Trao Đổi‎ > ‎

Không thể cứ xem thường tư duy lý luận mãi thế!


Báo Văn nghệ, số 45, ra ngày 10 tháng 11 năm 2007, có đăng bài viết mang tính nhàn đàm của nhà văn Bùi Bình Thi tựa đề Sự học thời xưa… và thời nay. Từ lâu, tôi có thiện cảm với giọng văn thủng thỉnh, có chiều cợt nhả, phớt đời mà thường khơi gợi, mang theo nhiều chiêm nghiệm lại thấm đẫm nỗi lòng nối liền với cõi người cõi đời rộng dài của anh Thi. Giả thử lúc này đây, nếu tôi có dịp hỏi anh về chuyện viết văn, thể nào cũng nhận được câu trả lời theo đúng cách của các cụ thời trước mà anh có nhã ý nhắc tới trong bài viết của mình, rằng: “Là tôi chơi… vậy nên cái tâm thái nó thư thái”.  Giữa cuộc đời không ít sóng to gió cả này, có được cái tâm thế tự tin, nhẹ nhàng đến như siêu thoát ấy chẳng thể dễ dàng gì. Phải trải đời, trải nghề dữ lắm! Vậy cũng chưa đủ đâu. Lại còn phải nhiều suy gẫm, lắm ưu tư nữa kia. Mới hay, để có những trang văn lay động, thức tỉnh người đọc, nhà văn phải tự đòi hỏi mình, tự nâng cao mình, nhiều, rất nhiều. Mà cũng lắm thứ. Nhất là về mặt nhận thức nghề nghiệp. Chẳng phải xưa nay, những ai thấu hiểu lẽ đời lẽ văn đều coi công việc viết lách trước tiên là một dạng hoạt động đầy ý thức của con người là gì!

Tôi đang đề cập đến tính tự giác của nghề văn. Chẳng là, theo sự gợi ý gần đây của các nhà nghiên cứu nổi tiếng ở ta cũng như trên thế giới, tôi chú tâm tìm hiểu trực tiếp từ toàn văn những ý kiến quan trọng của K Marx về văn chương, nghệ thuật. Đúng vào lúc tôi chăm chú đọc bài viết kia của anh Thi. Như có cơ duyên gặp gỡ. Tôi cố ý nhấn mạnh các từ trực tiếp và toàn văn, bởi bấy lâu nay, như đã thành thói quen, cố nhiên là thói quen xấu, rất cần thay đổi, là nếu có nghiên cứu mỹ học Marx, tôi - và chắc không chỉ riêng tôi - thường chỉ tìm tới các công trình khảo luận của người khác, nghĩa là dựa vào cách hiểu, cách giảng giải của người khác. Sự phụ thuộc về tư tưởng khoa học, dầu được thanh minh biện giải ra sao, cũng khó lòng tránh khỏi vậy. Thêm nữa, nếu có mạnh dạn mở rộng tiếp xúc với văn bản, mong có được sự bổ sung gì thêm, thì cũng chỉ dừng lại ở các tuyển tập, thậm chí các trích đoạn. Phải thấy rằng, cho dầu các tuyển tập được soạn chu toàn đến đâu, cũng như các trích đoạn được chọn kỹ càng đến mức nào, thì cũng khó giúp người đọc hiểu cho thật đủ, thật đúng tư tưởng cao sâu của K. Marx. Và chắc không chỉ đối với di sản của K. Marx. Trong rất nhiều bài học thấm thía rút ra được khi đọc K. Marx, tôi đặc biệt coi trọng ý nghĩa lý luận và phương pháp luận. Đối với một nhà khoa học. Và đối với cả sự hưng vong của một dân tộc. Riêng với tôi, đó là những tri thức gốc. Như người đời thường nói, gốc có bền thì cây mới vững. Chẳng hạn, quan niệm của K. Marx về vai trò của tư duy lý luận đối với sự phát triển của khoa học, nhất là khoa học xã hội - nhân văn đặt trong quan hệ máu thịt với dân tộc. Ở Lời nói đầu công trình “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen”, ông đưa ra cách nhìn nhận thật chân xác mà cũng thật sắc sảo.Về vai trò không gì thay thế được của lý luận, của tư tưởng, trong đời sống tinh thần của một dân tộc, K. Marx xác định: “Triết học (có thể hiểu rộng ra là tư tưởng và lý