Trao Đổi‎ > ‎

Một số sai sót trong một chuyên luận về thơ

Chừng mười năm trở lại đây, nhiều luận án tiến sĩ, phó tiến sĩ khoa học ngữ văn trong nước đã được bảo vệ thành công. Không ít luận án trong số này được các tác giả công bố dưới dạng chuyên luận, góp phần đưa hoạt động nghiên cứu văn chương ở ta chuyển sang một giai đoạn mới với những đóng góp mới cùng những tên tuổi mới. Đó là mặt tích cực rất đáng được khẳng định. Tiếc là một vài chuyên luận ra đời còn gượng ép, hoặc chưa thật chín về quan điểm học thuật, hoặc chưa đủ độ tin cậy về tri thức, đưa đến nhiều nhận xét, đánh giá hời hợt, tùy tiện, thiếu hẳn những cơ sở khoa học và thực tế chắc chắn. Một trong số những chuyên luận ấy là cuốn “Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam” của Nguyễn Bá Thành do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1995. Tôi chỉ xin điểm qua những sai sót cần được trao đổi, góp phần củng cố nhiều cách nhìn nhận, những quan điểm đánh giá vốn có sức thuyết phục từ nửa thế kỷ nay.

1.      Về một số nhận định có tính bao quát

Đáng nói trước hết là quan niệm của tác giả về khái niệm then chốt: hình tượng nghệ thuật. Nhiều năm nay, giới nghiên cứu văn chương, và nói riêng là giới lý luận văn chương đã nhận ra khiếm khuyết của quan niệm từng ngự trị ngót nửa thế kỷ trước đó khi xem hình tượng nghệ thuật chỉ là những bức tranh về cuộc sống và con người. Bỏ rơi yếu tố biểu hiện, chỉ nhận ra yếu tố tạo hình là không bao quát và thiếu hẳn sức thuyết phục. Nguyễn Bá Thành tỏ ra chưa theo kịp được những thành tựu của lý luận văn chương hiện đại về hình tượng khi anh viết: “Tư duy nghệ thuật không phải bao giờ cũng có nội dung hình tượng như là một nét đặc thù duy nhất. Trong nhiều bài thơ giáo huấn, trong một số sáng tác chính luận, hình tượng không đóng vai trò quyết định sự thành công của tác phẩm văn học” (tr.29). Phải thấy hình tượng và tư duy hình tượng có thể không phải là đặc thù duy nhất song bao giờ cũng là một trong những đặc thù phổ quát của văn chương không poại trừ những “sáng tác chính luận” những “bài thơ giáo huấn”. Trong nhiều trường hợp này, hình tượng trữ tình lấy cảm nghĩ làm nền tảng có thể có những điểm riêng, khác biệt với hình tượng tự sự nhưng không thể đi ra ngoài quy luật sáng tạo đặc thù của văn chương – xây dựng hình tượng nghệ thuật – tư duy nghệ thuật.

Đáng bàn nhất có lẽ là những đánh giá của Nguyễn Bá Thành về di sản thi ca truyền thống của dân tộc. Anh đặt một câu hỏi hoài nghi: “Phải chăng lịch sử thi ca dân tộc của chúng ta trước thế kỷ XX là xán lạn?” (tr.83). Rồi anh đưa ra quan niệm của mình: “Với Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình Chiểu... bốn ngàn năm lịch sử dựng nước mà chỉ có chừng ấy nhà thơ lớn (tác giả nhấn mạnh) thì chưa phải là nhiều lắm” (tr.38). Tôi đặc biệt lưu ý đến ba dấu chấm tác giả đặt sau nhà thơ cuối cùng là Nguyễn Đình Chiểu. Xin không lạm bàn về mâu thuẫn trong lập luận của anh, vì nếu còn ba dấu chấm nghĩa là còn liệt kê được nữa (ở trang 104 của cuốn sách anh còn nhắc tới chín nhà thơ yêu nước nổi tiếng cuối thế kỷ XX mà anh coi là “những tác giả lớn”) nghĩa là không thể bảo “chỉ có chừng ấy” được. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng nếu lịch sử thi ca của một nước mà có tới chừng ấy “nhà thơ lớn” một cách xứng đáng cũng đã danh giá, đáng tự hào lắm rồi, sao bảo là ít ỏi cho được! Huống hồ, cũng theo ý tứ của tác giả, lịch sử thi ca của dân tộc ta còn có thể kéo dài danh sách các nhà thơ lớn thêm nữa.

