Trao Đổi‎ > ‎

Có thật vậy không?

Là một người dạy lí luận văn chương ở đại học và thỉnh thoảng có làm công việc gọi là phê bình văn chương, tôi không thể không quan tâm tới bài viết của giáo sư Phương Lựu trên báo Văn nghệ số 13 ra ngày 1-4-1995 nhan đề Về công tác lí luận phê bình. Giáo sư đi sâu tìm hiểu những nguyên do của hiện trạng lí  luận phê bình còn "yếu kém so với đòi hỏi của tình hình", nhằm đề xuất những giải pháp hữu hiệu góp phần thúc đẩy công tác lí luận phê bình đi về phía trước. Giáo sư đặc biệt lưu tâm tới "những nguyên nhân sâu xa từ trong truyến thống của nó". Ví như giáo sư viết: "Truyền thống khi nào cũng có hai mặt mạnh và yếu. Mà cái gì yếu đã có trong truyền thống, thì quá trình khắc phục phải rất dai dẳng và điều lí thú là, dù quan điểm xu hướng có đối nghịch nhau, cũng đều vướng phải truyền thống yếu kém ấy". Ta quen dùng khái niệm "truyền thống" để chỉ những gì tốt đẹp được kết tinh trong quá khứ. Tuy nhiên, dùng từ "truyền thống" để chỉ cả "hai mặt mạnh và yếu" như quan niệm của giáo sư cũng không sao. Riêng nhận định bao quát sau về di sản lí  luận phê bình  của cha ông đã khiến tôi thật sự băn khoăn: "Cả nền văn học trung đại nước ta, thành tựu thơ văn rạng rỡ là thế, nhưng về lí luận phê bình thì quả là ông cha ta không sành lắm - PQT nhấn mạnh. Thảng hoặc đó đây, cũng có bộc lộ những quan điểm văn học đáng quý, nhưng phần lớn - PQT lưu ý - đó cũng là những câu thơ, đoạn văn xen kẽ trong một sáng tác cụ thể...".

Nhớ lại, trong một thời gian dài trước đây, nỗi hoài nghi về sự hiện diện trên thực tế di sản lí luận văn chương cổ của dân tộc là thái độ khá phổ biến trong giới nghiên cứu ở nước ta. Mối hoài nghi đã bị đẩy lùi ít ra là vào năm 1981, khi Nhà xuất bản Tác phẩm mới cho in cuốn "Từ trong di sản..." tập hợp khá phong phú các ý kiến bàn về văn chương, chủ yếu của các bậc học rộng đỗ cao, từ thế kỉ thứ X đến đầu thế kỉ XX. Chính giáo sư Phương Lựu đã từng cảm kích viết: "Và riêng Nhà xuất bản Tác phẩm mới lại càng như mới thêm, vì đã dành được công đầu trong việc công bố một cách hệ thống những tài liệu cũ này"(1).

Đó là cơ sở tư liệu và tình cảm giúp giáo sư, sau đó bốn năm, viết "Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam". Cuốn sách đã thật sự góp phần đánh tan mối nghi ngờ có hay không có kho tàng lí luận trong quá khứ. Giáo sư đã cả quyết không chút do dự: "Có một hệ thống lí luận văn chương cổ Việt nam" (2). Dòng chữ này được in đậm trong chuyên luận. Thú thật, nhờ ảnh hưởng trực tiếp của hai cuốn sách vừa nói mà tôi đã dành nhiều thời gian và công sức để tìm hiểu di sản lí luận văn chương cổ nước nhà. Đến giờ, tôi vẫn tin vào điều tôi đã viết trong cuốn "Học giả với thi nhân" của mình rằng: "Theo lẽ thường, sáng tác ắt sẽ sinh ra quan niệm, dẫu là tập trung hay phân tán, trực tiếp hay gián tiếp, tự giác hay không tự giác"(3).

Vấn đề là hãy đi tìm. Không tìm sẽ không bao giờ thấy tựa như không đi sẽ không bao giờ đến cả. Hơn thế, ngoài giáo sư Phương Lựu ra, nhiều nhà khoa học có tín nhiệm trước tôi đã không ít lần khẳng định điều này. Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn từ lâu đã từng khuyến cáo "không thể không nói đến tính kế thừa" về lí luận văn chương. Giáo sư nhắc nhở các nhà lí luận: "Cần phải thấy Việt Nam ta vẫn có vốn phong phu - PQT nhấn mạnh, để ta xây dựng lí luận văn học cũng như các khoa học khác"(4).

Chỉ riêng hệ thống quan niệm văn chương của Lê Quý Đôn cũng đủ thuyết phục chúng ta. Giáo sư Vũ Khiêu cho rằng quan niệm mĩ học và văn học của học giả họ Lê "cực kỳ phong phú"(5). Thậm chí không ít quan niệm văn chương của Lê Quý Đôn còn "giữ nguyên giá trị thời sự" (giáo sư Lê Đình Kỵ), hoặc chí ít "chúng ta vẫn tôn trọng" (giáo sư Trương Chính).

