Trao Đổi‎ > ‎

Liệu có thứ phê bình lập biên bản hay không?

1. Trên Tạp chí Văn hóa Các dân tộc, Mục Diễn đàn trao đổi – Lý luận phê bình gần đây liên tiếp đăng ý kiến về phê bình của Inrasara - Phê bình như là lập biên bản (số 7/2008), bài viết trao đổi của tôi - Phê bình tích cực có thể nào như là hình thức lập biên bản? (số 9/2008), và mới đây, trong số 11/2008, là bài giải thích của Inrasara mang tựa đề Thế nào là phê bình lập biên bản? gián tiếp trả lời ý kiến của tôi. Đọc bài sau, có thể thấy, trong thâm tâm, Inrasara rõ ràng đã tán đồng cái lý cơ bản của tôi khi yêu cầu phê bình tích cực cần phải tìm được sự hài hòa giữ hai yếu tố khách quan và chủ quan, và, theo ý tôi, đó là cái thiếu nhất của nền phê bình theo mong muốn của chúng ta giữa lúc này. Bởi vì, ngay phần mở đầu bài trả lời, Inrasara đã lên tiếng biện minh rằng, do là một bài viết ngắn nên trong Phê bình như là lập biên bản, “các đặc tính của vấn đề - ở đây là phê bình lập biên bản - chưa được lộ diện đủ đầy, bên cạnh sự thiếu dẫn chứng, là đương nhiên”. Tuy, anh còn nợ tôi lời giải thích về một nhận định quan trọng sau, xin được nhắc nguyên văn: Lẽ nào “nền phê bình ấy (nền phê bình mà tác giả chủ trương) không được phép “áp đặt một lối nhìn nào bất kỳ”, kể cả lối nhìn nhằm giữ gìn và phát huy “bản sắc văn hóa dân tộc” trong thời buổi giao lưu hội nhập có nguy cơ làm trung tính hóa mọi giá trị tinh thần độc đáo của mỗi dân tộc như ngày nay!”. Quan trọng vì đây là bài viết đăng trên tạp chí của Hội Văn học Nghệ thuật Các DTTS Việt Nam, rất cần thấm nhuần tinh thần này.

Thêm nữa, xem ra, cách hiểu yêu cầu hai yếu tố khách quan và chủ quan trong phê bình giữa tôi và Inrasara vẫn còn khoảng cách khá xa. Trong khi tôi đòi hỏi, chúng phải lồng vào nhau, kết hợp nhuần nhị, không tách rời, thì Inrasara lại quan niệm, tính chủ quan chỉ là cái đến sau, cái thêm vào, trên cơ sở sự lập “biên bản đầy đủ và chính xác”. Để xác minh, anh dẫn ra “thao tác” – đúng theo lời của tác giả, bản tham luận Khủng hoảng thơ trẻ Sài Gòn đọc tại Đại hội Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3-2005. Inrasara viết: “Khủng hoảng thơ trẻ là có thực, khủng hoảng đó biểu hiện qua nhiều hình thái, cấp độ, lắm lúc thái quá. […] Tôi lập biên bản (ghi nhận) nó. Sau đó – PQT nhấn mạnh, tôi nhận định: ‘Nhưng gì thì gì, một thái độ quá khích bất kì đến lúc nào đó, cũng cần tự đặt giới hạn cho mình, nếu không muốn đi vào ngõ cụt mới và, tắc tị! Phản kháng tốt lành phần đầu của thi sĩ thành phản tác dụng nơi khúc đuôi…”. Tôi cũng không thể không hoài nghi cái anh gọi là sự “đầy đủ và chính xác” của một biên bản cho dù được viết ra với tinh thần trọng sự thật tới mức nào. Bởi, ngay chính Inrasara, trong bài viết này, muốn “tóm tinh thần của phê bình lập biên bản, khá là nền tảng” đã trình bầy trong bài viết trước cũng có “đầy đủ và chính xác” đâu! Chỉ xin dẫn ra một câu được nhắc lại của anh: “Điều tôi muốn làm là “lập biên bản” các sự biến văn chương đang xảy ra trong thời đại tôi sống, những con người đang làm việc và sáng tạo cùng thời với tôi”. Đối chiếu với bài trước, câu này bị lược bỏ đi một đoạn trong ngoặc đơn, chắc chắn là có chủ tâm, lại không hề được người viết lưu ý trên văn bản. Nguyên văn toàn bộ câu đó như sau: “Điều tôi muốn làm là “lập biên bản” (như cảnh sát giao thông lập biên bản hiện trường tai nạn ấy mà) các sự biến văn chương đang xảy ra trong thời đại tôi sống, những con người đang làm việc và sáng tạo cùng thời với tôi”. Đoạn văn in nghiêng do tôi nhấn mạnh để làm bật nổi sự khác biệt. Như đã thấy, Inrasara đã bỏ qua một câu giải thích trong ngoặc đơn rất then chốt, có thể giúp người đọc hiểu rõ giọng điệu cùng ý tưởng của tác giả. Vậy “đầy đủ và chính xác” ở chỗ nào? Và có làm được hoàn toàn như mong muốn hay không?

