Trao Đổi‎ > ‎

Thử nhìn vấn đề từ một giác độ khác

Một vấn đề nổi cộm trong lí luận văn chương theo xu hướng đổi mới hiện nay là việc giải quyết mối quan hệ giữa văn chương và hiện thực. Trước hết, vì đây là vấn đề trung tâm của mĩ học. Tháo gỡ được nó sẽ giúp phần nào tháo gỡ một loạt những vấn đề quan trọng khác, quyết định đến chiều hướng của cả một đời văn, của cả nền văn chương. Sau nữa, vì trong một thời gian khá dài, cái nhìn giản đơn đến mức thô thiển trong việc nhìn nhận vấn đề trên giữ một vị trí nhất định trong quan niệm của không ít người, cả giới lí luận lẫn giới sáng tác. Các tác phẩm theo khuynh hướng minh họa là có thật và ít nhiều có liên quan tới quan niệm ấu trĩ này.

Khoa học rất cần niềm tin. Nhận thức phải đạt đến mức độ nào đó mới chuyển thành niềm tin khoa học. Lòng xác tín chứng tỏ bản lĩnh nghề nghiệp mà không phải nhà khoa học nào cũng có. Phải có bản lĩnh mới mong có những khám phá, những đóng góp thật sự của riêng mình. Thế nhưng, như nhiều phẩm chất trí tuệ khác, niềm tin khoa học cũng có những bất cập, nếu không vượt qua sẽ tạo những lực cản không nhỏ cho những bước tiến thực sự của khoa học. Niềm tin khoa học dễ gây ra sự bảo thủ và cố chấp của nhà khoa học, khiến họ khó cởi mở khi tiếp nhận các quan niệm thuộc hệ thống khác. Nếu không ai độc quyền về chân lí, nếu nhận thức của mỗi người bao giờ cũng có giới hạn thì sự bất cập này của lòng xác  tín trong khoa học đáng được đặc biệt lưu tâm. Phải chấp nhận và gắng vượt qua sự hạn hẹp của tầm nhìn cũ mới mong có những bước tiến mới trên con đường tìm tòi và sáng tạo.

Cho đến thời gian gần đây, một phần do sự bất cập của lòng xác tín khoa học, việc giải quyết mối quan hệ văn chương và hiện thực ở ta về cơ bản vẫn chưa vượt ra khỏi cái nhìn quen thuộc. Nhiều người vẫn cho rằng phản ánh (đây là phản ánh đầy sáng tạo) phải được coi là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của văn chương. Xin lưu ý, mệnh đề văn chương phản ánh hiện thực được in đậm trên các công trình lí luận bấy lâu nay chủ yếu được khái quát lên từ thực tiễn sáng tạo của chủ nghĩa hiện thực, và cũng chỉ nghiêng về văn xuôi. Tôi không có ý đánh giá thấp chủ nghĩa hiện thực. Cũng như nhiều phương pháp sáng tác khác, thậm chí hơn một số phương pháp sáng tác khác, chủ nghĩa hiện thực đã đóng góp cho văn chương nhân loại nhiều tác phẩm và tác giả kiệt xuất đã và sẽ vượt qua mọi sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian. Nhưng văn chương không chỉ có chủ nghĩa hiện thực, và nền văn chương mà chúng ta đang phấn đấu xây dựng tuyệt nhiên không khuôn vào chủ nghĩa hiện thực. Vả chăng, chủ nghĩa hiện thực trong tư duy mới hiện nay đang được thay đổi sao cho nó uyển chuyển hơn. Đấy là chưa nói một số người hoài nghi chính sự tồn tại của phương pháp sáng tác chung, chỉ thừa nhận  trào lưu văn chương  như là sự gặp gỡ của các nhà văn một thời ở một hoặc nhiều nước dựa trên một số nguyên tắc chung nào đấy.

Vậy chúng ta thử nhìn nhận mối quan hệ giữa văn chương và hiện thực từ một giác độ khác xem sao? Thực chất của cách nhìn này là ở chỗ vai trò tích cực của chủ thể sáng tạo chủ yếu không ở sự phản ánh mà ở sự biểu hiện nghĩa là ở cái nhìn, ở quan niệm, ở sức soi sáng, ở tính đề xuất của nhà văn trước thực tế đời sống. Tính sáng tạo của sự mô tả phụ thuộc hầu như hoàn toàn vào tính mới mẻ của sự phát hiện tư tưởng . Nói một cách khác, văn chương là lời nói của con người về đời sống, và như vậy hiện thực chỉ nên xem là chất liệu cho sự khám phá, sự sáng tạo của người nghệ sĩ. Cái chủ yếu trong tác phẩm văn chương là lời nhắn gửi  của nhà văn tới bạn đọc. Quan niệm coi tác phẩm văn chương là bức thông điệp có cơ sở từ đây. Ta vẫn bắt gặp trong  tác phẩm văn chương những sự vật, sự việc cùng với đời sống vô cùng vô tận của con người, nhưng đây chỉ là phương tiện trong tay nhà văn nhằm thể hiện đầy sức thuyết phục ý đồ tư tưởng của mình. Tính chân thật của tác phẩm chủ yếu không phải ở sự đối chiếu giữa hiện thực được mô tả trong văn chương với hiện thực ngoài đời sống vốn là cơ sở  của sự phản ánh mà ở tính chân thật lịch sử - cụ thể của tình cảm và tư tưởng trong tác phẩm.

