Trao Đổi‎ > ‎

Cùng bàn về "Những câu hỏi lớn vẫn còn để ngỏ"

        Tuần báo Văn nghe số 51 năm 2001 có đăng bài “Lý luận văn học thế kỷ XX -những câu hỏi lớn vẫn còn để ngỏ” của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân, trong đó tác giả nghiêm túc gợi ra một số vấn đề trọng yếu trên phương diện lý luận hiện chưa được thống nhất, với mong muốn được trao đổi thêm với các đồng nghiệp nhằm “danh” dần có thể “chính”, góp phần  làm cho “ngôn thuận”. Tôi xin được tiếp lời cùng anh.

Có thể nhận ra hai vấn đề chính của bài viết như sau:

  1. Bản chất của phê bình văn học và vị thế của phương pháp luận nghiên cứu văn học trong khoa văn học.
  2. Lý luận văn học trong tương quan với mỹ học.

Về vấn đề đầu tiên, Nguyễn Văn Dân viết: “Hiện tại, phương pháp luận vẫn chưa trở thành bộ môn độc lập ”trong khoa văn học, nên rất khó trả lời xác đáng câu hỏi “phải nghiên cứu văn học như thế nào?” Tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả là hãy dành “ quyền độc lập” cần phải có cho bộ môn phương pháp luận nghiên cứu văn học, nhất là trong tinh thần đổi mới  tư duy, nhằm nâng cao hiệu quả trên thực tế  mọi hoạt động văn học như hiện nay. Ý tôi muốn nhấn mạnh tới việc quán triệt vai trò của phương pháp luận trong hành động cụ thể, không nên chỉ dừng ở lời nói chung chung như bấy lâu nay. Chẳng hạn, cần phải đưa vào chương trình, thành nội dung bắt buộc, ở ngành văn học của các trường sư phạm và đa ngành. Theo hướng đo, cần dần dần tiến tới xây dựng giáo trình riêng, tạo lập phương pháp dạy riêng cho bộ môn đặc thù này. Hơn thế, cũng nên mở rộng phạm vi, đi tới hình thành những chi ngành chuyên sâu như: phương pháp luận nghiên cứu  lịch sử văn học, phương pháp luận nghiên cứu lý luận văn học, phương pháp luận phê bình văn học…

        Riêng về phê bình văn học, tôi cũng đồng ý kiến với anh Nguyễn Văn Dân là không nên hiểu nó theo nghĩa quá rộng đến mức có thể thay thế cho cả ngành nghiên cứu văn học như quan niệm của một số nơi mà tiêu biểu là của hai vị giáo sư Hoa Kỳ R.Wellek và A. Warren. Thật ra, ở ta cũng có nhiều người chủ trương như thế. Cái lý của họ là ở sự thâm nhập, đan xen đến khó tách rời giữa lý luận, phê bình và lịch sử văn học. Tuy nhiên, ranh giới giữa chúng là có và cũng rất nên nhận ra để thêm cơ sở nâng cao chất lượng của từng bộ môn theo yêu cầu mang tính đặc thù vốn có của chúng. Nguyễn Văn Dân đã dừng lại bàn khá kỹ về đặc trưng của phê bình văn học trong sự phân biệt “ có ý nghĩa tương đối về mặt nguyên tắc”- như tác giả lưu ý- với lý luận và lịch sử văn học. Anh viết: “Nhìn chung trong nghiên cứu văn học, phê bình được coi là một khoa học đánh giá văn học”. Sau đó, anh  diễn giải rõ thêm: “Theo tôi, lý luận văn học trả lời câu hỏi “văn học là gì?”, lịch sử văn học trả lời câu hỏi “một giai đọan văn học diễn ra như thế nào?”, còn phê bình văn học trả lời câu hỏi “hiện tượng văn học cụ thể này có giá trị gì?”.

Tôi thấy tiêu chí phân biệt phê bình văn học với các bộ môn khác của khoa nghiên cứu văn học ở sự “đánh gía” là chưa thật thỏa đáng. Mọi bộ môn thuộc ngành nghiên cứu văn học đều không chỉ trình bày, mô tả, phân tích mà còn có thể và cần phải tỏ thái độ, nghĩa là đứng trên  một lập trường mỹ học nào đó để “đánh giá” các hiện tượng và hoạt động văn học vốn là đối tượng tìm hiểu của mình. Cố nhiên, mỗi bộ môn “đánh gía” vì những mục đích có phần khác nhau. Lý luận văn học “đánh giá” nhằm hình thành nên những nguyên lý khoa học chung; lịch sử văn học “đánh giá” để nhận biết những đặc trưng mang tính quy luật của mỗi giai đoạn, thời kỳ hay nền văn học cụ thể; còn phê bình văn học lại “đánh giá” với ý hướng xác lập giá trị của hiện tượng văn học ấy trong dòng chảy của đời sống văn học. Vậy nên, nếu tước bỏ quyền được “đánh giá” thì lý luận văn học sẽ không minh định nổi câu hỏi “văn học là gì?”, cũng như nhà lịch sử văn học sẽ không giảng giải được một cách thuyết phục câu hỏi “một giai đoạn văn học diễn ra như thế nào?”, nghĩa là không thể hoàn thành tốt chức năng của mình như theo ý của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn  Dân được.

