Trao Đổi‎ > ‎

Từ những bài học phản diện

Đối tượng tranh luận thường tiềm ẩn những vấn đề, ý kiến khác nhau, lắm khi đối lập nhau là chuyện thường. Ở đây không có ai độc quyền về chân lý. Tốt nhất là cứ phát biểu ý kiến của riêng mình, thẳng thắn và trung thực, với mong mỏi soi tỏ một phần của sự thật. Đúng hay sai, đúng sai ở mức độ nào, cứ để bạn đọc xem xét thẩm định. Có lẽ đó là quan niệm thích hợp hơn cả. Tác giả Đông La đã chưa có được cách nghĩ như vậy khi anh bảo: “Tôi viết vài dòng góp ý chân tình sau khi đọc lướt cuốn “Chân dung và đối thoại” của Trần Đăng Khoa. Nếu Khoa thực sự hiểu được vấn đề cũng như dư luận đánh giá đúng cuốn sách thì tôi không đọc lại và cũng không viết tiếp nữa làm gì”. Mới “đọc lướt” của người mà đã muốn “góp ý” thì không nên. “Chân tình” thường là tốt, song “chân tình” trong trường hợp này có khi lợi bất cập hại. Cũng chớ nên gọi tên “Khoa” một cách cộc lốc. Muốn được tôn trọng phải tự trọng cái đã. Nhưng tôi không có ý nhấn mạnh những điều đó. Cái ý muốn ban phát chân lý của người viết mới thật đáng nói. Nếu quá dễ kết luận đã không tốn giấy tốn mực như đã và đang diễn ra. Điều này được Đông La nhắc lại ở dòng cuối bài viết: “Tôi không ngờ Khoa đã có những bài viết như thế, nếu biết trước thì tôi đã viết rồi, không đợi Khoa ra cuốn sách hôm nay”. Mới hay,“trước biển cả của tri thức và chữ nghĩa”, sự khiêm tốn hóa ra lại là một cách ứng xử khoa học.

2. Không nên mạt sát người khác

Người ta hay yêu cầu tính văn hóa trong tranh luận. Thái độ với người đối thoại thường bộc lộ rõ tính văn hóa hơn cả. Đáng tiếc lời lẽ của Đông La lắm khi nặng nề như muốn lăng nhục, hạ bệ nhau chứ không muốn giúp nhau nhìn nhận ra điều hay lẽ phải. Tác giả viết: “Tôi thật buồn và tiếc cho Khoa, lẽ ra Khoa không đóng vai một ông trùm để phán xét toàn bộ nền văn học Việt Nam bằng cái đầu bé thơ nhưng lại già nua của mình”. Ai nỡ nhận xét về nhau như vậy. Điều này thật khó thuyết phục mặc dầu có được tác giả tô đậm thêm ở phần sau: “Sau 30 năm, con người anh (Trần Đăng Khoa ) lớn lên theo quy luật của sinh học, nhưng hình như trí tuệ anh vẫn vậy”. Tôi nghĩ nếu có đúng thật như thế thì Đông La cũng nên chọn một cách nói nhẹ nhàng thì vẫn hơn. “Thật là khôn ngoan nếu ta biết dùng thái độ tế nhị để đối xử với bạn bè” (Colette). Kết luận sau của Đông La mới thật xúc phạm: “Tất nhiên tôi biết Khoa viết vậy không phải do Khoa không yêu cách mạng, không yêu Bác Hồ, mà chỉ vì văn hóa viết lách của Khoa còn rất kém...”. Ôi! Dùng bút vậy là cùng rồi! Sao nỡ mạt sát người khác đến mức ấy cho được. Đều là người cầm bút cả. Người cùng giới mà còn thế trách chi người ngoài.

