Trao Đổi‎ > ‎

Thư ngỏ gửi Tiến sỹ Đỗ Ngọc Thống

            Anh Đỗ Ngọc Thống kính mến!

Tôi đã đọc kỹ Thư ngỏ của anh trên Tạp chí Thế giới mới, số 604, ra ngày 27/9/2004. Gần như toàn văn bài viết dưới dạng thư ngỏ này đã được đăng trước đó trên Tuần báo Văn nghệ số 37, ngày 11/9/2004. Một tạp chí của ngành và một tờ báo của văn, thật thích hợp mà cũng thật gióng riết!

Xin được tỏ bày ngay, rất nhiều điều trong Thư ngỏ, tôi có thể chia sẻ, đúng hơn là có thể cảm thông cùng anh. Việc xác định mục đích viết thư ngỏ của anh, một người đọc khó tính đến đâu cũng phải thừa nhận là hợp tình hợp lý. Anh giãi bày: “Là người tham gia xây dựng chương trình và viết sách giáo khoa Ngữ văn mới từ lớp 6 tới lớp 12, tôi thấy cần trao đổi lại đôi điều và chủ yếu là gửi đến các nhà văn có tác phẩm viết sau 1975 một số thông tin cần thiết để hiểu đúng sự thật hơn”. Trong sinh hoạt tư tưởng và học thuật, sự không đồng nhất hay không đồng thuận với nhau phải được xem là chuyện bình thường. Cần thẳng thắn, chân tình trao đổi cho hết nhẽ. Đúng, sai sẽ do bạn đọc phán xét. Có điều, lý lẽ thường gắn liền với tính xác thực và  sự đầy đủ của tư liệu. Thông tin cho nhau những điều cần thiết hẳn nhiên là việc nên làm. Tôi cũng nhận ra thái độ công tâm của anh trước nỗi băn khoăn của các nhà văn. Anh khẳng định: ...”Việc đưa các tác phẩm sau 1975 vào chương trình và sách giáo khoa văn trong nhà trường là cần thiết và đúng đắn”. Thậm chí, anh còn gắng hiểu nỗi bức xúc của các nhà văn mà những tiếng nói trên Văn nghệ số 32/2004 chỉ là đại diện. Anh chân tình cho rằng nỗi bức xúc đó là “chính đáng và có thể thông cảm…”.

Từ điểm xuất phát khá vững vàng nói trên, anh đã đưa ra nhiều ý kiến xác đáng, buộc nhiều người phải suy nghĩ thêm hoặc suy nghĩ lại chung quanh nhiều vấn đề. Chẳng hạn, bạn đọc dễ  tán đồng cùng anh rằng, chương trình cũng như sách giáo khoa trong nhà trường không thể thay đổi thường xuyên được. Chu kỳ chừng 15 năm hay 20 năm cũng có thể chấp nhận được. Hay như, phương châm chỉ đạo việc chọn lựa các hiện tượng văn chương đưa vào chương trình được anh xác định phải là “những tác phẩm tiêu biểu cho các thể loại của lịch sử văn học đã được sàng lọc qua thời gian, mặt khác đưa vào một số tác phẩm đương đại có chất lượng và đáp ứng được những yêu cầu mới của chương trình Ngữ văn đầu thế kỷ”. Tính chọn lọc của nội dung chương trình không thể cho phép đưa hết, đưa đủ các tác giả và tác phẩm của tất cả các thời kỳ văn học vào giảng dạy được. Tính quy phạm của nhà trường cũng không cho phép đưa những hiện tượng văn chương đang trải qua thử thách, còn có những ý kiến khác nhau vào chương trình. Hoặc giả, các nhà biên soạn chương trình và sách giáo khoa, theo anh, chỉ có thể lựa chọn những gì tương đối ổn định. Thể nghiệm văn chương, nhất là những thể nghiệm còn mới mẻ, chưa định hình, chưa trở thành các giá trị, còn phải trải qua sự sàng lọc nhất định của thời gian và công chúng, tất nhiên cũng không thể vội vã đưa vào giảng dạy trong nhà trường. 