 2. Cố nhiên, tôi cũng không quên lời chê trách của Inrasara. Anh bảo, những nhận định của tôi “chắc chắn vừa phiến diện vừa sai, phiến diện nên, sai”, thậm chí “chỉ là những ý kiến tùy tiện và nhảm nhí”. Tôi không ngạc nhiên về những lời phán xét có thể xem là nặng nề ấy, nếu - vâng nếu, chứng lý anh nêu ra là có cơ sở để có thể thuyết phục được tôi và bạn đọc. Thật tiếc là những chứng lý mà Inrasara nêu ra sau đó không chỉ thiếu sức thuyết phục mà còn tỏ ra vô lối. Anh biện giải rằng, bài viết này “thuộc nhóm non trăm bài viết ngắn” gần đây của anh về các hiện tượng văn chương, xã hội đương đại khác nhau, rằng nó chỉ là “ý hướng”, “mang tính gợi mở và gợi ý”. Muốn hiểu nó phải đọc anh một cách “hệ thống”, nghĩa là phải đọc đủ “non trăm bài viết ngắn” nêu trên của tác giả. Do tôi chưa làm được điều đó, mà lại muốn hiểu, thì làm sao có “cơ hội nắm bắt vấn đề” để tiếp cận được quan niệm toàn diện về phê bình của anh vốn được thể hiện đầy đủ ở “non trăm bài viết ngắn” kia! Mà muốn đọc thì chỉ còn một cách là vào mạng. Các bài đã viết của anh in thành sách ít lắm. Chủ yếu là công bố trên mạng. Lấy ví dụ: cuốn tiểu luận mới xuất bản của anh – tập Song thoại với cái mới, (Nxb. Hội Nhà văn, 2008) cũng in lại tới 6 bài trong cuốn trước đó – tập Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo, (Nxb. Văn nghệ, Tp. Hồ Chí Minh, 2006) gồm các tiểu luận Thơ, nghĩ & viết; Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo; Bế tắc trong sáng tạo; Thơ nữ trong hành trình cắt đuôi hậu tố ‘nữ’; Thơ dân tộc thiểu số, từ một hướng nhìn động; Sáng tác văn chương Chăm hôm nay. In trên báo lại càng ít. Nếu không vào mạng thì chỉ còn cách là botay.com thôi! Chẳng phải trong bài viết anh có điểm tới những mạng từng công bố tác phẩm của mình đó sao? Nào Vanchuongviet.org; nào Evan Vnexpress.net… Mà đọc trên mạng thì hiện giờ không phải ai cũng có thể dễ dàng làm được. Biết làm sao đây? Cụ thể, anh đâu có quan niệm một cách phiện diện là nhà phê bình không cần, không nên và không thể bầy tỏ thái độ. Trong bài viết lần này, anh khẳng định dứt khoát: “Nhưng lập biên bản có phải chỉ là lập biên bản? Không!”. Rồi anh dẫn ra một ý kiến của mình đã có dịp công bố trong cuốn sách Song thoại với cái mới, ở trang 288, làm minh chứng: “Nói là lập biên bản, nhưng đôi lúc tôi cũng có đưa ra nhận định”. Sự thật cứ rõ như ban ngày! Dù chỉ là “đôi lúc”, nhưng đại thể, Inrasara có phiến diện trong quan niệm đâu (!). Tại tôi không đọc bài viết biểu lộ ý tưởng quan trọng kia trong một bài viết khác thôi! Sao trách cứ tác giả cho được (!?).