Phải nói ngay rằng dù cách nhìn này có khoáng đạt đến đâu cũng không cho phép tách rời văn chương  với đời sống. Mọi mưu toan xây một tháp ngà riêng cho  nghệ thuật đều lầm lạc và lỗi thời. Văn chương phải gắn liền với đời sống  của nhân dân, xã hội, dân tộc và thời đại. Đó là lẽ sống còn  của chính bản thân văn chương. Điều này không cần chứng minh. Tuy nhiên, không nên hiểu sự gắn bó giữa văn chương và đời sống theo kiểu văn chương phải bám sát để ghi lại dù là sáng tạo và trung thực mọi diễn biến của đời sống. Ngay cả khi một tác phẩm biết tách cái ngẫu nhiên để đi vào quy luật, biết loại cái hiện tượng để đi vào bản chất, nghĩa là miêu tả một cách thành công hiện thực, thì đứng ở góc độ văn chương giá trị cũng không là bao.Vậy gắn bó với đời sống phải được hiểu là sự hòa nhập với xu hướng của hiện thực, với sự chấn động bề sâu của hiện thực qua quan niệm của con người trước hiện thực. Tác phẩm văn chương phải là tiếng nói cất lên từ  đời sống, từ những nhu cầu cấp thiết, những khát vọng cháy bỏng của con người. Sự gắn bó giữa văn chương và đời sống  còn được hiểu là sự gắn bó của hệ thống quan điểm, quan niệm của nhà văn với thực tế. Cảm quan của nhà văn  chân chính phải kết tinh cảm quan chung của dân tộc, nhân loại và thời đại. Ta hình dung nhà văn như là những người tinh nhạy hơn cả trước những biến động sâu xa, tinh tế của quan niệm, lẽ sống và niềm tin. Lịch sử văn chương được coi là lịch sử tâm hồn của con người là vì vậy. Ở đây, đụng phải đặc trưng của văn chương trên phương diện nội dung và chức năng. Tôi chia sẻ với ý kiến cho rằng cần phân biệt văn chương với khoa học không chỉ ở phương thức thể hiện. Văn chương không giống với khoa học và các hình thái ý thức khác trước hết ở chức năng và đi liền với chức năng là nội dung của nó.

Văn chương sinh ra chủ yếu không phải để thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của con người mặc dầu người đọc đã thật sự từng trải và lịch lãm khi tiếp xúc  với các tác phẩm văn chương. Đã có bao nhiêu thứ trên đời đảm nhận một cách hữu hiệu việc đáp ứng nhu cầu hiểu biết hầu như vô tận ấy. Vậy cái lẽ riêng mầu nhiệm của văn chương ở chỗ nào? Xin được bắt đầu từ nhu cầu sinh tồn của con người. Người ta muốn tồn tại  trước hết phải được thỏa mãn những nhu cầu vật chất tối thiểu, cố nhiên. Có điều, con người không thể sống riêng lẻ mà phải sống hòa hợp trong cộng đồng, nhỏ là một gia đình, một dòng họ, một làng xã, lớn là một địa phương, một dân tộc, một đất nước. Con ngươì chỉ thực  sự tồn tại đúng theo nghĩa của nó khi duy trì được những quan hệ xã hội. Trong thực tế, hạnh phúc của con người  gắn chặt với cộng đồng. Thật bất hạnh cho những ai bị gia đình ruồng bỏ, xóm giềng xa lánh, dân tộc chối từ. Vậy là con người phải sống  giao hòa với xã hội  và không chỉ với xã hội mà với cả thế giới (thiên nhiên, cảnh vật chẳng hạn). Chính sự cảm thông nối liền con người  với con người, con người với thế giới. Thiếu cảm thông thì, nói như nhà văn Nguyễn Đình Thi, ngay cả vợ chồng cũng không thể cùng sống và hưởng hạnh phúc bên nhau được. Văn chương nghệ thuật dường như có vai trò to lớn không lĩnh vực nào có thể thay thế được trên phương diện này. Văn chương đem lại nhiều hiểu biết cho con người, hiểu mình, hiểu người, hiểu thế giới. Nhưng từ hiểu biết và qua hiểu biết, văn chương trở thành chiếc cầu kỳ diệu nối liền người này với người khác, thế hệ này với thế hệ khác, nối liền con người với thiên nhiên, đất trời, cây cỏ. Vì vậy mà lịch sử và cuộc sống không ngừng trôi chảy. Lưu giữ tình cảm, tạo ra sự cảm thông phải chăng là chức năng đặc thù  của nghệ thuật? Có lẽ một ai đó cho rằng tôi có ý định quay về với chức năng giáo dục xưa cũ. Có thể như vậy! Tuy nhiên, vấn đề không phải tên gọi mà là quan niệm. Nếu thừa nhận chức năng giáo dục của văn chương thì phải hiểu chức năng này khác đi, phù hợp với đặc thù của văn chương hơn. Hãy nhớ tới câu nói của Aitmatôv: "Nghệ thuật phải mở rộng chân trời của chính họ"(1).