Lý lẽ của Nguyễn Bá Thành đặc biệt chông chênh khi so sánh thành tựu của thi ca truyền thống với thành tựu của thi ca thế kỷ XX mà anh gọi là thời hiện đại. Tác giả viết: “Chúng ta có thể tự hào rằng về nhiều phương diện, thơ thế kỷ XX đã vượt thơ của các thế kỷ trước – NBT nhấn mạnh” (tr. 83). Và ở đây, anh có đối chiếu về phương diện tâm lý giữa ta và Trung Quốc: “Các nhà thơ Trung Quốc thời hiện đại khi nhìn vào những đỉnh cao thi ca như núi Thái Sơn của họ với những tên tuổi như Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị... thì có lẽ, họ vừa tự hào lại vừa choáng ngợp trước tầm vóc vĩ đại của ông cha. Và cái tâm lý sánh bằng đã là một tâm lý phạm thượng, chưa nói là dám có tham vọng vươn cao hơn tầm vóc cha ông!” (tr. 83). Với Việt Nam thì sao? Anh viết: “Còn với chúng ta, những người Việt Nam, rất tâm đắc với câu tục ngữ “Con hơn cha là nhà có phúc”... Về cá nhân, có thể chưa ai sánh được Nguyễn Du, hay nói đúng hơn, đến nay chưa ai dám nhận điều này. Nhưng về “giải đồng đội”, về thành tích chung, nền thơ dân tộc Việt Nam đến (*) thế kỷ XX thật rực rỡ, thật đa dạng” (tr.83). Tôi lại có ý kiến khác anh. Cho tới nay, không phải “có thể” mà không ai sánh nổi Nguyễn Du về tài năng thi ca. Do vậy, rất tự nhiên và rất dễ hiểu là “chưa ai dám nhận” là mình có thể sánh ngang, chưa nói là vượt trội, đại thi hào dân tộc đã trở thành danh nhân văn hóa thế giới này.

Đã rõ là Nguyễn Bá Thành đánh giá thơ Việt Nam thế kỷ XX vượt xa thơ của cha ông trước đó. Anh khẳng định không một chút phân vân: “Nền văn học ta nói chung và thi ca nói riêng đã đạt được rất nhiều thành tựu. Những tên tuổi như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Giang Nam, Hoàng Huy Thông (?), Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi, Lê Anh Xuân, Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Phạm Tiến Duật, Hoàng Cầm, Trần Dần, Quang Dũng, Xuân Quỳnh v. v... (lại ba chấm và thêm v. v...) hoàn toàn có thể coi là nhà thơ lớn của Việt Nam” (tr.113). Có lẽ anh quá dễ dãi trong đánh giá chăng? Nếu nghĩ tới sự thận trọng khi tôn vinh “nhà thơ lớn” là “thi bá”, “thi hào” (tr. 83) của tác giả thì tôi dám chắc là không ít nhà thơ được anh điểm danh tới hiện đang còn sống sẽ không dám nhận danh hiệu cao quý vốn xứng đáng với không nhiều tên tuổi ở trên. Bởi, theo sự nhìn nhận của chính tác giả, thì ngay Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm, tác giả và dịch giả “Chinh phụ ngâm” nổi tiếng cũng chưa được liệt vào hàng các “nhà thơ lớn” kia mà! Ở trang 89 của cuốn sách ta có thể dễ dàng nhận thấy đoạn sau: “Tác phẩm “Chinh phụ ngâm” dù đặc sắc đến đâu, tác giả Đặng Trần Côn và dịch giả Đoàn Thị Điểm cũng chưa thể được coi là những nhà thơ lớn của dân tộc” (PQT lưu ý). Theo tôi, tác giả đã khá hồ đồ khi có ý định xếp hạng lại các thi nhân đã được an bài trong lịch sử thi ca dân tộc mà không đưa ra những chứng cứ vững vàng và nhất quán.

