Trao Đổi‎ > ‎

Đọc "Chế Lan Viên và Di cảo"

Từ khi nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành hải tập “Di cảo thơ Chế Lan Viên” vào năm 1992 và 1993 do nhà văn Vũ Thị Thường, người bạn đời của nhà thơ quá cố, góp nhặt và tuyển chọn đã có nhiều ý kiến khen chê khác nhau. Cũng là chuyện bình thường. Đáng bàn là khen chê ra sao? Bào Văn nghệ số chào mừng Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ V ra ngày 4 và 11 tháng 3 năm 1995 có đăng bài “Chế Lan Viên và Di cảo thơ” của Nguyễn Thái Sơn. Bên cạnh nhiều nhận xét tinh tế, bài báo còn lộ ra một số nhận định, theo tôi, cần được trao đổi thêm để có thể đánh giá đúng Di cảo thơ Chế Lan Viên hơn.

Về vai trò của thơ Chế Lan Viên, tác giả bài báo viết: “Khi Chế Lan Viên mất, cùng với sự đau xót tiếc thương, ta thầm nghĩ thầm mong sẽ có những tài năng thi ca khả dĩ thay thể được ông – PQT nhấn mạnh, vượt trội hơn ông. Năm năm đã qua đi, kể từ lúc Chế Lan Viên trút hơi thở cuối cùng, dấu hiệu – chỉ là dấu hiệu thôi – về một sự thay thế, đã không xảy ra. Chưa xảy ra”. Sự ra đi của Xuân Diệu và sau đó của Chế Lan Viên là nhiều tổn thất không gì bù đắp nổi đối với nền thi ca hiện đại Việt Nam. Nỗi chờ mong xuất hiện những tài năng thi ca mới có thể “vượt trội” họ là chính đáng và thiện chí. Song mới có 5 năm, nghĩa là một khoảnh khắc của lịch sử, đã mong xuất hiện (dầu chỉ là dấu hiệu) của một tài năng thi ca lớn như Chế Lan Viên, liệu có quá nóng ruột không? Để tạo nên tài năng cần phải có điều kiện, phải có thời gian. Không phải đếm bằng năm, mà phải hàng thập kỷ, có khi vài thế kỷ. Nhưng dẫu có xuất hiện một tài năng có tầm kích như hoặc vượt Chế Lan Viên thì họ cũng không thể “thay thế” ông được. Tôi nghĩ tài năng lớn, tài năng thực thụ như những ngôi sao sáng; mỗi ngôi sao lấp lánh một thứ ánh sáng riêng. Không thể nói đến sự “thay thế” ở đây. Có lẽ đó là sự khác biệt dễ thấy giữa sản phẩm nghệ thuật với sản phẩm vật chất và tinh thần khác. Xe đời mới có thể thay thế xe đời cũ. Hệ Computer mới có thể thay thế hệ Computer cũ. Song tài năng nghệ thuật thì không thể. Mỗi tài năng chiếm cứ một khoảng trời riêng. Nói thế, không phải không có thể đối chiếu tầm cao thấp của các bậc tài danh. Nhưng cũng không nên viết như tác giả bài báo: “Đỉnh cao thi ca của Chế Lan Viên được kết dính bởi những hòn đá tảng, là sáng tác cả về thơ lẫn văn xuôi – PQT nhấn mạnh – được in và xuất bản trong hơn một nửa thế kỷ”. Ai cũng biết, Chế Lan Viên không chỉ làm thơ mà còn viết văn xuôi trong đó có tiểu luận, phê bình văn chương. Những trang bình luận văn chương của Chế Lan Viên độc đáo, sắc sảo chứng tỏ nội lực văn hóa dồi dào và kinh nghiện nghệ thuật dày dặn của ông. Người ta có thể lấy những lời bàn luận về thơ để soi sáng thêm cho thơ và ngược lại. Tuy nhiên, “đỉnh cao thi ca” của Chế Lan Viên chỉ được kết dính bởi thơ của ông thôi. Tiểu luận, phê bình Chế Lan Viên có gắn bó, có hỗ trợ cho các thành tựu thi ca, nhưng đó là đóng góp của Chế Lan Viên – nhà lý luận, Chế Lan Viên – nhà phê bình, chứ không phải là đóng góp của Chế Lan Viên – nhà thơ.