luận) Đức (cũng có thể hiểu đối với bất cứ dân tộc nào) là sự tiếp tục của lịch sử Đức trong ý niệm” (Toàn tập, tập I, tr. 577)Có thể từ đó suy ra, không thể nhận chân một cách đầy đủ lịch sử của một dân tộc nếu không dựng lại bức chân dung ý niệm của dân tộc ấy vốn được kết tinh trong triết học, trong tư tưởng và lý luận. Không thể coi thường lý luận là vì thế. Một dân tộc thiếu hay yếu về tư duy lý luận thì phải bị xem một cách chính đáng là dân tộc ấy chưa hòan thiện hoặc chưa phát triển về mặt tinh thần. Tuy nhiên, theo K. Marx, muốn tạo dựng nên một học thuyết, một trường phái tư tưởng nào đó lại không hòan tòan tùy thuộc vào nỗ lực tỏa sáng của từng cá nhân, dầu là những cá nhân uyên bác, tài năng hơn người. Yếu tố quyết định nằm ở đòi hỏi lý luận của chính dân tộc mà anh ta đại diện. K. Marx viết thật thấu lý: “Ở mỗi dân tộc, lý luận bao giờ cũng chỉ được thực hiện theo mức độ mà nó là sự thực hiện những nhu cầu của dân tộc ấy”. Có thể hiểu, trình độ lý luận của một dân tộc phản ánh trung thực mức độ nhu cầu lý luận của dân tộc đó trên thực tế. Nếu thẳng thắn nhìn vào thực tế nước ta, thì như nhiều người từng bảo, dân tộc mình xem ra mạnh về cảm tính mà yếu về lý tính. Có hạt nhân hợp lý trong nhận xét này. Phải chăng là bởi trong trường kỳ lịch sử dựng nước, giữ nước và mở nước, dân tộc ta chưa chú ý thích đáng đến những đòi hỏi về lý thuyết. “Những nhu cầu lý luận – như K. Marx viết tiếp - liệu có trực tiếp trở thành thực tiễn hay không? Tư tưởng cố sức biến thành hiện thực vẫn chưa đủ, bản thân hiện thực cũng phải cố sức hướng tới tư tưởng”  (Toàn tập, tập I, tr. 582). Muốn nâng cao tư duy khoa học, nhất là khi ta đã tham gia hội nhập vào thế giới sâu rộng như hiện nay, cần phải có bước đột phá từ cả hai phía: tư tưởng, lý luận cần tự nâng cao mà nhu cầu thực tiễn về lý luận, tư tưởng cũng phải gia tăng. Nếu như chưa có được sự ăn  nhập này, thì chí ít, phía các nhà lý luận cũng phải chủ động dấn tới. Bởi lẽ, đúng như K. Marx nói, “thậm chí xét theo quan điểm lịch sử thì sự giải phóng về mặt lý luận…cũng có một ý nghĩa đặc biệt thực tiễn” (Toàn tập, tập I, tr. 581). Không nên hiểu quan tâm tới lý thuyết chỉ là vì lý thuyết, nếu nghĩ kỹ, sự coi trọng phát triển lý thuyết thật sự có ý nghĩa xã hội lâu dài và rộng lớn hơn nhiều. Ở đây, những đóng góp của từng nhà tư tưởng, từng nhà lý luận là cực kỳ quan trọng. Nhất là khi họ ôm ấp một lý tưởng và khát vọng khai sáng lớn. Chỉ có điều, nên hiểu vai trò của các tài năng trong tương quan mật thiết với dân tộc mình như K. Marx từng lưu ý: “Nhưng, nếu một cá nhân không bị giàn buộc bởi những ranh giới quốc gia thì không phải một cá nhân được tự do mà tòan thể quốc gia cũng được tự do. Trong số những nhà triết học Hy Lạp, đã có một người Xkiphơ, nhưng điều đó tuyệt nhiên đã không làm cho người Xkiphơ tiến đến nền văn hóa Hy Lạp được bước nào” (Toàn tập, tập I, tr. 576 - 577). Cá nhân không thể tách rời dân tộc. Mà cũng không thể tách khỏi thời đại. Trong khi, nhu cầu về tư tưởng và lý luận trong thời đại ngày nay khẩn thiết và lớn lao biết chừng nào! Không một ai dửng dưng ngoảnh mặt làm ngơ với lý luận mà lại không bị rơi vào cô lập, lạc lõng cho được.