Nói vậy vì tôi lưu ý đến những kiến giải được tác giả đặc biệt nhấn mạnh ở trang 82: “... Trong một trăm năm, thơ thời hiện đại (thế kỷ XX), đã tạo ra một khối lượng thơ và số lượng các nhà thơ bằng hàng chục thế kỷ trước” (tất cả đoạn này được tác giả in nghiêng trong cuốn sách). Thật đáng ngạc nhiên quá! Chẳng lẽ Nguyễn Bá Thành lại cho rằng trong văn chương số lượng và khối lượng quyết định hết thảy. Tôi cho là anh đã nhầm. Cái làm nên giá trị của văn chương nằm ở tinh chất, ở vẻ độc đáo, ở sức khám phá, ở khà năng rung động, ở tầm tư tưởng lớn. Bản thân khối lượng và số lượng tác phẩm chưa nói được gì về tài năng và đóng góp đích thực của nhà văn nhà thơ cả. Cũng hoàn toàn không thuyết phục khi tác giả lý giải việc xuất hiện hàng chục nhà thơ lớn của dân tộc ở thế kỷ XX: “Bởi vì tầm vóc của lịch sử dân tộc thời hiện đại đã tôn họ lên cao hơn những nhà thơ sống trong những “thế kỷ vằng anh hùng” (tr.113)”. Có hai câu hỏi được đặt ra. Một là: Lẽ nào các giai đoạn lịch sử trước thế kỷ XX là những “thế kỷ vắng anh hùng”? Tôi và chắc nhiều người trong chúng ta không thể tin được như vậy. Hai là: Mối quan hệ giữa thời đại và thi ca phải chăng quá đơn giản như cách hiểu của tác giả? “Tầm vóc của lịch sử”, sức mạnh của dân tộc thời hiện đại có tác động lớn tới văn chương. Có điều tài năng nghệ thuật của cá nhân từng nhà văn mới là nhân tố quyết định tới văn nghiệp. Và riêng ở điểm này thì chưa hẳn thời hiện đại đã hơn thời quá khứ. Sáng tạo văn chương và nói riêng là sáng tạo thi ca vốn linh diệu lắm. Mọi cách xem xét giản đơn đều tỏ ra bất cập, thậm chí ngớ ngẩn.

2.      Về một số nhận định đối với các hiện tượng thi ca cụ thể

Không ít ý kiến quan trọng trong cuốn sách có liên quan đến những tác giả và những vấn đề thi ca cụ thể cũng cần được trao đổi lại. Chẳng hạn, nhận định sau: “Cũng như Nguyễn Khuyến, Tú Xương không bàn đến chuyện chính trị” (tr.101). Tôi không rõ khái niệm “chính trị” trong quan niệm của tác giả ra sao. Theo cách hiểu thông thường, lẽ nào bài “Hội Tây” của Nguyễn Khuyến và bài “Lắm quan” của Tứ Xương là “không bàn đến chuyện chính trị”, lại không thấm nhuần cảm quan chính trị đến tận gốc rễ! Đánh giá sau đây về Nguyễn Đình Chiểu cũng tỏ ra không có cơ sở: “Ông là người đầu tiên đề cao tính chất vũ khí của thơ trong thời kỳ đất nước có giặc ngoại xâm” (tr.102). Tôi chỉ xin nêu ra hai dẫn chứng ngược lại nhận định của tác giả. Thế kỷ XIII, Trần Thái Tông viết: Văn bút tảo thiên quan chi trận (Tứ sơn kệ tinh tự).

Và thế kỷ XV, Nguyễn Trãi viết: Đao bút phải dùng tài đã vẹn (Bảo kính cảnh giới, Bài 6).

Cũng như vậy, ý kiến về Hồ Chí Minh ở trang 112 tỏ ra chưa thật thấu đáo: “Đến Hồ Chí Minh, tư duy thơ đã có một sự hòa hợp nhuần nhuyễn với tư duy chính trị. Lần đầu tiên trong lịch sử thơ ca Việt Nam, vai trò trách nhiệm của nhà thơ đối với lịch sử, đối với dân tộc đã được đề cao”. Trong cuốn sách có nhiều đánh giá “lần đầu tiên” cần được xem xét lại như thế!