Để biện giải thêm quan niệm của mình, anh Nguyễn Văn Dân tỏ ý không tán thành với “tiêu chí thời gian” mà nhiều người dựa vào để phân biệt phê bình  với nghiên cứu văn học. Anh viết rất có lý rằng: “Theo tôi, phê bình không nhất thiết phải bị bó buộc bởi thời gian, , bởi lẽ mỗi thời đại đều có quyền xét lại các hành vi  đánh giá trong quá khư, và bởi lẽ nếu ta đặt cái hành vi đánh giá của thời đại ta vào quá khứ thì hai hành vi đánh giá thuộc hai thời điểm khác nhau  đó sẽ hoàn toàn giống nhau về chức năng -

PQT nhấn mạnh. Thật vô lý khi hành vi đánh giá nhằm vào hiện tượng đương đại thì được gọi là phê bình, còn khi nó đánh giá hiện tượng quá khứ thì được gọi là nghiên cứu”. Theo chỗ tôi hiểu thì nhiều nhà lý luận văn học nói tới “tiêu chí thời gian” để phân tách một cách tương đối phê bình với nghiên cứu không ở “chức năng” mà ở “mục đích” của hành vi đánh giá. Nhiệm vụ chính của phê bình, theo tôi, là góp phần định hướng và thúc đẩy hoạt động sáng tác, cảm thụ văn chương đương đại  theo yêu cầu của thời đại, dưới ánh sáng của lý tưởng thẩm mỹ tiên tiến. Vậy là, do chức phận nghề nghiệp, nhà phê bình đặc biệt quan tâm tới các hiện tượng văn học mới xuất hiện. Nếu phê bình có chú ý tới một hiện tượng văn học nào trong quá khứ  thì đích chính không phải để nhận định lại các giá trị, các quy luật của diễn tiến văn học, mà nhằm góp phần tháo gỡ  một khâu mắc nào đó trong đời sống văn học đương đại, tạo điều kiện xuất hiện những tác phẩm, những tài năng mới như mong đợi. Do đó, theo ý tôi, “tiêu chí thời gian” vẫn cần được duy trì, để cùng với nhiều tiêu chí khác, phân tách phê bình ra khỏi các bộ môn khác của khoa nghiên cứu văn học.

Trong vấn đề thứ hai, tôi cũng tán thành  với nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân khi tác giả cho rằng, không ít người  lấy các lý thuyết mỹ học thay thế (ở những mức độ khác nhau) cho lý luận văn học, từ đó dẫn đến những hệ thống “lý luận thuần tuý” (“mà thực ra chỉ là nghiên cứu và phổ biến các lý thuyết mỹ học”). Nói như thế, không phải chúng ta đòi quyền tự trị hoàn toàn của lý luận văn học trong tương quan với mỹ học. Ai cũng biết, mỹ học, cả lý thuyết và lịch sử , là một ngành khoa học chung, mang sức bao quát lớn. Lý luận văn học cần dựa vào những nguyên lý chung của mỹ học để soi sáng những nguyên lý riêng của ngành mình. Không đoái hoài tới cái chung là tự mình giới hạn tầm nhìn của mình; mà không để ý tới cái riêng thì cũng dễ vu khoát, thiếu hiệu quả và hiệu lực. Nhưng, nói như anh Nguyễn Văn Dân, nên “coi việc nghiên cứu mỹ học chỉ là nhiệm vụ khởi động chứ không phải là toàn bộ nhiệm vụ của mình”.

Tuy nhiên, tôi quan niệm có hơi khác  Nguyễn Văn Dân về sắc thái mà anh gọi là “siêu khoa học”của lý luận. Lý luận văn học là hệ thống các khái niệm, phạm trù được trừu tượng hóa, khái quát hóa từ vô số những hiện tượng, những hoạt động văn chương xưa nay của dân tộc cũng như của nhân loại. Do vậy, nó bao giờ cũng mang tính “siêu khoa học”, không đứng trên các ngành khoa học khác nhưng bao giờ cũng có ý nghĩa chỉ đạo mọi hoạt động văn học. Nói khác đi, đó là những khái niệm, phạm trù văn học mang tính công cụ, nếu gắn bó và phản ánh  đúng đắn, đầy đủ thực tiễn văn chương, nghĩa là mang tính khoa học cao, thì chúng sẽ giúp ích rất nhiều cho các nhà phê bình và nghiên cứu văn học. Ýnghĩa tích cực, mang tính chỉ đạo của lý luận văn học là ở chỗ đó. Cái chính là cần đề phòng một thứ lý luận tư biện, xa rời thực tế văn chương muôn hình vạn trạng, hoặc là một thứ lý luận phản ánh thực tế văn chương một cách “nham nhở” thiếu “nghiêm chỉnh” (từ dùng của V.Lênin), không chính xác và không đầy đủ.

Cuối cùng, xin được nhấn mạnh là tôi cũng như anh Nguyễn Văn Dân đều cho rằng, những câu hỏi lớn vẫn còn để ngỏ nói trên tuyệt nhiên không phải là những vấn đề lý luận thuần tuý mà được rút ra từ thực tế văn học nước nhà, nếu không được khẩn trương giải quyết tốt sẽ cản trở không nhỏ tới thành quả của các hoạt động văn học trong tương lai. Rất mong được các bạn đồng nghiệp cùng bàn bạc, trao đổi.

 

   Đà lạt, 1/1/2001