Vậy là, xin được nhắc lại, không ít điều trong Thư ngỏ, tôi có thể tán đồng cùng anh. Tuy nhiên, thành thật và thẳng thắn mà nói, nhiều điều trong Thư ngỏ cũng cần được trao đổi lại cho rõ hơn, đúng hơn, từ đó đi đến thống nhất, hoặc thống nhất cao hơn trong nhận thức của chúng ta. Trước hết là về đối tượng bàn luận. Trên nguyên tắc, trong bất cứ cuộc trao đổi mang tính học thuật nào, những người tham gia phải cùng thống nhất về đối tượng bàn luận. Sẽ không đi tới đâu cả nếu diễn ra tình cảnh ông chẳng bà chuộc, phải không anh? Vậy mà xem ra, không rõ là cố ý hay vô tình, anh lại đặt vấn đề có phần khác với những ý kiến trước đó của các nhà văn. Những ý kiến trình bày trên Văn nghệ số 32 đặt ra sự trống vắng của các nhà văn xuất hiện sau 1975 trong sách giáo khoa văn học ở các trường phổ thông. Vậy là rất rõ ràng, không chút mập mờ, khó hiểu. Trong Thư ngỏ của mình, anh lại cho rằng, “…ở đây nên dùng cụm từ các tác phẩm xuất hiện sau 1975 hơn là các nhà văn xuất hiện sau 1975( ?!).

Sự khác biệt là ở chỗ, tuy cùng hướng tới văn học sau 1975, trọng tâm chú ý của anh không phải ở tác giả mà ở tác phẩm, trong khi ý kiến của các nhà văn, ngược lại, chú ý tới tác giả chứ không phải tới tác phẩm. Có lẽ anh quan niệm, tên tuổi nhà văn phải gắn với tác phẩm do họ sáng tạo ra, vậy nên nói tới nhà văn chỉ cần nói tới tác phẩm là đủ. Sự thể ở đây lại không hoàn toàn như vậy. Các nhà văn đã thành danh trước 1975 mà vẫn tiếp tục sáng tác và có những thành tựu sau 1975 và các nhà văn khẳng định tài năng của mình sau 1975 là khác nhau về thế hệ. Bởi thế, nói như Phóng viên báo Văn nghệ trong  số 32 thì: “Hơn ai hết, các nhà văn thế hệ này chính là hình ảnh sống động trong đời sống tinh thần của thời đại họ. Tác phẩm của họ cho bạn đọc thấy được những dày vò, những thách thức, những khát vọng của con người trong thời đại họ đang sống”. Cho nên, nếu có người nghĩ rằng, anh chủ ý thay đổi đối tượng bàn luận để sau đó biện minh cho sự chọn lựa của chương trình và sách giáo khoa văn học hiện hành, thì cũng không thể trách cứ họ được.  

Về thái độ bàn luận, thú thật tôi rất hiểu nỗi bức xúc của anh như anh từng hiểu nỗi bức xúc của các nhà văn. Chỉ tiếc là đôi khi anh không giữ được bình tĩnh cho lắm. Rõ nhất là ở đoạn sau: “Không hiểu những người phát biểu trong bài báo nói trên lấy cứ liệu ở đâu mà đưa ra các ý kiến và sự lập luận khá võ đoán, rằng không đưa các tác giả, tác phẩm văn học sau 1975 vào sách giáo khoa văn trong nhà trường là biểu hiện của “vòng luẩn quẩn”, “là sự trì trệ của nền giáo dục”, “là nguyên nhân cơ bản dẫn đến học sinh chán học văn học”…”. Có thể hiểu các nhà văn lấy cứ liệu ở ngay chương trình và sách giáo khoa mà anh nêu ra đó. Thử xem, trừ các nhà văn Tạ Duy Anh, Y Phương, Duy Khán thì có ai là nhà văn sau 1975 được chọn lựa đâu! Anh tiếp tục tỏ thái độ không được phải cho lắm trước ý kiến đánh giá của các nhà văn rằng: “Nếu theo lập luận như thế thì có nghĩa là cứ đưa vào sách giáo khoa văn các tác giả, tác phẩm sau 1975 là giáo dục sẽ thoát khỏi vòng luẩn quẩn, sẽ không trì trệ nữa và học sinh sẽ thích học văn hơn ư? Chẳng lẽ chỉ đơn giản thế thôi sao?”.