Tôi xin dừng lại lâu một chút ở đoạn tác giả viết về văn nghiệp của Nguyễn Du. Không kể những sai sót về kiến thức như nhầm “Truyện Kiều” là “Kim Vân Kiều truyện” (tr.90) hoặc coi “Văn tế thập loại chúng sinh” là “bài thơ dài” (tr.93), có thể thấy một loạt ý kiến quan yêu được viết ra bằng cảm xúc bay bổng hơn là bằng lý trí sáng suốt. Bàn về vai trò của thi hào Nguyễn Du, tác giả hạ bút viết: “... Nguyễn Du là cây đại thụ bao trùm lên tất cả. Bóng cây đại thụ ấy không chỉ bao trùm lên hai thế kỷ (XVII và XVIII) ở Việt Nam mà có thể nói, tỏa xuống toàn khu vực Đông Nam Á đến hết thế kỷ XX” (tr.90). Tôi xin được nghi ngờ đánh giá của tác giả bởi các nguyên do sau đây:

Thứ 1: Có thể cho rằng Nguyễn Du ảnh hưởng đến “tất cả” các nhà thơ được hay không? Xin tác giả chứng minh dù chỉ ít ỏi ảnh hưởng của Nguyễn Du tới, chẳng hạn, Nguyễn Đình Chiểu?

Thứ 2: Nguyễn Du sinh năm 1765 và mất năm 1820. Vậy thì không thể nói như tác giả: “Bóng cây đại thụ ấy... bao trùm lên hai thế kỷ (XVII và XVIII)” được. Chẳng lẽ ảnh hưởng của Nguyễn Du tồn tại trước khi ông ra đời!

Thứ 3: Tác giả dựa vào đâu để nói “bóng cây đại thụ “Nguyễn Du” tỏa xuống toàn khu vực Đông Nam Á đến hết thế kỷ XX”? Nên nhớ Đông Nam Á có tới 10 nước. Lại suốt thế kỷ XX. Tôi tin là tác giả không đủ cứ liệu để chứng minh cho tầm bao quát về không gian và thời gian của nhận định.

Đáng nói hơn cà là Nguyễn Bá Thành đánh giá rất thấp thơ chữ Hán Nguyễn Du. Tác giả viết: “... Chúng tôi không nghĩ rằng Nguyễn đã vượt được Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm về phương diện thơ chữ Hán: Nếu không có Truyện Kiều  Văn tế thập loại chúng sinh thì Nguyễn Du không thể trở thành một đại thi hào như ngày nay. Giỏi lắm ông cũng chỉ sánh ngang với thân phụ của mình là Nguyễn Nghiễm mà thôi” (tr. 93). Ở đây, tôi chỉ xin đưa ra đánh giá của một trong nhiều chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực này – ý kiến của Giáo sư Mai Quốc Liên. Trong Lời nói đầu “Nguyễn Du toàn tập” (Tập I – Nxb Văn học - 1995) – Phần “Thơ chữ Hán”, giáo sư viết: “Truyện Kiều là “diễn âm”, “lỡ tay” mà thành kiệt tác, còn thơ chữ Hán mới đích là “sáng tác”, nên xem nó là phát ngôn viên chính thức của Nguyễn Du” (tr.7). Ở một đoạn khác, giáo sư còn viết: "Thơ chữ Hán Nguyễn Du là những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa. Nó mới là và độc đáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa” (tr.7). Đó là những nhận định chung hoàn toàn có cơ sở. Đi vào một số bài thơ tiêu biểu, Giáo sư Mai Quốc Liên vẫn nhất quán với cách đánh giá của mình. Gần đây, nhân “lần giỗ 176” của Nguyễn Du, Giáo sư Mai Quốc Liên đã coi “Bài ca người gảy đàn đất Long Thành” là “một đỉnh cao trong nhiều đỉnh cao của thơ Nguyễn Du” (Báo Văn nghệ, Số 40/1997).

*

Trở lên trên, tôi đã điểm qua những ý kiến đáng được trao đổi trong một cuốn sách vừa được viết ra trên cơ sở một luận án khoa học. Có thể từ đó rút ra ít nhiều bài học vừa cơ bản vừa thiết thực trong việc triển khai hoạt động đào tạo cũng như hoạt động nghiên cứu nhằm đưa khoa văn học đến nhiều thành tựu mới mẻ mà chắc chắn hơn.

 

 

.........................................................................................................................................................................................

(*) Từ “đến” ở đây tôi quả thật không hiểu. Theo ý tứ của tác giả có lẽ phải hiểu là từ “trong”.