Dễ nhận thấy, lối biện luận như thế của Inrasara là thiếu thuyết phục, thậm chí vô lối. Tôi nghĩ như nhiều người rằng, một bài viết, khi đã được công bố, dù ngắn đến đâu, cũng phải là một văn bản trọn vẹn, giúp người đọc hiểu được trọn vẹn, không cần sự hỗ trợ của bất kỳ một văn bản nào khác ngoài nó. Bài viết có thể “gợi mở và gợi ý” nhiều điều xa xôi, trừu tượng, nhưng mọi điều được gợi lên chỉ có thể xuất phát từ chính văn bản ấy, tuyệt đối không thể nhờ cậy vào một văn bản nào khác. Đó là nguyên lý tối thiểu của sự tiếp nhận thông thường, hầu như không một ai có thể bác bỏ nổi. Bởi vậy, tôi hoàn toàn có quyền rút ra nhận xét là Inrasara đã quan niệm phê bình một cách phiến diện khi viết câu sau: “Lập biên bản có nghĩa là chấp nhận mọi hiện tượng văn chương xảy ra trong thời đại ta đang sống. Bày nó ra như nó là thế, tìm hiểu triết lí trên đó thơ văn đó nảy sinh. […]Các quan điểm sáng tác ấy chưa hẳn đã cùng lối nghĩ của tôi hay tôi đã đồng tình hoàn toàn với nó, nhưng tôi cố gắng nhìn nhận nó như là nó. Thế thôi!” [Câu in nghiêng sau cùng là do tôi chủ ý nhấn mạnh, vì ở bài viết sau anh “lập biên bản” chính văn bản (không phải là lời nói) của mình mà lại thiếu hẳn câu quan yếu này]. Cũng như, Inrasara không thể trách cứ nhà văn Mang Viên Long trên Mạng Văn chương Việt (7.5.2008) khi từ một câu thơ trong bài Thằng Hoang” của anh (Xin xem: Inrasara, Chuyện 40 Năm Mới Kể và 18 Bài Tân Hình Thức”, Nxb. Hội Nhà văn, 2006, tr.94) để nhận xét ở đây anh đã viết về cái ấy một cách…“tục tĩu” được. Chẳng lẽ anh lại biện hộ rằng, ở nhiều bài thơ khác tôi không gọi hoặc có gọi thì không gọi thế, phải đọc tôi “hệ thống” mới đánh giá xác đáng được hay sao? Không, không một ai có thể biện minh lạ lùng như thế cả! Tôi rất lấy làm ngạc nhiên trước hết là vì thế!

3. Dẫu vậy, hay vì nhiều, rất nhiều những nguyên do khác nữa, cũng đã không có bài viết này, nếu không vì một sự ngạc nhiên khác còn lớn hơn nhiều (có lẽ nên gọi là sự kinh ngạc mới phải!): Bài viết Thế nào là phê bình lập biên bản? mới đây giúp tôi hiểu đúng thực chất quan niệm phê bình của Inrasara. Tôi đặc biệt lưu tâm tới tên gọi của nó. Rất khác với tiêu đề bài trước của anh: Phê bình như là lập biên bản. Giờ anh xem phê bình  lập biên bản, chứ không còn như là lập biên bản đâu. Trước đó, vì đã hiểu quan niệm phê bình của anh như là lập biên bản, nên tôi mới có ý định trao đổi thêm nhằm đi tới một quan niệm phê bình toàn diện, hài hòa hơn, như lần này anh đã âm thầm tiếp thu. Còn nếu thật rõ quan niệm của anh khác kia, phê bình chính  hình thức lập biên bản, thì tôi không thể góp ý gì thêm nữa, vì quan niệm của anh và tôi khác biệt nhau xa quá. Như một trời một vực. Thú thực, khi đọc cụm từ  phê bình lập biên bản, tôi không còn tin vào chính mặt mình nữa. Có thể anh sơ xuất chăng? Tựa như trong bài trước anh viết “cùng lối nghĩ tôi”, giờ, sau khi tôi góp ý, anh sửa lại“cùng lối nghĩ của tôi”? Nhưng, hóa ra, không phải vậy. Trong bài viết, hơn một lần, anh đã gọi đúng như thế. Nào là: “Do đó các đặc tính của vấn đề - ở đây là phê bình lập biên bản…”. Rồi: “Dẫu sao, ngay ở Viết ngắn này, tôi cũng đã tóm tinh thần của phê bình lập biên bản, khá là nền tảng”…Thế là không thể hiểu khác được!