Về phương diện nội dung, bấy lâu nay ta quen nghĩ tác phẩm văn chương vừa phản ánh vừa biểu hiện, nên nó vừa có nội dung hiện thực vừa có nội dung tư tưởng. Có người gọi bình diện thứ nhất, bình diện thứ hai. Có người gọi bình diện trước, bình diện sau. Gần đây, nhiều người thống nhất gọi bình diện bề mặt và bình diện bề sâu. Tuy nhiên nếu đứng ở góc độ ta đang bàn để xem xét thì vẫn có gì bất ổn. Không phải ngẫu nhiên mà ý nguyện trở thành "người thư kí trung thành của thời đại" của Banzac rất tích cực một thời lại tỏ ra không phù hợp với thời đại chúng ta. Giờ đây, ta muốn văn chương phải là lương tâm của thời đại, lương tri của con người. Và, "một nhà văn chân chính miêu tả cuộc sống theo cách nào đó để người đọc tác phẩm xem xét sự vật theo lập trường của anh ta, nhìn thế giới  qua trái tim, cảm xúc và tư tưởng  của anh ta. Tôi cho bản chất của tài năng nghệ thuật là ở chỗ phải có khả năng khơi gợi và truyền đến cho người đọc quan niệm của mình về những giá trị tinh thần, về những gì tốt đẹp và những gì xấu xa".(2) Thật ra, đã tồn tại từ lâu một quan niệm tương tự. Nhà thơ Đỗ Phủ sống cách chúng ta trên một ngàn năm đã từng viết:

Văn chương thiên cổ sự

Đắc thất thốn tâm tri

Cái chủ yếu của văn chương và vì vậy cái chủ yếu làm nên giá trị nội dung  của tác phẩm là "tấc lòng" được chủ thể sáng tạo thẩm mĩ gửi gắm trong từng lời của tác phẩm văn chương. Ở ta, quan niệm của Nguyễn Đình Thi cũng đáng được lưu tâm. Trong bài "Tiểu thuyết là gì?" nhà văn cho rằng cái gốc của tiểu thuyết  là ở việc kể chuyện bằng miệng. Nguyễn Đình Thi đưa ra một ví dụ: Một em bé từ ngoài đường chạy về nhà hớt hải kể với bà:"Bà ơi bà, ngoài phố có Coong ngạ! Coong ngạ, nó đeng, nó có cái tai thế này, nó kêu nhoong nhoong". Rồi nhà văn đưa ra nhận xét chí lí :"Khi em bé kể chuyện con ngựa cho bà em, thì bà cụ đã thừa biết con ngựa là thế nào rồi. Tuy vậy bà vẫn yêu thích câu chuyện của em, vì những sự xúc động  và sung sướng như mình cũng đang nhìn thấy con ngựa với con mắt ngây thơ của đứa cháu nhỏ" (3).

Có thể nói, đó cũng là đặc điểm của văn chương xưa và nay. Nhìn nhận bản chất  đích thực của văn chương luôn là mong mỏi của chúng ta, nhưng lại là công việc không mấy dễ dàng. Kiên trì một lối nhìn đối với một hiện tượng tinh thần kì diệu vào bậc nhất của con người như văn chương nghệ thuật e khó tránh khỏi xơ cứng. Từ thực tế lí luận hiện nay, tôi thử đưa ra  một cách nhìn khác, những mong soi tỏ thêm một vấn đề đang gây nhiều tranh luận. Tôi không có ý  hoàn toàn bác bỏ cách nhìn trước nay về mối quan hệ giữa văn chương và đời sống. Từ nhiều góc độ sẽ bật nổi lên một điều gì đó có ý nghĩa chăng?

Đà Lạt, tháng 11 - 1994         

 


(1)  Nhà văn bàn về nghề văn - Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Nam Đà Nẵng xuất bản 1983, tr.24

(2)  Aitmatôv, Nhà văn bàn về nghề văn (Sđd) tr.28

      (3) Công việc của người viết tiểu thuyết - Nxb Văn học, H,1969, tr.118