Trao Đổi‎ > ‎

Còn không, cái "độ" cần phải có?

Cho tới giờ, tôi vẫn còn giữ ấn tượng có thể xem là sâu đậm khi đọc cuốn “Đổi mới phê bình văn học” (Nxb Khoa học Xã hội – Nxb Mũi Cà Mau, 1993) của Giáo sư Đỗ Đức Hiểu, cách đây năm năm. Nhiều điều còn khá mới mẻ ở ta được tác giả đặt ra một cách táo bạo, lại có chừng có mực nên dễ thuyết phục người đọc, ngay cả những người cố chấp nhất. Vậy mà, có lạ không, người viết đã bước qua cái tuổi “xưa nay hiếm” rồi đấy! Quả là một bài học thấm thía cho những ai muốn đi tìm sự trẻ trung, bất chấp thời gian và tuổi tác, của tư duy khoa học. Tôi đặc biệt ưa thích đoạn giáo sư phân tích sự khác biệt giữa Lanson và Phê bình Mới. Để chấn chỉnh lại khuynh hướng tìm hiểu, lý giải văn chương từ những nhân tố “ngoài văn bản” như thời đại và tiểu sử nhà văn, Lanson nêu phương châm: “Văn bản, văn bản và văn bản!” Mà đề cao văn bản là đề cao ngôn từ - điểm cốt lõi của Phê bình Mới. Có điều, giữa phương pháp luận Lanson và phương pháp luận Phê bình Mới vẫn khác nhau mà chủ yếu là quan niệm về ngôn từ. “Với Lanson và các nhà phê bình truyền thống – Giáo sư Đỗ Đức Hiểu viết – ngôn từ văn chương rõ ràng, minh bạch, ý nghĩa của văn bản biểu hiện ra đấy, có hiểu biết khoa học, có lương tri, thì hiểu được tác phẩm. Bố cục tác phẩm, phân bố nhân vật thật rõ ràng, hình tượng phù họp với lôgic... Các nhà phê bình truyền thống tin tuyệt đối vào sự trong sáng của ngôn ngữ, tinh theo một chiều của nó. Nói tóm tắt, trí tuệ, lôgic, khách quan, khoa học, kà cơ sở tư tưởng của phê bình trường phái Lanson. Ngược lại, Phê bình Mới coi “sự trong sáng Pháp” là một huyền thoại, trí tuệ và khoa học là không đủ, lương tri và lôgic là hạn chế, là những khả năng chỉ nhận thức được bề mặt của tác phẩm... Văn học không chỉ là ý thức, nó còn là tiềm thức và nhiều khi chủ yếu là tiềm thức, là giấc mơ” (Đổi mới phê bình văn học, trang 44). Từ đó, với lương tri và nhiệt huyết của một nhà khoa học, Giáo sư Đỗ Đức Hiểu nghĩ đến việc đọc văn chương và đào tạo người đọc văn chương ra sao cho phù hợp với xu hướng chung của thế giới trong thời hiện đại. Nhận định bao quát sau của giáo sư đáng để chúng ta suy ngẫm: “Việc đào tạo người đọc ở nhà trường của báo và sách văn học đã đạt những thành tựu to lớn – PQT lưu ý - ... Song, nhìn chung hình như những tiếng nói ấy đơn điệu, không phong phú nhiều giọng, không nhiều phong cách. Cho nên việc đào tạo nghèo nàn có thể bị đe dọa trở thành xơ cứng, máy móc” (Đổi mới phê bình văn học, trang 81).

Rõ ràng, khi tiếp cận với các trào lưu nghiên cứu, phê bình có phần đa tạp của phương Tây, do giữ được cái “độ” cần thiết, nên cuốn sách của Giáo sư Đỗ Đức Hiểu là một đóng góp đáng quý vào khoa nghiên cứu, phê bình văn chương ở thập niên cuối cùng của thế kỷ XX này.

Vì lẽ đó, tôi không thể không kinh ngạc, và thú thật có phần thất vọng nữa, khi thấy xuất hiện bài “Thế giới ngôn từ thơ Đặng Đình Lưu” của Giáo sư Đỗ Đưc Hiểu trên tạp chí Sông Hương số 117 (11/1998). Trong bài báo, giáo sư một mực đề cao tập thơ “Trăng đánh phấn lại” của Đặng Đình lưu và nói chung khuynh hướng mà giáo sư gọi là “thơ hiện đại” của Trần Dân, Đặng Đình Hưng, Lê Đạt... Giáo sư không tiếc lời ca ngợi các nhà thơ này, coi họ “như những tinh hoa vượt quá tầm nắm bắt của một số người đọc không tiếp xúc với thơ hiện đại trên thế giới, còn đắm chìm trong các công thức, trong các chuẩn mực” (tr. 67), khẳng định thơ họ góp phần vào “hiện đại hóa” thơ dân tộc, khiến thơ Việt Nam đi vào quỹ đạo của “mọi nền thơ thế giới, ở châu Âu cũng như ở Mỹ, Mỹ Latinh”, chấm dứt “nửa thế kỷ chậm chạp trôi qua” (tr. 68). Vậy thật hư ra sao?