3. Nên tránh cùng sai sót với người đối thoại

Đọc Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa, tôi thực sự bị cuốn vào thế giới chữ nghĩa của anh như trong một mê hồn trận. Nhưng thú thật có những sơ sót trong vận dụng từ ngữ của anh khiến tôi phải ngạc nhiên. Chẳng hạn, Trần Đăng Khoa viết: “Tôi viết bằng chính kiến của tôi. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mình nói ra. Tôi không làm cái loa, phát ngôn cho ai” (tr.190). Ở đây phải dùng từ chủ kiến mới đúng. Chính kiến là ý kiến của mỗi người về lãnh vực chính trị. Còn chủ kiến là ý kiến của chính mình, không bị phụ thuộc vào ý kiến của người khác. Vậy mà khi Đông La dẫn ra nguyên văn câu này, lại diễn giải đúng theo ý lầm lẫn của Trần Đăng Khoa: “Tất nhiên viết phê bình phải có những chính kiến, toàn nhai lại ý kiến của người khác thì viết làm gì cho mất công”. Chà, nghề cầm bút mới khó khăn, cực nhọc làm sao. Cả đời gắng gượng may chăng mới làm được đôi điều ý nghĩa. Mà cũng rất khó tránh khỏi lầm lạc. Biết thế để đừng quá khe khắt với nhau và rồi có thể độ lượng với nhau hơn...

4. Đừng nên phủ nhận sạch trơn

Đồng nghiệp  chúng ta thường nhắc nhở lẫn nhau: dụng bút phải thấu lý đạt tình. Bao nhiêu đòi hỏi dồn trong một câu nói ngắn. Trong tranh luận, “thấu lý” hàm chứa sự chấp nhận những điểm khả dĩ của người đối thoại. Nếu họ toàn sai thì sao người khác có thể bênh vực nổi, lại tán dương không tiếc lời như trong trường hợp Chân dung và đối thoại. Khách quan mà nói, Đông La không phủ định sạch trơn Trần Đăng Khoa, nhưng khen để mà chê, để nhấn mạnh cái điểm cần chê. Ví như Đông La viết: “Nhìn chung trong phần đánh giá văn chương dù theo phương pháp ngược đời, Khoa cũng có những đánh giá đúng, có điều cái đúng mới ở cấp độ trực giác”. Tôi nghĩ có phần không giống Đông La. Dẫu Trần Đăng Khoa có ý định viết bình luận văn chương theo nghĩa nghiêm túc thì chủ yếu cũng là cách bình luận của người nghệ sĩ vốn xem trọng vai trò của trực giác. Xin chớ xem thường ý kiến phê bình “trực giác” của người nghệ sĩ. Tôi nhớ đến không khí cảm thụ Truyện Kiều nghiêng về ý nghĩa hiện thực một thời. Vậy mà nhà thơ Xuân Diệu có thể tách ra mà bảo: “Truyện Kiều là con đẻ của Nguyễn Du”. Trực giác đấy nhưng nó soi sáng bao điều! Cũng nên đọc Trần Đăng Khoa trên tinh thần ấy, và tôi tự hỏi có gì là không phải, chẳng hạn, những đánh giá sau của tác giả Chân dung và đối thoại về Chuyện làng Cuội của Lê Lựu được Đông La dẫn ra: “Những điểm yếu của “Thời xa vắng” lại được bộc lộ hết mình... Ấy là lối viết tự nhiên chủ nghĩa, nhiều chỗ tuột khỏi văn chương, trượt sang phạm trù mất vệ sinh, khiến cho người đọc cảm thấy ghê sợ vì nó cứ bẩn bẩn thế nào” (tr.95). Ngay nhận xét của Trần Đăng Khoa về văn của Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khải cũng không phải là không có cơ sở (tr.205, 206 và 122).