Xin trở lại với bài viết của nhà văn Bùi Bình Thi. Có thể nói, cái duyên trong văn anh ở đây vẫn còn mượt mà lắm. Tôi, như trước đây, miên man thích thú với đoạn đầu tiên, chứng kiến lời kể đậm đà mà tinh tế  về sự học thời xưa của anhVí như, anh thuật lại: “Thời xưa, các cụ ta truyền miệng rằng: “Dạy con từ thuở còn thơ”. Còn thơ cũng có nghĩa là trẻ khi còn rất nhỏ, và rồi bà nội tôi bảo, còn phải dạy chữ cho trẻ từ trong thai kia. Ấy thế mới khó, nhưng lại là có thật, thật một trăm phần trăm”. Đại để như thế, có thể dẫn ra dài dài. Nhưng tới phần sau, nói về sự học thời nay, thì càng đọc, tôi lại càng thấy có nhiều điểm không thật đồng tình với anh. Đáng nói nhất là đoạn anh lạm bàn về những khả năng thiết yếu nhất trong việc đào luyện con người ở bậc phổ thông. Anh bảo, các môn Văn, Sử, Địa quan trọng lắm, chúng quyết định “tạo nên cốt cách con người sau này”. Tôi e là anh đã đi hơi xa trong việc đề cao quá mức vai trò của các môn học này. Cứ như quan niệm cổ xưa của các cụ ta vậy! Cần phải chú trọng thêm các môn khoa học tự nhiên - kỹ thuật mới phải. Các nhà cải cách giáo dục buổi đầu ở ta, học theo phương Tây, tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ, từng đòi hỏi bổ sung vào chương trình học cũ phần nhiều vu khoát, điển chương, sách vở những môn học mới mẻ giàu triển vọng ứng dụng là hoàn toàn đúng đắn và cần thiết. Ta không nên chối bỏ. Mà thực tế cũng không thể chối bỏ nổi. Thời hiện đại là thời hiển vinh của khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật kia mà! Nhưng thôi, đó là quan niệm riêng của anh Thi, không thể bắt mọi người cùng nghĩ như nhau cả. Nhất là khi biết rõ động cơ chính đáng của anh là mong muốn tạo nên sự cân bằng trong nhận thức thiên lệch kéo dài của một bộ phận không nhỏ trong xã hội khi đất nước chạm chân vào nền kinh tế thị trường. Thực tế khiến nhiều người đau lòng là đây đó giá trị vật chất đã thật sự lên ngôi. Không ít người, như con thiêu thân, lao vào con đường làm giàu bằng mọi cách và bằng mọi giá. Khoa học - kỹ thuật trở thành lực lượng vật chất trực tiếp vì thế nhiều lúc nhiều nơi được tôn thờ quá mức. Sự xuống cấp về đạo đức gắn chặt với việc coi nhẹ các môn xã hội – nhân văn ở nhà trưởng khiến bất kỳ ai còn lương tri đều thấy lòng mình phấp phỏng khôn nguôi. Rất nhiều lời cảnh tỉnh tâm huyết đã được xã hội chăm chú lắng nghe. Anh Thi góp thêm một tiếng nói, dẫu cứ cho là thiên lệch đi nữa, cũng là phải nhẽ, và vì thế, có thể phần nào cần được chia sẻ.

