Trao Đổi‎ > ‎

Đối thoại về "Số phận những tìm tòi..."

 

Phải nói là tôi có thể chia sẻ nhiều điểm trong bài Số phận những tìm tòi hình thức trong thơ Việt Nam sau 1945 (1) của Vương Trí Nhàn. Tuy thế, có nhiều điểm tôi không thể tán thành cùng anh. Trước hết, theo tôi, không thật thích hợp khi Vương Trí Nhàn chọn thơ Nguyễn Đình Thi thời kháng chiến chống Pháp để biện giải “số phận những tìm tòi hình thức trong thơ Việt Nam sau 1945”. Vì sao vậy?

            Thứ nhất: Trong cuộc tranh luận văn nghệ tháng 9-1949, thơ Nguyễn Đình Thi bị chỉ trích chủ yếu ở “định hướng nội dung” (chữ của Vương Trí Nhàn) tư tưởng, tình cảm, chứ không phải ở phương diện hình thức. Cũng như nhiều văn nghệ sỹ đi theo cách mạng thời ấy, chất tiểu tư sản trong thơ Nguyễn Đình Thi còn rất nặng. Phải “lột xác”, không còn cách nào khác, nhưng không ít đau xót đã diễn ra. Đúng như nhà thơ đã viết trong Nhận đường: “Cái xác cũ rụng xuống chưa dứt hẳn, da non mới mọc chưa lành, một chút gì chạm phải cũng rỏ máu”(2) . Nếu những bước đầu tiên trên con đường mới còn “loạng choạng” (chữ của Nguyễn Đình Thi) cũng là không tránh khỏi. Mặc dầu Nguyễn Đình Thi viết rất hay về mối quan hệ giữa văn nghệ và kháng chiến, thế nhưng trên thực tế, trong con người Nguyễn Đình Thi, nhà sáng tác chưa theo kịp nhà tư tưởng. Sự so le giữa nhận thức và hành động trong ông là có thật và dễ hiểu.

            Trong cuộc trao đổi kéo dài vài ngày năm ấy, có những ý kiến quá đáng (như cho thơ Nguyễn Đình Thi là “nguy hiểm”). Song trên đại thể là đúng mực, và nhất là có thể giải thích được vào hoàn cảnh lúc đó. Thế Lữ cho rằng tình cảm trong thơ Nguyễn Đình Thi “chỉ có riêng mình anh rung cảm”. Tố Hữu thì kết luận thơ Nguyễn Đình Thi “chưa nói, hay nói ngược cuộc sống của quần chúng”, vì thế “những lúc thấy cần làm việc tôi thấy ghét thơ anh Thi ghê lắm, vì tôi thấy ghét cái cá nhân - PQT lưu ý - nó lại trở về với tôi”. Chính Nguyễn Đình Thi cũng phải nhận là“ ông có buồn so với mọi người, mình đang đi một con đường khác” (lời Vương Trí Nhàn). Cái “tôi” lạc lõng so với không khí chung. Và nếu có ai đánh giá thơ Nguyễn Đình Thi khi ấy “cao đạo cầu kỳ” thì cũng không có gì là qúa đáng cả. Đó chính là lý do khiến nhà thơ sau này đã thay câu Ta nghe ta hát một mình (3) thành câu Đâu đây tiếng suối rì rào trong bài Đường núi. Đó đồng thời cũng là lý do khiến “hội nghị tranh luận không có kết luận chính thức về thơ Nguyễn Đình Thi” như Vương Trí Nhàn xác nhận. Vậy rõ ràng tác giả bài báo không đủ cơ sở để từ những phê phán về nội dung thơ Nguyễn Đình Thi đi tới nhận xét về những tìm tòi hình thức là không được đối xử thân thiện, để sau đó “không được tiếp tục”.

