối tượng được anh Hùng tán dương, cũng chẳng thích và muốn thế.

      Bởi cái tâm chưa sáng cái tài lại hạn hẹp nên nhiều lúc câu chữ cứ như trôi tuột khỏi sợi dây điều khiển của người viết. Ví như, Hàn Vũ Hùng muốn tán dương giọng thơ độc đáo của Nguyễn Quang Thiều,thế nhưng anh lại viết: “Nó xứng đáng vượt trội lên trên “dàn đồng ca đơn điệu và tẻ ngắt” như một giọng kèn Trôm-pét chói tai  PQT nhấn mạnh”. Vốn là người viết bình thường, từ nhỏ đã “nằm trong tiếng nói yêu thương, nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời” (Huy Cận) nên tôi không thể hiểu sai lạc ý nghĩa biểu đạt nhất là ý nghĩa biểu cảm của cụm từ “chói tai”. Đó ắt phải là tiếng thơ lạ lẫm gây khó chịu cho người nghe. “Chói tai” không khác “chối tai” là mấy. Thế nhưng, người viết lại muốn đề cao Nguyễn Quang Thiều kia đấy! Vậy là muốn một đằng, Hàn Vũ Hùng lại làm một nẻo. Anh đã không làm chủ được vốn từ của mình. Cũng tại bởi lòng người viết có phần mờ tối.

      Đây là chuyện nội lực. Rất có thể sai lầm mà người viết không hay biết. Riêng cái trò trích dẫn cắt xén thì không thể nói là vô tình. Trần Mạnh Hảo viết: “Sự khóc chỉ có thể là chính nó, nếu khóc đúng chỗ đúng lúc” để nói đến cái “thật” của người viết liên quan đến cái “thật” của thi ca. Một người ở đâu và lúc nào cũng khóc được thì tiếng khóc của người ấy đáng ngờ lắm. Người ta kể rằng khi chiến trận đã yên ắng từ lâu, nhiều người mẹ mất con, chị mất em, vợ mất chồng ngoài mặt trận đến gặp một nhà thơ danh tiếng yêu cầu ông làm thơ về nỗi đau của họ. Nhưng ông đã không làm nổi câu thơ nào như vậy. Ông nói với họ: “Làm sao giữa làng xóm bình yên tôi lại có thể làm thơ về chiến trận?”. Ý anh Hảo muốn nói tới cảm xúc chân thật ấy của người làm thơ, viết văn. Không hiểu sao anh Hùng lại vặn vẹo sang một chuyện khác hẳn: “Chỉ có người máy mới thế. Cái khóc trong thơ có phải là vần đâu mà bảo phải gieo đúng chỗ”. Đọc người khác  theo cái kiểu ấy thì chỉ có cách là xuyên tạc – xuyên tạc một cách cố ý. Ở đây, ai “cố tình ám thiên hạ”? Người đọc khó có thể lầm, và vì thế không thể không nghi ngờ chính cái tâm của tác giả bài báo.

      Trước khi kết thúc bài viết xem ra đã quá dài này, tôi muốn trở lại phần mở đầu của bài “Sự ngái ngủ của phê bình”. Hàn Vũ Hùng viết về động cơ khiến mình cầm bút: “Và tôi phải viết để cởi bỏ cái sự “úm ba la” mà anh Hảo cố tình ám thiên hạ”. Có hai nhận xét được nêu ra:

      Một là: Nếu mục đích chỉ có thế thì nếu có cho rằng bài báo nhằm chứng tỏ sự “kỳ thị thái quá” của tác giả cũng là phải nhẽ. Động cơ thường quyết định tất thảy kia mà. Không thể có hành vi lớn xuất phát từ động cơ tầm thương.

      Hai là: Thiên hạ đủ khôn ngoan để phân biệt chân, giả. Người từng trải không dễ trao lòng tin cho kẻ khác đâu. Mà người “hướng đạo” ở đây là ai nhỉ? Lực đã thiếu mà lòng lại càng thiếu hơn. Ai mà tin cho nổi!

 

                                                                                                                             Đà Lạt, 7/1994