5. Chớ dùng ý kiến sai của người khác làm điểm tựa cho lý lẽ của mình

Trong tranh luận, đôi khi phải tựa vào ý kiến của người khác nhất là ý kiến của các nhà văn, nhà nghiên cứu có uy tín. Tuy nhiên, kinh nghiệm dạy ta rằng: điểm tựa phải vững chắc. Bài viết của Đông La có đưa ra một đôi ý kiến chưa hoàn toàn xác đáng. Đây là quan niệm của nhà phê bình Lại Nguyên Ân (cố nhiên là theo ý của tác giả vì không thấy ghi xuất xứ của câu nói): “Hiện ở ta, cả những nhà sáng tác lẫn độc giả vẫn thường không thích nổi những tác phẩm nghiên cứu phê bình giàu tính lý thuyết, giàu tính khoa học - chính là những “tác phẩm công cụ” mà thường chỉ thích những tác phẩm phê bình của những người sáng tác, thường có những đánh giá văn chương đầy ấn tượng bằng chính ngôn ngữ văn chương nhưng lại hay sai lầm bởi chỉ bằng cảm tính, trực giác và ít căn cứ, không chứng minh”. Nếu quả đây là nguyên văn lời của Lại Nguyên Ân thì có lẽ phải trao đổi rất nhiều với anh. Tuy nhiên tác giả Đông La chỉ nhất mực khen “thật chí lý” và “đúng đắn”. Hay sự vận dụng lời nói của nhà văn Nguyễn Khải: “Những gì tinh túy nhà văn đã vắt kiệt, đã chiết hết ra cho trang sách rồi, còn đời thực chỉ là cái bã thôi, nên đứng xa mà nhìn còn được chứ ở gần thì chối lắm. Khoa thì ngược lại, văn chương thì Khoa đứng thật xa mà nhìn, còn sinh hoạt đời thường nhà văn thì lại nhìn quá gần”.

Theo tôi, nên hiểu đúng ý của anh Nguyễn Khải. Vả lại, phải đặt vào văn cảnh thì hiểu mới đúng. Cứ như cách hiểu của Đông La thì người nghệ sĩ chẳng quan tâm gì đến đời sống thường nhật làm gì, vì họ là loại người quá đặc biệt mà. Tôi nhớ Bielinxki nói đại ý, thới đại chúng ta chỉ khâm phục nghệ sĩ nào mà cuộc sống là sự giải thích tốt nhất sự nghiệp sáng tạo của mình và sự nghiệp sáng tạo là sự biện minh tốt nhất cho cuộc sống của mình. Phải nghĩ và làm như thế, theo tôi mới thuyết phục.

6. Cần tránh suy diễn tùy tiện

Tôi nghĩ trong tranh luận chớ nên hiếu thắng. Làm gì có chuyện được thua. Đúng ra nếu trnh luận lành mạnh và tích cực, thì chỉ được cho chân lý, cho văn chương mà thôi. Do vậy người tranh luận phải thật sự khách quan, phải gắng hiểu người đối thoại cùng mình. Nên tránh mọi suy diễn chủ quan. Đáng tiếc, bài viết của Đông La lại rơi vào tình trạng này. Rõ nhất là đoạn anh viết về Trần Đăng Khoa với Chế Lan Viên. Sự thật là Trần Đăng Khoa viết ít về Chế Lan Viên, nhưng chắc không phải như sự giải thích của Đông la: “Việc “lờ đi” như vậy, theo lời Xuân Diệu dạy Khoa, cũng là một cách chê”.

Ôi, cứ theo cách loại suy này thì chẳng biết đâu là giới hạn cả! Đông La suy diễn tiếp: “Tuy không được Khoa viết riêng một chương, nhưng trong bài viết về Xuân Diệu, Khoa cũng có nhắc đến Chế Lan Viện một câu. Và chỉ qua một câu thôi, Khoa cũng đã thể hiện được quan điểm của mình về Chế Lan Viên”. Câu văn được Đông La nhắc tới là câu Trần Đăng Khoa mô tả ấn tượng bề ngoài của Chế Lan Viên như sau: “Trông ông không có gì là to lớn, bệ vệ. Cũng không có dáng vẻ lơ mơ thi sĩ - một gương mặt rất hoạt. Cặp mắt sắc nhanh nhẹn và hết sức thông minh, nhưng là cái thông minh của một nhà thông thái hơn là một thi sĩ tài ba” (tr.38). Và đây là lời phán xét của Đông La: “Không, đây không phải là cảm nhận của một đứa trẻ con mà là một nhận xét của Trần Đăng Khoa hôm nay về sự nghiệp của Chế Lan Viên”. Cách đây 13 năm, tôi có may mắn gặp nhà thơ Chế Lan Viên. Tầm vóc của ông trung bình giống như Trần Đăng Khoa đã mô tả. Vậy nếu tôi có nghĩ và viết về dáng vẻ bề ngoài đúng như thật của Chế Lan Viên thì chắc không phải như đánh giá của Đông La là tôi đã cho rằng sự nghiệp văn chương của ông không lớn như con người ông.