Tuy nhiên, ở đoạn sau, lúc anh trực tiếp bầy tỏ quan niệm của mình về vai trò - theo ý kiến riêng của anh -  có tính nền tảng của kỹ năng miêu tả và trần thuật trong học văn ở nhà trường phổ thông thì tôi lại hoàn toàn không thể đồng tình với anh được. Anh thẳng thừng đưa ra ý kiến của mình: “Cái cốt lõi nhất của môn văn là hệ miên tả và trần thuật”. Tôi đồ rằng ở đây hình như anh có lầm lẫn về môi trường đào tạo thì phải. Cứ như là anh đang đòi hỏi kỹ thuật viết đối với một người cầm bút trong Trường Viết văn Nguyễn Du không bằng. Không phải đâu, đây là môn Văn ở trường phổ thông, anh Thi ạ! Nó có mục tiêu xác định trong sự thống nhất hài hòa với các môn học khác. Cũng phải đảm bảo sự hài hòa ở chính môn Văn. Hai thể văn tả và kể, học sinh chủ yếu được học và luyện ở cấp phổ thông cơ sở. Nhìn đại thể, chất lượng học, đặc biệt là về kỹ năng, một yêu cầu cơ bản mang tính đặc thù bộ môn, chưa phải đã cao. Cũng là hiện trạng chung, hầu như ai cũng thấy cả. Cần chỉ ra để tiếp tục hoàn thiện dần. Vậy nên, chưa có gì đáng bàn trong nhận xét này của anh: “Bây giờ học sinh vô cùng lớ ngớ khi phải dùng đến phương pháp này. Không biết miêu tả thế nào, lại càng không biết trần thuật thế nào”. Có điều, những suy luận tiếp theo từ đó của anh xem ra càng lúc lại càng thiếu sức thuyết phục: “Rồi bây giờ hễ cứ động chạm đến một bài văn nào là dở cái ngón bình luận, nghị luận ra. Trong khi miên tả và trần thuật là gốc, còn bình luận, nghị luận chỉ là cành lá. Vậy là lứa trẻ bây giờ toàn học lộn ngược”. Tôi dứt khoát không nghĩ như anh. Ở đây, không có chuyện gốc chuyện ngọn, chỉ có mối quan hệ bình đẳng trong đòi hỏi năng lực toàn diện đối với học sinh khi học và luyện môn Văn. Có thể xem nắm vững và viết thạo thể miêu tả và trần thuật là nhằm tới văn sáng tác mang tính nghệ thuật, còn hiểu rõ và viết hay thể nghị luận là nhằm tới văn khoa học mang tính học thuật. Học sinh, khi ra đời, tùy vào hoàn cảnh cùng thiên hướng riêng mà nghiêng về việc sử dụng dạng văn này hay dạng văn kia. Cuộc sống đòi hỏi cả hai. Nên học sinh phải thuần thục cả hai. Chuyện này thì sự học xưa và nay có sự gặp gỡ. Tựa như anh Thi nói về việc tuyển lựa thiên hướng trẻ thơ khá phổ biến thời trước ở nước ta, nay nếu có khác thì chỉ khác về cách thức thôi: “Đến khi đứa trẻ ra đời, khi biết ngồi và hai tay biết cầm nắm, biết nghịch, thì ông nội cắt cho một lô chữ Hán Việt trong đó có chữ khoa và chữ văn, nếu đứa trẻ cầm nắm chữ khoa nhiều lần thì sau này…thầy cho học về toán. Và nếu đứa trẻ cầm nắm chữ văn nhiều, thầy giáo sẽ nghiêng về dạy cho trẻ phần thi văn”. Đây là hai xu hướng biểu hiện ra bên ngoài của hai tư chất chủ yếu chất chứa tự bên trong của bất cứ ai. Ngày nay, tâm lý học hiện đại đã phát hiện ra cơ cấu thần kinh quyết định tới khả năng tư duy của con người. Đại thể, người nào phát triển bán cầu não phải hơn thì có thiên hướng về tư duy hình tượng - cụ thể; còn ngược lại, người nào bán cầu não trái phát triển hơn thì có khả năng về tư duy logic - trừu tượng. Không ai chỉ có một bề, một phía, vì con người và cuộc sống đòi hỏi đồng thời cả hai. Chúng hỗ trợ cho nhau, nhưng chúng lại tương đối độc lập với nhau, không đâu là gốc là ngọn cả. Sự kỳ diệu của cấu trúc sinh học nơi con người là thế. Vừa chú trọng sự đồng đẳng, vừa không quên sự khác biệt. Khác nhau chỉ là khuynh hướng chung. Muốn thành đạt, phải biết sở trường, sở đoản của mình. Mạnh ở đâu thì nên hướng vào đó. Tất thẩy nhằm phát huy cao nhất sự tập trung của con người, kể cả  thời giờ lẫn nghị lực. Có vậy, nhân loại và dân tộc mới có nhân tài; trong nhân tài mới vừa có nhà khoa học vừa có người nghệ sỹ. Cả hai loại người thể hiện hai thiên hướng chính yếu ấy của con người đều cần với xã hội cả. Ấy là nhằm tạo nên sự hài hòa của cuộc sống như mong ước. Chỉ có điều, ở cấp học dưới, do nhận thức trừu tượng của trẻ thơ chưa thật phát triển nên ta phải chú trọng tới các thể văn thiên về nhận thực cảm tính như miêu tả và trần thuật trước. Ở bậc học cao hơn, ta mới có điều kiện quan tâm đến các thể văn bồi dưỡng tư duy khoa học, như nghị luận, bình giảng. Tôi cho như thế là phù hợp.