Đoạn đầu và đoạn cuối bài báo giáo sư tập trung nêu ra và khái quát quan niệm về thơ và phê bình thơ ở “cuối thế kỷ XX” theo cái nhìn và sự tán đồng của riêng giáo sư. Tác giả không chút e ngại hạ bút viết: “Nó (“thơ ngày nay”) là ngôn từ, là những con chữ kết hợp với nhau theo những mô hình mới...” (tr. 67), “Từ đầu thế kỷ XX, cùng với F. deSaussure, Bakhitine, Jakobsơn, Valéry, Mallarmé... đã khẳng định tác phẩm văn học là văn bản ngôn từ. Ngôn từ là chất liệu, là linh hồn, là “tất cả thơ” – PQT nhấn mạnh, cũng như màu sắc, đường nét, ánh sáng là tất cả hội họa...” (tr. 68). Không lấy làm lạ khi giáo sư “sung sướng” tiếp nhận thơ Đặng Đình Lưu vì nhà thơ “ý thức” được rằng “thơ không truyền tải đạo lý, tình cảm, cảm xúc, nhạc, biểu tượng như thơ trước 1945, mà Thơ là chính nó – PQT lưu ý, là một kiểu liên kết các ký hiệu ngôn từ thơ, tạo thành những âm sắc mới, với biết bao ý nghĩa ngầm ẩn...” (tr. 68).

Chẳng cần biện giải gì dài dòng, ta cũng có thể thấy rõ thơ (văn chương nói chung) không thể là “chính nó” được, ngôn từ thơ (ngôn từ văn học nói chung) không thể là “tất cả” được. Đó là quan niệm phiến diện, nếu không muốn nói là cực đoan. Ngoài bản chất ngôn từ, thơ (và văn chương nói chung) còn có bản chất tư tưởng và bản chất thẩm mỹ. Quá chú trọng yếu tố nào đến mức đi đến xem thường hoặc bỏ qua yếu tố khác đều không biện chứng, và vì vậy, đều không phải là quan niệm của chúng ta. Đáng nói là một quan điểm như vậy thật khác xa với quan niệm của chính Giáo sư Đỗ Đức Hiểu trong “Đổi mới phê bình văn học”. Hãy đọc lại một vài đoạn giáo sư công bố cách đây chưa lâu. Về bch của văn chương, giáo sư viết: “Như vậy, thông qua ngôn từ văn chương, ngôn từ sống động, sinh sôi nảy nở, ngôn từ chứa đựng ký ức, gợi mở tương lai, ngôn từ vạn năng, bao gồm khả năng nhận thức, giáo dục, giải trí, và nhiều khả năng khác. Song bao giờ cũng phải thông qua cái đẹp của tình cảm chứa đựng trong ngôn từ văn chương hàm chứa nhiều ý nghĩa” (PQT nhấn mạnh – tr. 80). Còn vế chức năng của văn chương, giáo sư khẳng định: “Chức năng chủ yếu của văn học là làm đẹp trái tim, tâm hồn con người – PQT nhấn mạnh, làm mở rộng mãi mãi những tình cảm phong phú của con người, cởi mở hay tiềm ẩn” (tr. 79).

Từ quan niệm về bản chất của văn chương qua bản chất của thi ca như trên, trong bài báo mới đây, Giáo sư Đỗ Đức Hiểu yêu cầu phải thay đổi phương pháp luận nghiên cứu văn học đến tận gốc rễ. Giờ đây, theo giáo sư: “Nghiên cứu thơ phải là nghiên cứu ngôn từ thơ” – PQT lưu ý, vì “ngôn từ thơ là điểm hội tụ tất cả sáng tác thơ và phê bình thơ” (tr. 68). Giáo sư không ngần ngại kêu gọi: “Người đọc phải hiện đại hóa kiến thức, tình cảm, xúc cảm, tư duy của mình, phải vươn tất cả con người mình lên tầm cao nhân loại, tránh tự huyễn hoặc, tránh hoang tưởng. Người phê bình càng phải học tập, phải biến đổi con người, phải sáng tạo” (tr. 67).

Chẳng ai có ý phủ nhận vai trò của ngôn từ với tư cách là chất liệu của văn chương. Yêu cầu trau dồi ngôn từ, đổi mới thi pháp luôn được đặt ra với nhà văn. Và hiển nhiên, nhà phê bình nếu không muốn bị đào thải thì phải học hỏi không ngừng để đón nhận sự sáng tạo không ngừng của đời sống văn chương. Có điều dám chắc là ngôn từ không phải là cứu cánh của văn chương, do đó nghiên cứu ngôn từ không phải là đích đến của phê bình và nghiên cứu văn chương. Vậy đích đến của phê bình, nghiên cứu văn chương ở đâu? Đơn giản thôi, xin lại được dẫn ra những điều Giáo sư Đỗ Đức Hiểu cho công bố trong cuốn “Đổi mới phê bình văn học”. Giáo sư viết: “Phê bình là khai thác các phương thức nghệ thuật của văn bản ngôn từ, để hiểu cái chứa đựng trong văn bản – PQT lưu ý, “cái bên dưới văn bản” tức là những cảm xúc, tư duy được văn bản biểu đạt” (tr. 27). Xin nói thêm, trong cuốn sách trên, giáo sư không chỉ nêu phương châm đã trở thành “nguyên lý” ấy một lần. Ở trang 29, khi bàn về “Thi pháp và phong cách” – những cách thức tác giả “đổi mới” phê bình văn học, giáo sư cũng viết: “Thi pháp và phong cách đều bao gồm hình thức và nội dung, nói chính xác hơn cái biểu đạt và cái được biểu đạt, tức là, trong văn chương, các phương thức nghệ thuật và ý nghĩa – biểu đạt cái đẹp của con người, cuộc sống – cuộc sống xã hội và cuộc sống tâm linh”.

