Trao Đổi‎ > ‎

Hoài Thanh không "đạo" văn đâu!

Trên tạp chí Thế giới mới số 602, ra ngày 13/ 9 /2004 có đăng bài viết rất đáng chú ý của nhà phê bình Lại Nguyên Ân có tên dưới dạng một giả định: Hoài Thanh cũng “đạo văn”? Anh đưa ra hai dẫn chứng về phê bình văn chương, một của Hoài Thanh – Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam, (Nxb Văn học, Hà Nội, 1988, tr.33 – 34) và một của Lê Tràng Kiều trên Hà Nội báo, ngày 8 / 4 / 1936, rồi đặt vấn đề là hình như ở đây có chuyện đạo văn – cái chuyện công luận gần đây đặc biệt quan tâm phát hiện và phê phán.

Tôi tâm đắc với cách đặt vấn đề và hướng giải quyết vấn đề của nhà phê bình Lại Nguyên Ân. Từ quan niệm thế nào là đạo văn, anh nêu ra hiện trạng, chỉ ra cách giải quyết, và xác định thái độ văn hóa cần thiết trước hiện tượng phải thừa nhận là khá nhạy cảm này. Tôi chia sẻ với cái nhìn bao dung mà thực tế của người viết khi tác giả nhấn mạnh ở cuối bài báo rằng: “Tôi chỉ xin bạn đọc hiểu cho rằng, sự phạm lỗi trong nghề cầm bút cũng có khía cạnh thông thường như chuyện vi phạm luật giao thông vậy. Có lỗi thì phải bị bắt lỗi, phải bị phạt ở mức thích đáng, dù là ai. Nhưng chịu phạt rồi thì lại được sống và làm việc như thường”. Đặc biệt, tôi đánh giá cao tinh thần dân chủ thấm nhuần ở phương pháp đối thoại mà Lại Nguyên Ân sử dụng trong bái báo. Anh viết: “Hẳn có bạn nghe chuyện này nhưng vẫn chưa tin hẳn đâu. Thì hãy để các bạn ấy tự tìm cách thuyết phục chính mình!”. Chính bởi vậy, tôi xin được phép hầu chuyện cùng anh.

1. Thế nào là đạo văn?

Nhà phê bình Lại Nguyên Ân trong đọan mở đầu bài viết đã xác định: “Đạo văn” tức là ăn cắp văn, lấy toàn bộ hoặc từng phần tác phẩm của người khác, không chú dẫn xuất xứ, không đặt trong ngoặc kép, mặc nhiên coi đó là của mình”. Quan niệm như thế là đúng và đủ. Chỉ tiếc là khi vận dụng vào hai trường hợp nêu ra trong bài báo, anh lại không thật nhất quán, và vì thế mà thiếu thực tế và không mấy thuyết phục. Dường như anh hướng sự chú ý của mình vào những mục tiêu có phần hơi khác:“Bản quyền ý tưởng (nhận định) và cấu tạo câu văn trên đây là thuộc về ai? Lê Tràng Kiều hay Hoài Thanh?” Đã rõ là Lại Nguyên Ân đi tìm cơ sở đạo văn qua ý tưởng (= nhận định) và cấu tứ (= cấu tạo câu văn) – những cơ sở có liên quan nhưng không hòan tòan nhất quán với quan niệm về đạo văn được tác giả trình bầy một cách thấu đáo ở trên.

Về những điểm này, tôi nghĩ có hơi khác anh Lại Nguyên Ân. Học tập về ý tưởng trong khoa học xã hội – nhân văn, hay nói riêng là trong khoa văn học là chuyện không nên khuyến khích nhưng cũng không quá trầm trọng đến mức phải đưa lên bàn mổ xẻ như thế đâu. Chẳng hạn, Arixtốt nói đến sự thanh lọc hóa tâm hồn khi bàn về tác động của bi kịch. Nếu một ai đó viết rằng, sự thanh lọc tâm hồn là chức năng chung của văn chương, nghệ thuật, thì cũng không nên thổi phạt làm gì! Hoặc giả, một nhà thơ viết Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn, rồi sau đó một nhạc sỹ viết lời cho bài hát của mình Nghĩ về Bác lòng con trong sáng hơn thì cũng không nên bắt bẻ, tìm đến ngọn ngành, ai đạo văn của ai đây? Có thể nêu ra một loạt những dẫn dụ tương tự. Về cấu tạo câu văn cũng thế. Ngữ pháp tiếng Việt, như ngữ pháp của các thứ tiếng khác, nêu lên một hệ thống phương thức cấu trúc câu văn. Đó là tài sản chung của tòan dân. Sự gặp gỡ nhau trong nói năng, viết lách ở đây  là chuyện bình thường. Không nên và không thể vân vi so đo, xét nét.

Vậy là, theo tôi, nếu so sánh việc sử dụng ngôn ngữ với chuyện đi đường, thì rõ ràng rất cần phải có luật, nhưng luật đó không thể quá chi ly, quá cứng nhắc. Ví như, quy định xe và người phải lưu thông bên phải đường, tính từ tâm đường. Còn nếu quy định cụ thể là khi xe ôtô, xe đạp, và người đi bộ cùng lưu thông song song thì mỗi đối tượng đó phải cách tâm đường bao nhiêu mét, cách lề đường bao nhiêu mét, cách nhau bao nhiêu thì chỉ còn một cách là đừng có ai và phương tiện nào di chuyển trên đường nữa. Vì nếu đã di chuyển thì tất phải  phạm luật. Những quy định tương tự như vậy là không thực tế.