7. Cần học cách hiểu người đối thoại với mình

Trong tranh luận rất cần sự hiểu biết lẫn nhau; hiểu biết càng đúng đắn càng tường tận càng tốt. Nếu không thì không còn là tranh luận theo đúng nghĩa của nó mà là sự cãi vã vô nghĩa của những người bất đồng ngôn ngữ. Muốn có khả năng này, như bao khả năng khác, phải học, học rất nhiều. Ở bài viết của Đông La, tôi nhận ra hơn một lần tác giả lĩnh hội không đúng ý của Trần Đăng Khoa. Nhiều người cho là cố ý hiểu sai. Cũng có thể. Riêng tôi nghĩ có lẽ là do cách hiểu. Xin đưa ra ví dụ về cái gọi là “sự không cần lý luận” mà Đông La quy kết cho Trần Đăng Khoa. Vì xem đây là luận điểm cốt lõi của bài viết nên tác giả đưa ra một loạt dẫn chứng để minh họa, có điều không có mũi tên nào thật trúng đích cả.

Dẫn chứng 1: “Khoa viết: Đã không ít nhà phê bình nghiên cứu mang lý trí làm con dao cùn mổ, xẻ những con chữ ngơ ngác này. Có người viện đến cả thi pháp học để cố hiểu cho bằng được bài thơ, lấy thi pháp làm  chìa khóa mở cánh cửa thực dụng, đi vào cõi mù mờ tâm linh” (tr.58).

Lời nhận xét của Đông La: Trần Đăng Khoa “thường chê bai người khác (một cách duy tâm và thần bí) khi họ dùng lý luận và sự phân tích chi tiết để xác định những nhân tố tạo nên sức cuốn hút và giá trị của tác phẩm”.

Cách hiểu của người viết bài này: Trần Đăng Khoa không có ý chê bai lý luận mà chỉ chê bai những nhà lý luận đao to búa lớn, cứ ưa dùng dao mổ trâu để cắt tiết gà. Vậy thì đáng chê lăm chứ!

Dẫn chứng 2: Trần Đăng Khoa viết: “Có nhà phê bình nghiên cứu viết khá dài dòng về bộ “Cửa biển” với bao nhiêu là lý luận rối rắm “(tr.108), “rồng rắn loanh quanh trong quầng lý sự tù mù” (tr.246).

Lời nhận xét của Đông La: “Tư tưởng không cần lý luận của Khoa còn thể hiện ở nhiều câu nói khác, cách nói khác khi Khoa chê người khác như thế”.

Cách hiểu của người viết bài này: Ở đây, Trần Đăng Khoa thẳng thắn phê phán một số nhà phê bình và ghiên cứu không biết cách vận dụng lý luận vào thực tiễn sáng tạo của nhà văn, nguyên do là chưa thấu hiểu lý luận đến nơi đến chốn, bị lý luận nó sai xử hóa thành “tù mù”, “rối rắm”. Vậy thì đáng khen hay đáng chê đây?

Dẫn chứng 3: Trần Đăng Khoa thổ lộ: “Nhiều tòa báo yêu cầu tôi trả lời, không phải ngại va chạm, tôi thấy cuộc tranh cãi ấy (về giải thưởng HNV và thơ hiện đại - ĐL) vặt vãnh quá” (tr.191).