Đã quá rõ sự đúng mực trong những dòng này của giáo sư. Cũng rất đúng mực trong thái độ của giáo sự trước trào lưu Phê bình Mới ở phương Tây và trước các xu hướng phê bình truyền thống trong “Đổi mới phê bình văn học” – 1993. Giáo sư rất có lý khi đưa ra khái quát sau: “Nói chung, thi pháp hòa hợp những điểm mạnh của các phương pháp truyền thống với những nguyên tắc của phương pháp mới” (tr. 29). Đặc biệt, giáo sư khẳng định: “Phê bình Mới có nhiều tiếng nói. Một số nhà nghiên cứu Pháp lấy ngôn ngữ học làm cơ sở xây dựng lý thuyết phê bình, một số khác sáng tạo những nguyên lý phê bình trên phân tâm học. Một số người khác chủ trương phê bình lịch sử - xã hội. Cả ba khuynh hướng này đều chấp nhận tác phẩm văn học là văn bản ngôn từ và văn bản là tiếng nói bên trong, sâu thẳm, của nghệ sỹ, tiếng nói của ý thức, tiềm thức, vô thức, giấc mơ” (tr. 45).

Có thể thấy, cách đây năm năm, GS Đỗ Đức Hiểu còn chấp nhận cái hay (bên cạnh cái dở) của phương pháp phê bình truyền thống. Giáo sư tuyệt nhiên không thừa nhận “mọi ý kiến cực đoan, như phủ nhận tuyệt đối nghiên cứu, phê bình truyền thống” (Đổi mới phê bình văn học, tr. 75). Giáo sư coi “thi pháp chỉ là một trong nhiều phương pháp nghiên cứu, phê bình văn học. Mỗi nhà phê bình lựa chọn phương pháp tối ưu với “các tạng” của mình, không loại trừ các phương pháp “truyền thống” (hay “cổ điển”)”... (Đổi mới phê bình văn học, tr. 31). Như vậy, một tác phẩm văn chương lớn, nếu được nhìn nhận, khai thác từ nhiều góc độ sẽ có điều kiện phác lộ ra nhiều ý nghĩa phong phú. Đó có thể xem là cách tiếp cận đúng đắn và hiệu quả. Đáng tiếc là giờ đây, Giáo sư Đỗ Đức Hiểu từ cái nhìn “đa phương” đã trở về cái nhìn “đơn phương”, ít cởi mở, hợp lý và thật khó chấp nhận. Trong bài báo trên Sông Hương, giáo sư kết luận: “Tiếp cận thơ có phương pháp Lanson (khoa học – khách quan)... có phương pháp ấn tượng chủ nghĩa... (chủ quan – âm nhạc, biểu tượng), có phương pháp phân tâm học... (khai thác thế giới sâu thẳm là tiềm thức và vô thức)... “Phương pháp hình thức” ra đời cà phát triển trong thế kỷ XX, vừa khoa học (chủ yếu là khoa học thông tin) vừa gây ấn tượng mạnh mẽ, nó hiện đại, nó có cở sở ngôn từ văn chương, ngôn từ thơ, nó được khắp thế giới – PQT nhấn mạnh – thừa nhận, ngày càng đa dạng, phong phú (bao giờ cũng phải trừ một số nước)” (tr. 74). Có thể nhận thấy vai trò ưu việt, độc tôn của “phương pháp hình thức” trong quan niệm của người viết.

Đọc xong bài “Thế giới ngôn từ thơ Đặng Đình Lưu”, tôi cứ băn khoăn tự hỏi: Không rõ cả quan niệm văn chương lẫn phương pháp phê bình văn chương của Giáo sư Đỗ Đức Hiểu hiện giờ có còn giữ cái “độ” cần phải có như trước đây trong “Đổi mới phê bình văn học” nữa hay không? Nói khác đi: Liệu quan niệm của giáo sư có rơi vào cực đoan hay không? Gs Đỗ Đức Hiểu từng ca ngợi Bakhtine như là người đứng giữa những nhà “hệ tư tưởng luận trừu tượng” và những nhà “hình thức chủ nghĩa hẹp hòi” (Đổi mới phê bình văn học, tr. 66). Tôi không muốn tin là giáo sư đã thật sự xa rời nguyên tắc khi viết những dòng này cách đây không lâu.

                                                                                   Đà Lạt ngày 17/11/98