Tôi ngờ rằng ở đây, người rơi vào tình thế võ đoán lại là anh chứ không phải những người không đồng quan điểm với anh. Chỉ xin được lưu ý là ta đang tiếp xúc với ý kiến của các nhà văn. Đặc điểm tâm lý của các nghệ sỹ là thường rất chủ quan. Không thế, họ không thể sáng tạo được. Đừng quá chú ý đến cách nói của họ nếu ta muốn hiểu họ. Ví như, có nhà văn thành danh từng tuyên bố ở Bàn tròn Báo Văn nghệ vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước rằng, tất cả các tác phẩm viết ra trước đây của mình đều giả hết. Nếu cứ nệ vào từng câu chữ ấy mà xét đoán thì dễ đi tới xổ toẹt hết cả, sự thể rồi sẽ đi đến đâu? Tương tự, là một nhà phê bình văn chương, có lần tôi không thể kìm được lòng tự ái nghề nghiệp khi đọc các ý kiến của các nhà văn bàn về phê bình và nhà phê bình trên Văn nghệ. Tuy nhiên, tôi gắng hiểu các nhà văn mong muốn gì ở phê bình và nhà phê bình. Để cho cảm xúc nhất thời lắng lại, tôi tự hỏi, tại sao các  nhà văn lại nói thế? Có phần trăm sự thật nào trong đó không? Và khi tự trả lời những câu hỏi ấy, tôi quyết định im lặng. Trong cảm thông. Và trong ý thức tự phê phán. Để quyết vượt mình mà vươn tới… Ở trường hợp của anh có lẽ khác. Tôi chỉ mong anh nghĩ lại.

Cuối cùng, tôi xin mạnh dạn nêu ra nhận xét về các tác phẩm và tác giả sau 1975 trong Chương trình Ngữ văn 2000 mà theo anh mới chỉ là ở dạng thí điểm, nên có thể đóng góp bổ sung, hoàn chỉnh trước khi ban hành chính thức vào năm 2006. Có thể dễ dàng nhận ra một số vấn đề sau đây:

- Có tác giả thú thật người trong giới (chưa nói tới bạn đọc) ít nghe biết tới như Minh Hương với tác phẩm Sài Gòn tôi yêu.

- Nên chọn tác phẩm của nhiều tác giả hơn là tập trung vào một số tác giả, vì như vậy học sinh sẽ có điều kiện tiếp cận với nhiều phong cách nghệ thuật hơn.

- Nên chú ý tới những vấn đề của xã hội và tư tưởng đương thời. Nếu vậy, cần tập trung vào Công cuộc Đổi mới ngày một triệt để, sâu sắc và mở rộng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam từ sau năm 1986.

Tôi đặc biệt băn khoăn trước sự xấu hổ của anh với tư cách là người có tham gia vào công việc hệ trọng này trước trường hợp Nguyễn Huy Thiệp. Có lẽ anh đã quá đa cảm chăng? Theo tôi, các tác phẩm văn chương được chọn lọc để đưa vào giảng dạy trong nhà trường cần thỏa mãn ít nhất là ba tiêu chí sau:

- Tác phẩm phải có giá trị về nội dung cũng như nghệ thuật, và đã được đông đảo công chúng thừa nhận.

- Tác giả của các tác phẩm đó phải đáng phục về tài năng và đáng trọng về nhân cách.

- Tác phẩm phải phù hợp với mục tiêu đào tạo cùng tâm, sinh lý học sinh.

Không rõ trường hợp Nguyễn Huy Thiệp có thỏa mãn được những yêu cầu tối thiểu ấy không? Đặc biệt là trong tình hình thời lượng dành cho môn Ngữ văn ở trường phổ thông lại quá eo hẹp như anh từng lưu ý. Đến đây, tôi hiểu vì sao Ban biên tập Tạp chí Thế giới mới lại quyết định cắt bỏ đọan này của bài viết.

Anh Đỗ Ngọc Thống kính mến!

Trước khi ngừng lời, tôi xin được bày tỏ lòng khâm phục của tôi trước sự can đảm đưa vai ra gánh trách nhiệm phải nói là quá nặng nề này của anh. Tôi biết, anh chỉ là một thành viên tham gia vào việc xây dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa Ngữ văn ở bậc phổ thông, không phải là người quyết định, lại càng không phải là người quyết định cuối cùng. Tôi mong mỏi những người có trách nhiệm cao nhất ở Bộ Giáo dục và Đào tạo nên trực tiếp đứng ra trả lời trước công luận, để tạo nên sự cảm thông rộng rãi nơi bạn đọc, và tránh gây ra những phản ứng không đáng có trong giới nhà văn. Có lẽ như thế mới mong phần nào giải quyết được vấn đề hệ trọng mà nhạy cảm này chăng?

Chúc anh sức khỏe và thành đạt.

Xin gửi tới anh lời chào trân trọng.

                                                                                                         Kính thư

                                                                                                Phạm Quang Trung