Trao Đổi‎ > ‎

Chớ nên xem thường người đọc

        Hiện giờ, để cạnh tranh sống còn, báo nào cũng đều thực thi đổi mới. Báo Văn nghệ cũng vậy! Mọi cố gắng là để chất lượng ngày một cao hơn. Mà nói đến chất lượng báo trước tiên là nói đến chất lượng bài vở đi liền với cái mới. Không thể cho một bài báo là hay khi cứ lặp đi lặp lại những điều cũ mèm của người khác hoặc của chính mình, nhất là của chính mình. Tôi xin được phân tích những bài viết của Cao Xuân Hạo trên tuần báo Văn nghệ trong khỏang gần hai năm trở lại đây, để minh chứng cho điều vừa nêu. Đó là các bài:

            Bài báo 1: Sơ hơn bão táp (Số 4, ngày 22/1/2001).

            Bài báo 2: Về tính hiếu học của người Việt xưa và nay (Số19, ngày 12/5/2001).

            Bài báo 3: Ngôn ngữ học với nghề văn (Số 27, ngày 7/7/2001).

            Bài báo 4: Phép màu của lãng quên (Số 39, ngày 29/9/2001).

            Trong bốn bài đó, từ nhiều góc độ khác nhau, tác giả tập trung vào tình trạng nói và viết sai tiếng việt một cách thê thảm, mà nguyên do chính là bởi sách giáo khoa và giáo trình Việt ngữ học ở phổ thông và đại học bao gồm những tri thức tuyệt đối sai lạc, không phù hợp với ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa của tiếng mẹ đẻ, do những người có thể có học hàm học vị nhưng thực chất là  (từ dùng của Cao Xuân Hạo) về ngôn ngữ học viết ra. Tôi xin không bàn về quan niệm của tác giả đúng hay sai, đúng sai đến mức nào. Tôi chỉ muốn đưa ra một loạt những cái gần nhau thậm chí y hệt nhau trong nhiều bài viết trên cùng một tờ báo vào  khoảng thời gian phải nói là không cách xa nhau mấy.

1. Thực tế sử dụng tiếng Việt khiến tác giả không yên lòng là ở đâu?

            Bài báo 1: “Cơ quan truyền thông” hàng ngày.

            Tác giả viết: “Tiếng Việt không đáng bị coi khinh như  các cơ quan truyền thông của ta vẫn coi khinh khi hàng tuần truyền bá một thứ tiếng Việt dịch từng chữ một từ tiếng Anh ra, bất chấp mọi quy tắc nói năng và viết lách của dân tộc”.  

            Bài báo 2: Vẫn “ cơ quan truyền thông” hàng ngày.

           Tác giả viết: “ Ta được nghe những lỗi tày trời về đủ các ngành văn hóa, những lỗi về cách dịch và cách phát âm về đủ các thứ ngoại ngữ trong đó có những lỗi mà chỉ cần chút ý thức học hỏi là có thể tránh được một cách dễ dàng…”

            Bài báo 4: Cũng vẫn “cơ quan truyền thông” hàng ngày.

              Tác giả viết: “Nhưng mấy năm gần  đây nghe đài phát thanh và xem ti vi, tôi lại thấy niềm an ủi do vị giáo sư ấy ban tặng bắt đầu lung lay…”

2. Nguyên do của thực trạng nói viết sai tiếng Việt từ đâu?

            Bài báo 1: Do sách viết về Việt ngữ học.

              Tác giả viết: “ Một ông bạn cũ lâu nay gặp lại…van xin tôi thiết tha: “ Anh chớ viết thêm cái gì mới nữa đấy! Chỉ thay đổi xoành xoạch như mấy năm nay giáo viên dạy trường tôi cũng đã đi “Biên Hòa” mất hai người rồi”.

            Bài báo 3: Vẫn do sách viết về Việt ngữ học.

             Tác giả viết: “ Tôi có hỏi thử vài chục người quen trong giới nghiên cứu văn học, thì được nghe họ trả lời là “Có đọc cũng không hiểu gì”. Những người có đọc báo và xem truyền hình thì nói thêm “Các anh viết và nói tiếng Việt dở quá, chúng tôi e rằng đọc và nghe các anh cũng chẳng có ích gì”.

            Bài báo 4:  Cũng vẫn do sách viết về Việt ngữ học.

              Tác giả viết: “Hình như có những cựu học sinh nay đã là cán bộ ưu tú của các đài phát thanh và truyền hình bắt đầu nhắc lại vài ba câu trong sách Ngữ pháp tiếng Việt đã học được trong quá khứ và như thế cũng đủ họ nói ra một thứ tiếng Việt mà người nghe, nếu thực sự biết tiếng Việt không thể nào không thấy rợn hết cả người lên”.

3. Tác hại trực tiếp của sách giáo khoa Việt ngữ học sai lầm đối với học sinh phổ thông ra sao?

            Bài báo 1: Quá giống bài báo 4.

              Tác giả viết: “Nhiều giáo sư văn học đã phải thốt lên: Mong sao sau mười hai năm học phổ thông con tôi vẫn còn nói và viết được tiếng Việt như trước khi đi học!”

            Bài báo 4: Quá giống bài báo1.

              Tác giả viết: “Thực ra, học cái thứ tiếng Việt trong sách giáo khoa 12 năm trời mà vẫn nói được tiếng Việt cũng là một thành tích lừng lẫy không kém gì việc chịu đựng hàng ngàn năm Bắc thuộc mà vẫn không bị đồng hóa như người Mãn Châu hay người Nội Mông”.

4. Cái sai chính trong các sách giáo khoa, giáo trình Việt ngữ học hiện nay là ở chỗ nào?

            Bài báo 1: Ở hệ thống tri thức hoàn toàn không thích hợp với tiếng Việt vì theo khuynh hướng “dĩ Âu vi trung”.