Về số lượng Di cảo thơ, tác giả bài báo nhận xét: “Những gì ta biết ta đọc của ông mới chỉ là phần nhỏ - PQT nhấn mạnh – trong số thơ Chế Lan Viên đã viết”. Ý Nguyễn Thái Sơn muốn nói Di cảo thơ “đồ sộ” (chữ dùng của tác giả bài báo) hơn nhiều so với những gì Chế Lan Viên đã công bố. Có đúng vậy không? Trước khi qua đời, Chế Lan Viên đã in tất cả 10 tập thơ, mở đầu là “Điêu tàn” (1937), và sau cùng là “Ta gửi cho mình” (1986). Hơn nữa, hai tập Di cảo còn dành không ít trang để in nhiều bài thơ đã được công bố nhưng chưa đưa vào tập (ở tập I, số bài loại này chiếm 132 trên 231 trang, còn ở tập II ít hơn: 21 trang trên 242 trang). Khối lượng tác phẩm được in và xuất bản có thể xem là “đồ sộ”. Chả thế mà lúc sinh thời, sức bút của Chế Lan Viên đã từng là khao khát của không ít người cầm bút. Thế còn Di cảo? Ngoài “mấy trăm bài” (chính xác là 254 bài) được in trong hai tập “Di cảo thơ Chế Lan Viên”, theo tác giả bài báo “hiện vẫn còn năm, sáu trăm bài, bà Vũ Thị Thường đang tiếp tục chọn lựa, hệ thống lại để có thể in ít nhất là hai tập nữa, vào năm nay và năm sau”. Đến giờ tập III và tập IV Di cảo thơ chưa được ấn hành. Cứ cho là có tới năm, sáu trăm bài đi nữa thì cũng không thể tính đếm đơn thuần về số lượng theo kiểu cá đối bằng đầu được. Có bài dung lượng nhiều, có bài dung lượng ít. Đặc biệt số lượng bài ở dạng phác thảo chắc không nhỏ (ở tập I, số bài loại này là 48, còn ở tập II lên tới 137). Mà đã gọi là phác thảo thì chưa thể coi là đã định hình rõ rệt, thậm chí nếu nghiêm ngặt ra vẫn chưa thể coi là tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh theo đúng nghĩa của nó. Vậy nên tác giả bài báo mới viết; “Những bài thơ này (chỉ những bài trong hai tập Di cảo đã in) được viết trong các cuốn tập, trong sổ tay và cả những mảnh giấy rời khổ nhỏ. Ông viết vội đến mức có những chữ phải khó khăn lắm mới luận ra được”. “Viết vội” vì nhà thơ ghi nhanh lại những cãm nghĩ chớp nhoáng để sau này nếu có điều kiện sẽ trau chuốt lại, hoàn thiện thêm. Vì là những cảm nghĩ thoáng qua nên dễ sơ sài, lặp lại, thậm chí nông cạn và lệch lạc nữa. Việc công bố các sáng tác loại này quả không mấy đơn giản. Và do đó việc đánh giá chúng lại càng không đơn giản hơn.

Về chất lượng nghệ thuật của Di cào thơ Chế Lan Viên, Nguyễn Thái Sơn viết rất đúng rằng: “Có những tình cảm, những nỗi niềm, những giá trị nhân văn và nghệ thuật mà chỉ đến khi đọc thơ Di cảo của ông ta mới nhận ra”. Như phần đông các nhà văn nhà thơ khác, khi qua đời, Chế Lan Viên có những sáng tác chưa được công bố gọi là Di cảo. Chúng chưa được công bố chủ yếu bởi ba nguyên do sau:

1.      Người viết chưa có điều kiện hoàn thiện.

2.      Người viết còn do dự vì nghĩa khách quan của sáng tác.

3.      Người viết coi đó là những sáng tác cho riêng mình hoặc những người gần gũi mình.

Không lấy làm lạ nếu bộ phận di cảo được công bố sẽ giúp ta có dịp hiểu thêm những phương diện khác trong con người nhà thơ. Tuy nhận định quan trọng sau của tác giả bài báo thì nên xem xét lại: “So sánh những tác phẩm công bố sau khi Chế Lan Viên mất và những gì được in khi nhà thơ còn sống tôi chợt nhận ra: Diện mạo thơ, chân dung thơ Chế Lan Viên trước đây sắc sảo đến mấy, thần sắc đến mấy cũng chỉ mới ở trên một mặt phẳng – PQT nhấn mạnh – còn thơ chưa in và in sau khi nhà thơ từ trần đã tạo nên một diện mạo có chiều kích khác. Đó là phù diêu. Đó là tượng tròn. Đó là tượng dài – PQT lưu ý”. Nói thơ Chế Lan Viên trước đây chỉ là “mặt phẳng” nghĩa là đẽo gọt cho tròn trịa đi là không thỏa đáng. Viết những dòng trên có lẽ tác giả bài báo muốn nhắc đến bài “Trừ đi”. Không ai phủ nhận là thời ấy ta sống cho riêng ta không nhiều. Thơ cũng vậy, Chế Lan Viên cũng vậy.

Thơ chỉ sống một phần cho mình còn ba phần cho nhiệm vụ

Nghĩ mà thương

                                                          (Sử)

Cái chung có phần lấn át cái riêng. Nhà thơ chỉ “thương” mà không “trách”. Mọi người tự nguyện hiến dâng cho sự tồn vong của Tổ quốc này. Thơ cũng tự nguyện. Chế Lan Viên cũng tự nguyện. Ở đây không có sự đối lập giữa cái riêng và cái chung, giữa cá nhân và xã hội. Hơn thế, như những tài năng thi ca khác, con người công dân - Chế Lan Viên đi vào trong thơ đã thật sự tạo lập nên bản sắc cho riêng mình. Đó là tiếng thơ nghiêng về triết lý, sâu xa và đặc sắc. Thậm chí các nhà phê bình còn nói tới hẳn một dòng thơ riêng mang tên Chế Lan Viên lừng lững chảy trong nền thi ca hiện đại ở cuối thế kỷ XX này. Đó cũng là những bức “phù điêu” của một Chế Lan Viên – công dân như Lermôntôv ở Nga, Aragon ở Pháp, Nêruda ở Chilê và Tố Hữu ở Việt Nam. Sự hoài nghi bản sắc độc đáo của cảm hứng cộng đồng, cảm hứng xã hội trong thơ là thiếu cơ sở.

Tóm lại, theo tôi, không nên quá đề cao Di cảo thơ Chế Lan Viên tới mức đối lập Di cảo với những sáng tác trước đây của nhà thơ. Có một Chế Lan Viên khác mà không lạ hiện lên trong Di cảo. Song chủ yếu vẫn là một Chế Lan Viên quen thuộc mà ta đã bắt gặp trong suốt nửa thế kỷ qua.

                                                                                               Đà Lạt, ngày 3-4-1995