            Thứ hai: Xét kỹ những trường hợp chưa thành công của thơ Nguyễn Đình Thi thời kháng chiến chống Pháp, ta thấy nguyên nhân chính nằm ở chỗ hình thức chưa ăn nhập với nội dung, chứ không phải ở chỗ sự tìm tòi hình thức chưa có điều kiện triển khai đến cùng “như đáng lẽ phải có” (lời Vương Trí Nhàn). Anh Vương Trí Nhàn, tôi và tất cả chúng ta đều có thể tán thành với luận điểm của Nguyễn Đình Thi rằng: “Nội dung mới tự nó sẽ tìm đến hình thức mới”. Từ sau Cách mạng tháng Tám, cả dân tộc ta bước vào cuộc trường chinh vĩ đại giành độc lập, tự do. Sự sống đã khác trước, tâm trạng đã khác trước. Vậy nên, nói như Nguyễn Đình thi, nếu nhà thơ không muốn đứng bên lề cuộc sống thì phải học lời nói của anh binh nhì “khỏe mạnh, hồn nhiên của một cuộc đời làm lụng chiến đấu không ngừng”. Tiếc là những bài như Không nói chưa đạt được yêu cầu như mong muốn của người viết. Chất cảm nghĩ của nhân vật trữ tình và lối thể hiện của bài thơ chưa có sự ăn nhập cần thiết. Không phải trái tim của những chàng trai cô gái tham gia kháng chiến không có chỗ dành cho tình yêu. Như bao đôi lứa khác trên đời, họ có thể trải qua mọi trạng huống, mọi cung bậc của con tim yêu đương. Tuy nhiên, trong cái nhìn “không nói” và nhất là trong “bóng nhỏ” trên “đường lầy” nơi “chiều mờ gió hút”, thật là khó đồng cảm vào thời ấy. Ở những bài thơ thành công của Nguyễn Đình Thi như Nhớ (1951) thì khác. Nội dung tình cảm dường như đã tìm được cách thức thể hiện phù hợp:

            Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt

            Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời

            Do đó, tôi không thể tán đồng với ý kiến của Vương Trí Nhàn: “Từ đó về sau trong những bài mới làm người ta bắt gặp một sự thỏa hiệp - PQT nhấn mạnh - : Ông không từ bỏ những tìm tòi đã có nhưng cũng không đẩy nó đi xa hơn như đáng lẽ phải có. Nói chung là ông pha loãng - PQT nhấn mạnh - thơ mình ra và làm cho nó gần với thơ mọi người hơn”. Ở đây, theo tôi, không có sự “thỏa hiệp” hay “pha loãng” nào cả. Đúng hơn, có lẽ càng ngày Nguyễn Đình Thi càng nhập vào đời sống của nhân dân, của kháng chiến nên có được sự gặp gỡ tự nhiên giữa nội dung mới và hình thức tương ứng trong các tác phẩm của mình. Đó cũng là con đường đi tới thành công của Hồng Nguyên, Trần Mai Ninh và một số nhà thơ khác trong cuộc kháng chiến chín năm. Khi đó có thể xem như mong ước của Nguyễn Đình Thi nhằm xây dựng “một nghệ thuật còn ròng ròng sự sống... một cái đẹp khỏe, không khéo léo phấn son, mà mộc mạc, tươi như vừa nẩy lên từ một bàn tay hóa công nào” đã bước đầu được thực hiện.

            Có thể đi tới kết luận rằng “số phận” của những bài thơ không thành công của Nguyễn Đình Thi trong buổi đầu kháng chiến chống Pháp không phải là “số phận” của những tìm tòi hình thức mà chỉ là “số phận” của những sản phẩm nghệ thuật còn “lơ lửng”, còn “lạc lõng” (chữ của Nguyễn Đình Thi) so với đời sống của đông đảo quần chúng đang bằng mọi giá giành và giữ  nền độc lập của dân tộc. Ở đây chạm phải vấn đề tính đại chúng của hình thức nghệ thuật mà theo tôi Vương Trí Nhàn đã ít nhiều giải thích thiếu quan điểm lịch sử - cụ thể. Ai cũng biết, điều cốt tử khi ấy với thi ca, với nghệ thuật là cần phải hữu ích. Dân trí của những người tham gia kháng chiến, nhất là những người trực tiếp cầm súng còn thấp nên thơ gắng sao cho thật dễ hiểu. Nếu “hướng vào đại chúng” có được xem là “tất cả” (chữ của Vương Trí Nhàn) thì cũng không có gì đáng phàn nàn, đáng chê trách. Ngay tác phẩm Mẹ con đồng chí Chanh (1953) có giọng kể như truyện dân gian nên được in tới sáu lần trong vòng hai, ba năm sau đó, cũng thật dễ hiểu. Nguyễn Đình Thi từng viết về mục đích thiết thực của các sáng tác thời ấy thế này: “Chúng ta muốn có những cuốn tiểu thuyết, những tập thơ thay đổi được cả cuộc đời người đọc - làm thành người, đẩy chúng ta lên sự sống trước kia chỉ đứng xa nhìn thấp thoáng”(4) . Nghệ thuật muốn “thay đổi được cả một đời người đọc” chủ yếu là nông dân, công nhân không thể không “rộng rãi và quần chúng” về hình thức. Yêu cầu phổ cập có phần được chú trọng hơn yêu cầu nâng cao. Tất cả là do hoàn cảnh chi phối. Khi hoàn cảnh thay đổi, sự thể sẽ khác đi. Nhận xét của A. Gide về ý nghĩ của những nhà lãnh đạo văn nghệ ở Liên Xô sau Cách mạng tháng Mười “ngày nay nghệ thuật phải là bình dân hoặc không phải là nghệ thuật” cũng nên đặt vào hoàn cảnh cụ thể mà xem xét. Cũng không nên viết chung chung như Vương Trí Nhàn trong bài báo rằng “sự phát triển của thơ cách mạng ở các nước thường bao giờ cũng theo hướng là đi vào đại chúng”. Theo tôi, cần nói rõ thơ cách mạng ở vào thời điểm nào, bị chi phối bởi những quy luật gì?