 Đặc biệt, có điều kiện dõi theo thao tác phê bình anh từng “theo đuổi…dăm năm qua, tiếp cận nó bằng nhiều phương cách khác nhau”, thì càng có thể hiểu đích thực nó là  gì: đó chính là lối phê bình lập biên bản theo đúng nghĩa đen của nó. Tuyệt đối chính xác, không có gì phải đắn đo nữa cả. Xin được nêu ra hai dẫn dụ trong bài viết của Inarsara mà anh đã thừa nhận là “tôi đã làm đúng như thế”. Một là,  “Biên bản lập chậm” - Cafe Văn học tháng 7 của Hội đồng Anh về Phê bình văn học trên báo chí - Lý tính và cảm tính? được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 6-7-2007, sau đó được đăng trên Vanchuongviet ngày 10-7-2007. Cuối biên bản này, anh cho biết: “Biên bản” có tham khảo trí nhớ của đạo diễn Song Chi và nhà thơ Lý Đợi; sau đó nó được gởi cho Nguyễn Thanh Sơn và Ngô Thị Kim Cúc (là hai diễn giả cùng Inrasara thuyết trình buổi tối ấy) xem lại”. Và Hai là, 7 kì Bàn tròn văn chương (Ban sáng tác trẻ của Hội Nhà văn Việt Nam) do chính anh chủ trì. Cách làm cũng y chang như thế. Anh cẩn trọng viết: “Biên bản được tốc kí ngay tại chỗ, sau đó, để tránh thiếu sót hay nhầm lẫn nhỏ trong phát biểu tự do đầy ngẫu hứng, nó được gởi đến tất cả thành viên xem lại, sửa chữa (nhưng tránh thay đổi ý kiến) mới thành ‘Biên bản Bàn tròn’”.

Lạ quá! Sao không gọi nó là biên bản, như thực chất của nó, nào ghi chép tỷ mỷ, cụ thể, khách quan…, nào thông qua ban tổ chức, càng đủ đầy càng tốt…, chỉ còn thiếu các chữ ký xác nhận và một con dấu nếu đó là một hội nghị quan trọng, mà lại gọi là phê bình lập biên bản cho nhiêu khê. Có gì khác nhau ở đây đâu nhỉ? Inrasara không giấu nổi lòng kiêu hãnh khi thừa nhận: “Đây là lối phê bình tôi chưa thấy nhà phê bình nào ở Việt Nam làm (họ có thể làm chuyện khác, bằng lối khác)…”. Ấy là bởi, không phải vì nó lạ nó hay mà do không ai xem đây là phê bình mà chỉ là biên bản, người viết cũng  không được xem là nhà phê bình mà chỉ là người thư ký. Bảo nó không cần thiết là không phải, nhưng nó chỉ cần thiết đối với đời sống văn chương như là một dạng biên bản thôi! Anh nhận xét đúng lắm: “…nó càng không dính líu tí ti nào với phê bình của Taine hơn thế kỉ trước”. Vì, một lẽ đơn giản, phê bình kiểu H. Taine vẫn được xem là một thiên hướng của phê bình đích thực, còn lối phê bình lập biên bản do Inrasara phát kiến thì không. Cứ cho rằng, cách phê bình mà anh chủ trương nên được thừa nhận rộng rãi thì tôi không thật hiểu sự cần thiết của nó trong đời sống văn chương nằm ở chỗ nào khi máy thu hình, thu thanh hiện đại làm tốt hơn nó nhiều? Và liệu có thể làm được như thế không khi đời sống văn chương đương đại muôn vẻ lại luôn biến động, hầu như cái gì xem ra cũng cần ghi chép để ghi nhớ, lưu giữ cả?

Nói gọn lại, tôi hoàn toàn có cơ sở để hoài nghi tính thực tiễn và tính khoa học của cái gọi là phê bình mà Inrasara tự coi là đã “tuân thủ các thao tác rất khoa học” này.

                                                                                                                      Đà Lạt, 12/12/2008