Tuy nhiên, phải thấy sự phân chia nói trên chỉ là tương đối thôi. Mọi ý định đối lập hai dạng thức tư duy hình tượng và tư duy khoa học đều tỏ ra không biện chứng và thiếu thực tế. Chúng dễ dàng bị bác bỏ. Thế nên, anh Thi chỉ nhìn thấy sự khác biệt mà không thấy sự tương tác của các thể văn là không thuyết phục. Anh giải thích sự miêu tả thế này: “Gốc rễ của miên tả là sự xem xét, nhìn và thấy. Nhìn là bao quát cái bên ngoài trong, thấy là soi tỏ cái bên trong của tòan bộ hệ thâu lượm và nhận thức sự thật, cái thật..”. Những chữ xem xétbao quát, soi tỏ, nhận thức, các biểu hiện rõ rệt của tư duy luận lý trong đoạn văn giảng giải khá chuẩn xác của anh Thi về văn miêu tả là do tôi chủ tâm nhấn mạnh. Như đã thấy, hai dạng thức tư duy cơ bản của con người đâu có tách biệt hẳn ra. Với nhà văn cũng thế. Tôi đồ là anh đã tuyệt đối hóa vấn đề khi đưa ra dẫn dụ kèm theo sự bình luận không mấy thích đáng trong đoạn văn của một nhà văn nọ: “Có một ông nhà văn có tên tuổi hẳn hoi, ông ấy miêu tả một cô gái khóc như sau: “nàng nấc lên trong nước mắt tuôn; phải rồi, nỗi uất ức chất chứa hàng thế kỷ trong nàng, bây giờ mới có dịp bung ra”. Đọc đến thì biết ngay tác giả này không thể mô tả một cô gái khóc thì nó ra làm sao”. Sự bình luận đi kèm của anh Thi rõ ràng là không mấy thích đáng, vì ở đoạn văn này, tác giả không hoàn toàn có ý mô tả, chỉ chủ tâm phân tích. Nhà văn, nhất là những nhà văn theo chủ nghĩa hiện đại, rất coi trọng biện pháp này. Chớ vì thiên hướng của mình mà phủ nhận thiên hướng của người. Mọi thứ trong cuộc đời và trong nghệ thuật đều có cái lý tồn tại riêng của nó. Không nên khước từ sự đa dạng của văn chương. Xin được nhắc lại, đoạn văn nêu trên hay dở thế nào, tôi không có ý định đánh giá, nhưng nó hoàn toàn có quyền đứng dưới ánh sáng mặt trời như bất cứ phương thức biểu hiện nghệ thuật nào khác. Vả lại, cứ thử giở bất kỳ trang văn của bất cứ tài năng văn chương nào, như Nam Cao chẳng hạn, ta đều dễ dàng bắt gặp thiên hướng thể hiện tương tự. Nó không hề lộng ngôn, ngoa ngữ, rẻ tiền, phải tuyệt đối tránh trong văn học như anh Thi lớn tiếng kết tội đâu. Buồn cười nhất có lẽ là đoạn kết. Anh đưa ra một đề thi văn cho thí sinh tốt nghiệp phổ thông sau khi chọn một bài thơ có trong chương trình môn Văn thế này: “Em hãy miêu tả (trần thuật) lại về bài thơ đó qua từng câu thơ bằng lối văn xuôi của em”. Ối trời ơi, phần chắc là học sinh sẽ diễn nôm ý thơ ra, tẻ nhạt, tẻ nhạt lắm.“Tất cả mọi thể loại đều tốt, trừ thể loại buồn tẻ” - Voltaire. Theo tôi, một đề văn như vậy chỉ có thể đắc dụng với mục đích chứng minh cho vai trò của văn miêu tả và trần thuật theo ý của người viết chứ chẳng thể nói lên được điều gì về tri thức và kỹ năng cơ bản của văn học - cái ta cần đánh giá nơi thí sinh. Chưa hết, anh còn mạo muội đi xa hơntheo đúng từ dùng của anh Thi, đưa ra đề thi tuyển chọn vào bậc đại học: “Sau khi em đã miêu tả về (trần thuật) bài thơ ấy bằng lối văn của em, thì theo em qua bài thơ, tác giả muốn nói điều gì?”. Chưa vội bàn tới sự lủng củng của một đề thi vốn yêu cầu cao về tính chuẩn mực, một đòi hỏi như anh Thi quả là bất cập. Nếu thế, ý nghĩa một bài thơ theo cách hiểu của anh sẽ là luôn “bất biến, có sẵn trong văn bản rồi”, và phân tích bài thơ “chỉ cần “mở nếp gấp) để lấy ra, như thò tay vào túi lấy ra cái gì mình đã biết trước” vậy! (Những đoạn trong ngoặc kép là lời của giáo sư Trần Đình Sử trong bài viết rất đáng suy ngẫm có tên Chính danh môn văn trong nhà trường phổ thông - Báo Văn nghệ, số 46 / 2007).