            Cuối cùng, không thể không lưu ý tới ý nghĩa thời sự của bài báo. Anh Vương Trí Nhàn viết: “ Ngày nay, muốn đi xa hơn chúng ta phải biết chia xẻ (5) với những đớn đau, nuối tiếc và tìm cách rút kinh nghiệm ngay trong thành công và thất bại của người đi trước”. Có thể là như vậy. Nhưng theo tôi, ý nghĩa thời sự của vấn đề mà tác giả bài báo đưa ra nếu có cũng rất mờ nhạt . Vì, như đã trình bày ở trên, thực chất của “số phận” thơ Nguyễn Đình Thi thời kháng chiến chống thực dân Pháp không phải là vấn đề tìm tòi hình thức. Trong khi lần đầu tiên, vài năm trở lại đây, xét trong tiến trình thi ca Việt Nam từ sau năm 1945 đến nay (không kể thơ ca miền Nam 1954-1975), vấn đề cách tân thi pháp được một số nhà thơ và nhà phê bình trực tiếp đặt ra. Và cũng xin nói thêm, bài học rút ra từ bài báo cũng chỉ nghiêng về những kinh nghiệm thất bại. Ví như, bài thơ Đêm 27 mà Vương Trí Nhàn có nhắc đến. Quả không thể chấp nhận được khuynh hướng tìm  tòi của người viết. Thơ có thể không có vần, câu dài ngắn có thể khác nhau nhưng không thể thiếu âm điệu. Cái thứ  thơ “lục cục lào cào” ấy “số phận” ra sao, không cần chờ thời gian cũng có thể đoán biết được trước. Vậy nên không lấy làm lạ khi Vương Trí Nhàn nhận xét: “Qủa nhiên về sau, những bài thơ thuần túy hình thức như thế này - PQT lưu ý - dứt hẳn”. Theo như người bình luận Báo Văn nghệ hồi ấy thì “đó là theo cái lối xếp thơ của các ông thi sỹ tượng trưng bên Pháp”. Học đòi như thế qủa không lấy gì làm “sang”. Vì vậy, tôi rất ngạc nhiên khi tác giả kết luận về những tìm tòi hình thức theo xu hướng đó như thế này: “Sự thật là nó rất ít được ủng hộ, tình cảnh của nó giống như tình cảnh của một đứa con nhà nghèo mà lại ăn mặc đàng hoàng như những đứa con nhà sang trọng khác. Không được! Các ông anh bà chị lên tiếng phản đối. Lâu ngày mặc nhiên hình thành một thứ  luật lệ riêng ngự trị trong gia đình: Không tìm tòi gì cả”. Theo tôi người ta “nghèo” vẫn có thể  “sang”, và vẻ sang cả thực thụ không có gì dính dáp với cái lố lăng, hợm hĩnh.

           

                                                                                                                                     29-7-1995

 


(1) Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh số 200, ra ngày 12/7/1995.

(2) Cách mạng, kháng chiến và đời sống văn học (nhiều tác giả) Nhà xuất bản Tác phẩm mới, T I, Hà Nội,1985, tr.9.

(3) Theo tôi, không thể từ câu Ta nghe ta hát một mình mà bình luận chung chung về quy luật phát  triển của thơ là “ngày càng đi sâu vào nội tâm, vào cái thế giới bên trong vô cùng tận của mỗi cá nhân” như tác giả đã viết. Nếu đặt vào hoàn cảnh cụ thể khi ấy, câu thơ rõ ràng thể hiện sự cách biệt giữa con người cá nhân và con người tập thể trong thơ Nguyễn Đình Thi sau Cách mạng tháng Tám.

(4) Sách đã dẫn, tr.18.

(5) Có lẽ "chia sẻ" thì đúng hơn.