            Tác giả viết: “ Kết quả là sách ngữ pháp tiếng Việt hoàn toàn thoát ly tiếng Việt, và nếu bỏ các ví dụ bằng tiếng Việt đi thì ta sẽ có một chân dung tiêu biểu của một thứ ngôn ngữ  Ấn – Âu điển hình …”

            Bài báo 3: Vẫn là hệ thống tri thức hoàn toàn không thích hợp với tiếng Việt, theo khuynh hướng “dĩ Âu vi trung”.

             Tác giả viết: “Họ không còn nghiên cứu tiếng Việt nữa. Họ chỉ lo sao phỏng ngữ pháp tiếng Châu Âu. Thế là lòng tự ái dân tộc kia trở thành một trở ngại lớn cho việc học tiếng Việt, khiến cho việc này trở thành cực kỳ khó khăn”.

            Bài báo 4: Cũng vẫn là ở hệ thống tri thức hoàn toàn không thích hợp với tiếng Việt, theo khuynh hướng “dĩ Âu vi trung”.

             Tác giả viết: “Những người nào đã nghiên cứu kỹ sách giáo khoa và đối chiếu nội dung của nó với tiếng Việt đích thực, nghĩa là thứ tiếng Việt nói hàng ngày, đều thấy rõ nó chưa bao giờ viết lấy một câu phản ánh đúng thứ tiếng Việt này. Cái tiếng Việt của sách giáo khoa chính là tiếng Pháp, tiếng Âu - Âu nói chung, vốn là những thứ tiếng đối cực (antipode) với tiếng Việt như Nam cực với Bắc cực”.

5. Ví dụ điển hình của khuynh hướng “dĩ Âu vi trung” trong các sách giáo khoa, giáo trình hiện hành?

            Bài báo 3: Ở thì quá khứ, hiện tại, vị lai.

                Tác giả viết: “Nhưng một số người yêu tiếng mẹ đẻ quá tha thiết ra sức tìm cách chứng minh cho bằng được rằng tiếng Việt có “thì”,  và có đủ thứ “của quý” khác mà các thứ tiếng Châu Âu có”.

            Bài báo 4: Vẫn ở “thì” quá khứ, hiện tại, vị lai .

               Tác giả viết: “Chẳng hạn, ta thường thấy sách dạy ngoại ngữ dịch “ thì quá khứ” (past tense) bằng đã, thì hiện tại bằng đang. Ta thử so sánh mấy cách dịch sau vậy…”.

6. Cách thoát khỏi sai lầm trong hệ thống tri thức về Việt ngữ học hiện nay?

            Bài báo 1: Chỉ cần quan tâm tới tiếng nói hàng ngày của người Việt.

               Tác giả viết: “Lẽ ra một người làm ngôn ngữ học hay làm phiên dịch chuyên nghiệp phải luôn luôn nhớ  rõ hàng ngày mình và đồng bào mình nói năng như thế nào”.

            Bài báo 3: Vẫn chỉ cần quan tâm tới tiếng nói hàng ngày của người Việt .

                Tác giả viết: “ Chỉ cần quan tâm đến những lời ăn tiếng nói có thật mà hàng ngày ta vẫn nói và vẫn nghe, so sánh câu này với cậu kia trong từng cảnh huống, thử làm vài phép tính trừ và tính cộng đã học được ở trường tiểu học, là ta có thể đi đến những nhận định đúng và có ích cho mọi người”.

            Bài báo 4: Cũng vẫn chỉ cần quan tâm đến tiếng nói hàng ngày của người Việt .

              Tác giả viết: “Nhưng họ chưa bao giờ được học tiếng Việt, nếu quan niệm rằng học tiếng Việt tức là học sao cho biết thật rõ cách diễn đạt tất cả các ý nghĩa cần được diễn đạt bằng những phương tiện ngôn ngữ mà người Việt qua sử dụng khi muốn diễn đạt những ý nghĩa ấy” .

7. Có thể nghĩ gì về thực trạng tri thức Việt ngữ học ấy?

            Bài báo 1: “ Sợ hơn bão táp” – Tên của bài báo.

            Bài báo 3: Vẫn “sợ hơn bão táp”.

               Tác giả viết: “Nhắm mắt bưng tai trước thực tế tiếng mẹ đẻ để sao phỏng cho đúng ngữ pháp tiếng Tây thì sẽ không bao giờ chấm dứt được cái tình trạng đáng buồn đã được ghi tạc trong câu tục ngữ  “phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”.

            Bài báo 4: Cũng vẫn “Sợ hơn bão táp”.

                Tác giả viết: “Vậy thì tại sao tiếng mẹ đẻ lại không học được, mà phải quên hết những điều đã học thì mới dùng được ? Tại sao tình trạng “phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam” cho đến nay vẫn không ai chịu khắc phục?”.

Lời kết luận của người viết bài này:

               Cả 6 điểm lại là những điểm cốt lõi trong 4 bài trên cùng một tờ báo giống nhau đến lạ lùng. Xin tác gỉa Cao Xuân Hạo hãy tôn trọng người đọc. Chúng tôi không điếc đến mức không nghe ra tiếng nói của anh. Chúng tôi cũng không dốt đến mức không hiểu được anh đang nói gì? và vì đâu anh nói như vậy? Mong anh nếu có sử dụng “phép màu của lãng quên” tài tình đến đâu cũng dành một chút trí nhớ để biết bài báo bản thân mới viết ngày hôm qua mình đã viết gì và như thế nào? Nếu không, tôi, và có lẽ rất nhiều bạn đọc như tôi, sẽ phải tự nhiên thốt lên: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”

                                               Đà lạt, 4/10/2001