Lời nhận xét của Đông La: “Về những bài viết mà tầm tri thức liên quan đến từ tư tưởng, triết học, thi pháp, mỹ học đến ngôn ngữ học.... những điều cốt yếu mà văn học hiện đại cần phải lấy làm nền tảng anh (Trần Đăng Khoa) lại phán là vặt vãnh”.

Cách hiểu của người viết bài này: Tôi không thấy những điều cốt yếu mà nền văn học hiện đại cần phải lấy làm nền tảng đâu cả. Trần Đăng Khoa chỉ bàn đến những “cuộc tranh cãi” mà anh cho là “vặt vãnh”. Tôi nghĩ nên tôn trọng ý kiến riêng của Trần Đăng Khoa.

8. Chớ nên đi lại vết xe đổ của người khác

Sức mạnh chủ yếu của bài tranh luận nằm ở lý lẽ. Muốn phê phán người, lý lẽ của mình phải sắc sảo. Tiếc thay trong bài viết của mình,. Đông La đưa ra nhiều nhận xét còn thiếu cơ sở khiến bạn đọc không thể không hoài nghi. Chẳng hạn, một đánh giá quan trọng sau đây của Đông la về thơ Trần Đăng Khoa thuở nhỏ: “Theo tôi, Khoa cũng chỉ mới thần đồng ở chỗ tả cảnh ví von hoàn chỉnh, chứ không có tư tưởng lớn”. Ít nhất có hai câu hỏi được đặt ra:

1. Nếu đã thừa nhận Trần Đăng Khoa là một thần đồng thi ca thì nhận xét sau đó của Đông La có phải là tự mâu thuẫn với mình? Vì không thể có “thần đồng” “tả cảnh”, “ví von”...

2. Tư tưởng lớn trong văn chương là gì? Chẳng lẽ lòng yêu quê hương (như bài “Em kể chuyện này”), yêu sự sống (như bài “Ò ó o...”), phản đối chiến tranh (như bài “Lời một bạn gái mười hai tuổi”)... trong thơ Trần Đăng Khoa thuở nhỏ không ẩn chứa tư tưởng lớn?

Xin đưa ra một khái quát khác của Đông La: “Về sự đổi mới thi ca, Khoa viết: “Thực tình tôi rất mong có cuộc cách mạng thi ca ấy. Nhưng thực tế không có” (tr.194). Theo tôi, trình độ của Khoa thể hiện qua Chân dung và đối thoại như vậy thì Khoa không thể biết được thơ ca hiện đại là như thế nào, chứ đừng nói gì đến chuyện định dạng, bình phẩm”.

Đông La còn khẳng định: “Tôi hoàn toàn có thể chứng minh được đã có một cuộc cách mạng thi ca ở nước ta và có những thành tựu...”. Tôi nghĩ, vậy thì Đông La cứ viết đi. Có điều, không nên coi người khác là kém cỏi, là không có trình độ. Riêng bản thân nếu được hỏi, tôi sẽ tin vào trình độ thẩm định thi ca của Trần Đăng Khoa hơn là của Đông La.

LỜI KẾT

Trước khi dừng bút, tôi có hai điều không thể không nói:

1. Đông La thổ lộ: “Tôi luôn vừa làm thơ vừa làm nhà phê bình cho thơ mình”. Tôi muốn ngay cả khi viết tiểu luận văn chương, Đông La cũng nên tự làm “nhà phê bình” cho mình.

2. Tôi chỉ rút ra những bài học phản diện từ bài viết của Đông La. Điều đó có nghĩa Đông La không chỉ toàn cái sai và Trần Đăng Khoa không chỉ toàn cái đúng. Ví như nhà văn Nguyễn Khải hoàn toàn có lý khi không hài lòng với câu nói sau của Trần Đăng Khoa: “...Không phải là tôi phủ nhận ông... Tôi đặt ông vào đúng vị trí mà ông có” (An ninh thế giới, số 16, ngày 11/3/1999).

                          Đalat, 21.3.99