Vậy mà giờ đây, giáo sư Phương Lựu khẳng định có chiều ngược lại với chính mình và với nhiều người khác rằng "ông cha ta không sành" lí luận văn chương cho lắm, rằng không phải không có"những quan điểm văn học đáng quý" nhưng chỉ "thảng hoặc đó đây" nghĩa là chả nhiều nhặn gì. Phải thừa nhận là nguồn tư liệu hiện tồn giữ để tìm hiểu quan niệm văn chương cổ không nhiều và không tập trung. Do thời gian, do binh lửa, do ý thức của chúng ta, và nhất là do chính sách đồng hóa của kẻ thù phương Bắc mà nguồn tư liệu ít ỏi hơn nhiều so với thực tế. Tuy nhiên, dựa vào những gì còn lại, chúng ta vẫn đủ chứng cớ để kết luận tổ tiên đã để lại một kho tàng lí luận quý báu cho con cháu. Có điều, phải có con mắt xanh mới mong nhận ra, phải có lòng ân  nghĩa sâu nặng mới mong khám phá. Đó là tiền đề của mọi tiền đề tạo ra mọi kết quả trong nghiên cứu.

Tôi cũng không thật tán thành với ý kiến của giáo sư cho rằng quan niệm văn chương thời trước "phần lớn" được bộc lộ gián tiếp ở những "câu thơ, đoạn văn xen kẽ trong một sáng tác cụ thể". Thực tế không hoàn toàn đúng như vậy. Đã đành trong lí luận cổ, phần "hàm ngôn" không ít, song phần "hiển ngôn" nhiền hơn hẳn. Chưa nói tới trước tác của nhà bác học Lê Quý Đôn và tập "Từ trong di sản...", riêng cuốn "Người xưa bàn về văn chương" (tập 1) của giáo sư Đỗ Văn Hỷ do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 1993 cũng đủ chứng tỏ sự phong phú của những lời bàn trực tiếp về văn chương của cha ông.

Đó là ý kiến của tôi về di sản lí luận. Trong bài báo của mình, giáo sư Phương Lựu bàn gộp cả lí luận với phê bình và cho rằng  không cứ lí luận, cả phê bình ông cha ta cũng "không sành lắm". Tôi nghĩ phần nhiều khác giáo sư. Người xưa bình văn, bình thơ thường ngắn gọn mà tinh tường, thấm thía lắm. Sành điệu trong phê bình văn chương đâu cứ phải nhiều lời. Đọc lời bình Truyện Kiều của Mộng Liên Đường Chủ  Nhân đủ rõ: "Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn đứt ruột... Tố Như Tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy...". Theo ý tôi, ít có lời nào của các nhà phê bình hiện đại lại hàm súc và xác đáng như vậy. Kinh nghiệm phê bình của cổ nhân cũng đáng để chúng ta ngày nay suy ngẫm và học tập. Chẳng hạn bài học sau của Ngô Thì Hoàng: "Đạo bàn luận nếu  quá buông tuồng thì hóa ra phóng túng, nếu quá câu nệ thì hóa ra gò gẫm. Ở trong khuôn khổ thỉnh thoảng cũng phải ra khỏi lối mòn"(6) Sao có thể bảo năng lực và ý thức thẩm định thơ văn của người xưa không cao cho được!

Cuối cùng tôi nghĩ rằng, nếu quả di sản lí luận và phê bình của ông cha ta có nghèo nàn và kém cỏi thật đi chăng nữa thì không vì thế mà nền lí luận phê bình của ta không cất cánh lên được trong một tương lai gần. "Cần thấy rõ chỗ yếu có gốc gác sâu xa này" (lời giáo sư Phương Lựu), nhưng chớ nên đổ tất cả lỗi lên đầu thế hệ đi trước. Sự thành đạt của một Đặng Thái Sơn đâu phải trên cây đàn dân tộc! Tôi tin vào nhiệt huyết và trí tuệ người Việt Nam trong thời mở cửa trên mọi lĩnh vực trong đó có lí luận phê bình văn chương.

Đấy là toàn bộ những lí do khiến tôi không khỏi băn khoăn khi đọc bài báo của giáo sư Phương Lựu - một người tôi đã và sẽ mang ơn rất nhiều trên con đường khoa học của mình.

                                                                                                                                Đà Lạt, 5-4-1995         

 


(1)  Phương Lựu, Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam, Nxb Giáo dục, H., 1985, tr.14.

(2)  Phương Lựu, Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam, Sđd, tr.15.

(3)  Phạm Quang Trung, Học giả với thi nhân, Nxb Văn hóa Thông tin, H., 1994, tr.7.

     (4) Tạp chí Văn học, số 6 - 1970.

     (5) Tạp chí Văn học, số 6 - 1984.

     (6) Từ trong di sản... Nxb Tác phẩm mới, H., 1980, tr.80.