Cứ triển khai theo logic nhất quán kể trên, tất nhiên, nhà văn Bùi Bình Thi sẽ là tác giả của đoạn văn sau: “Có một chân lý, khi không thể nào miêu tả được một đối tượng…, một sự việc, lớn hơn nữa một công cuộc, trông nó hình hài thế nào, nội dung thế nào v.v. thì người ta đành phài dùng tới sự dối trá để thay thế, để lấp vào cái chỗ trống khổng lồ đó. Và sự dối trá đó là “nghị” và “bình luận”. Thế rồi, khi dối trá chồng chất lên dối trá kia, và chồng cao lên bao nhiêu, thì sự thật và tính trung thực càng lìa xa chúng ta bấy nhiêu”. Thật đáng kinh ngạc, những lời bàn luận vố lối kiểu này. Nhà văn thường hay cực đoan. Tôi không ngờ anh Thi lại có thể cực đoan đến mức ấy. Nhưng, giới hạn không ở đó, đáng kinh ngạc hơn là lời kết sau cùng của anh Thi: “Vậy là, về miêu tả và trần thuật, nó bao gồm toàn bộ và là nền tảng của toàn bộ sự hiểu biết và trí tuệ của con người”. Một sự khái quát rộng lớn hơn nhiều, cùng với một thái độ cả quyết hơn nhiều. Cứ như chân lý đã nằm chắc trong tay của người viết rồi, không còn gì phải bàn luận thêm nữa. Nhưng, tôi có thể dám chắc là sẽ có nhiều ý kiến khác xa anh, rồi sẽ lên tiếng tranh luận cùng anh. Không thể đừng được. Tôi chỉ là một trong số người đông đảo ấy thôi.

Để kết luận bài viết của mình, tôi muốn được bầy tỏ nỗi lo ngại bấy lâu rằng, sẽ còn lâu, rất lâu nữa, dân tộc ta mới thoát khỏi căn bệnh tinh thần trầm kha như trong bài viết của anh Thi đã sáng suốt chỉ ra một cách đích đáng: “Dân Việt Nam chỉ thích làm cái gì tiện lợi cho bản thân thôi. Cái gì hễ thấy phiền phiền một tý là phớt lờ luôn, thây kệ luôn”. Một trong những biểu hiện đáng nói nhất và cần sửa ngay nhất chính là thói xem thường lý luận của người Việt với hàng trăm hàng ngàn biểu hiện sinh động khác nhau. Tôi coi quan niệm của nhà văn Bùi Bình Thi bộc lộ thẳng thắn trong bài Sự học thời xưa… và thời nay là một biểu hiện rõ rệt hơn cả. Rất mong, đó chỉ là ý kiến riêng của anh Thi, không thật tiêu biểu, càng không phải là phổ biến. Có vậy, lời nhận xét thiên tài của K. Marx mới mãi mãi đúng: “Nhưng, nếu như có một số người nào đó không thể tiêu hóa được môn triết học mới nhất và chết vì tình trạng không tiêu hóa được triết học, thì điều này chẳng có gì để chống lại triết học, cũng giống như những trường hợp nổ nồi hơi, mà hậu quả là một số hành khách bị bắn lên không trung, cũng chẳng có gì để chống lại môn cơ học” (Toàn tập, Tập I, tr.160). Chính đó là lý do khiến tôi không vơi đi niềm hy vọng vào tương lai tốt đẹp của dân tộc.

 

                                                                                                                Đà Lạt, 23/11/2007