2. Trường hợp Hoài Thanh và Lê Tràng Kiều thì nên nhìn nhận ra sao?

Xin được lưu ý tới thời điểm các tác giả viết hai đoạn văn trên. Đoạn văn của Lê Tràng Kiều viết năm 1936, khi Thơ Mới vừa chính thức cất tiếng nói rộng rãi trên thi đàn. Đoạn văn của Hoài Thanh in lần đầu năm 1942, gần như là giai đoạn cuối của Thơ Mới, khi nó đã vượt qua thời mãn khai. Mục đích của hai tác giả, do vậy, có phần khác nhau. Từ đó, xin có ba điểm cần trao đổi với anh Lại Nguyên Ân.

Một là, tầm bao quát của nhận định. Hoài Thanh đặt Thơ Mới vào lịch sử văn chương dân tộc, xem nó như một thời đại mới mẻ, dồn dập những thành tựu với những tên tuổi khác biệt mà chói sáng. Trong khi Lê Tràng Kiều lại nhận xét Thơ Mới  qua một vài tên tuổi, trong thời đọan ngắn ngủi ban đầu, chừng ba năm, vì thế mà dè dặt hơn, giới hạn hơn, nên không thể bao quát, giá trị bằng.

Hai là, việc chọn lựa các nhà thơ. Hoài Thanh nhận định về thơ của Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp, Huy Cận, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên, Xuân Diệu. Còn Lê Tràng Kiều lại đưa ra nhận xét về Huy Thông, Thế Lữ, Thái Can, Đông Hồ, Leiba, Nguyễn Vĩ, Lưu Trọng Lư. Cho đến giờ, chúng ta có thể khẳng định cách chọn lựa của Hoài Thanh rõ ràng xác đáng hơn. Mỗi tên tuổi mà Hoài Thanh nêu ra đã trở thành những giá trị, gần như đã vượt qua được những thử thách khắc nghiệt của thời gian và công chúng.

Ba là, sắc thái trong đánh giá. Chỗ giống nhau tới từng chữ giữa Hoài Thanh và Lê Tràng Kiều là ở sự đánh giá thơ Huy Thông. Cả hai người đều dùng từ hùng tráng. Có thể đây là sự ngẫu hợp như thường thấy. Cũng có thể đây là chưyện học hỏi, ảnh hưởng lẫn nhau, không nên có cái nhìn quá khe khắt trong trường hợp cụ thể này. Như thời nay bàn về phong cách thơ Tố Hữu, nhiều người thường hay nhắc đến những nhận định quen thuộc như tiếng nói yêu thương, điệu hồn dân tộc. Nếu bắt lỗi thì xem ra có phần vô lối quá! Chỗ khác, dễ gây hiểu lầm là ở sắc thái nhận xét của Hoài Thanh và Lê Tràng Kiều trong đánh giá thơ Thế Lữ và thơ Lưu Trọng Lư. Lê Tràng Kiều viết: “Dồi dào như Thế Lữ … và một tâm hồn đầy âm nhạc, đầy mộng ảnh như Lưu Trọng Lư”. Trong khi Hoài Thanh viết: “một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư”. Thú thật tôi hoàn toàn có thể chia sẻ với những đánh giá của Hoài Thanh.

Tôi muốn nói, trong hoạt động ngôn từ, rất cần luật, nhưng luật ra sao và sự vận dụng luật như thế nào cho thực tế là một vấn đề cần tập trung suy nghĩ và giải quyết theo hướng vừa thấu đáo, vừa uyển chuyển. Cuối cùng, tôi nghĩ, cả anh Lại Nguyên Ân và tôi, tự trong sâu thẳm của lòng mình, đều rất kính trọng nhà phê bình Hoài Thanh và đều thật lòng nêu những dẫn chứng trên như là một giả định. Cứ bàn cho hết nhẽ đi. Rồi sự thật bao giờ cũng đứng ra bênh vực cho các thiên tài. Ấy là tôi nghĩ vậy. Chứ thực ra, một tài năng phê bình chói sáng như Hòai thanh thì không cần bất cứ ai đứng ra biện hộ cho ông cả.

Viết đến đoạn cuối của bài này, một đồng sự của tôi, thạc sỹ Phan Thế Hưng nghe biết và góp bàn thêm về cái chuyện đạo văn. Anh tâm sự, thầy giáo chúng ta cần luôn nhắc nhở sinh viên là khi sử dụng câu nói nào, của ai phải nêu rõ xuất xứ, và nếu viết, thì lưu ý đặt trong ngoặc kép. Chẳng hạn, câu nói quen thuộc từng vang lên trong bài hát vào mùa hè xanh của thanh niên, sinh viên: “Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta, mà phải hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay”. Nhiều người không biết đấy thôi, đây chính là câu nói nổi tiếng của Cố Tổng thống Mỹ J. Kenedy. Xin nhường sự bàn luận phải trái, đúng sai cho bạn đọc. Có điều, bài viết của anh Lại Nguyên Ân và bài trao đổi lại của tôi cũng chính là tiếng chuông gióng lên cùng nhiều tiếng chuông khác góp phần cảnh tỉnh chuyện đạo văn - một trong những điều đang gây nhức nhối trong lương tâm của nghề cầm bút chúng ta.

                                                                                                              Đà Lạt, 16/9/2004