Trao Đổi‎ > ‎

Đọc bài "Nhân dân cần và đòi hỏi gì ở nghệ sỹ" (*)

Vấn đề mà bài báo đặt ra nếu được giải quyết tốt sẽ rất có ý nghĩa đối với công cuộc cải tạo và xây dựng đời sống văn hóa thẩm mĩ ở nước ta. Đúng như tác giả bài báo khẳng định: "Hiểu đúng và đòi trúng đối với người nghệ sĩ - một điều có ý tiên quyết đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nghệ thuật". Có điều phải "hiểu đúng" mới có điều kiện "đòi trúng". Thế mà đáng tiếc, theo tôi, bài báo tuy ngắn nhưng bộc lộ nhiều điều mơ hồ về mặt lí  luận cần được làm sáng tỏ góp phần định định hướng đúng hoạt động sáng tạo cũng như hoạt động cảm thụ nghệ thuật hiện nay.

Điều đáng bàn trước tiên là cách hiểu nội dung thuật ngữ mĩ học, vì đây là gốc của mọi vấn đề. Để làm rõ đặc thù của hoạt động nghệ thuật, tác giả tập trung phân biệt tư tưởng nghệ thuật với các dạng tư tưởng khác như tư tưởng chính trị, tư tưởng triết học, tư tưởng khoa học... Định nghĩa về khái niệm then chốt này được nêu ra không phải một lần: "Tư tưởng nghệ thuật phải là tình cảm - PQT nhấn mạnh -  được toát lên một cách khách quan, từ bản thân cái đẹp nghệ thuật có hình thức hoàn mĩ được xây dựng nên bởi tài năng nghệ thuật thực thụ". Rồi: "Tư tưởng nghệ thuật - tình cảm - PQT lưu ý - được tạo nên bởi cái đẹp". Và: "Cái then chốt của vấn đề này là ở chỗ người nghệ sĩ phải xây dựng nên những cái đẹp nghệ thuật có hình thức hoàn mĩ chứa đựng một dạng tư tưởng đặc thù - tình cảm - PQT nhấn mạnh". Nghĩ mãi tôi vẫn không sao hiểu được tại sao tư tưởng (trong trường hợp này là tư tưởng nghệ thuật) lại là tình cảm! Đành rằng trong đời sống, tư tưởng và tình cảm gắn bó với nhau, hơn thế đôi khi còn thâm nhập và chuyển hóa qua lại rất tinh tế. Nhưng dẫu sao, theo tôi, đây vẫn là hai khái niệm độc lập chỉ những thuộc tính tâm lí khác nhau. Có thể tác giả bài báo muốn nhấn mạnh đến đặc trưng tình cảm của nghệ thuật so với lĩnh vực khác của đời sống. Đúng là không đâu như trong địa hạt nghệ thuật, tư tưởng và tình cảm lại hòa quyện vào nhau và vai trò của tình cảm lại nổi trội đến thế. Điều đó lí giải sức cảm hóa mãnh liệt, "tác dụng to lớn, sâu rộng, bền bỉ" của nghệ thuật (Phạm Văn Đồng) đối với đời sống tinh thần của con người. Nhưng cho dù tình cảm có ý nghĩa đến mức nào thì tư tưởng nghệ thuật vẫn chỉ là một dạng tư tưởng, không thể lẫn lộn với tình cảm được.

Mơ hồ về khái niệm "tư tưởng nghệ thuật" cố nhiên tác giả bài báo không có điều kiện phân biệt rạch ròi và xác đáng tư tưởng nghệ thuật với dạng tư tưởng khác. "Nếu tư tưởng trong các dạng thức khác - tác giả viết - làm cho đầu óc của con người ta sáng ra phân biệt được đúng sai, phải trái... thì tư tưởng nghệ thuật - tình cảm được tạo nên bởi cái đẹp - làm cho người ta say mê và làm theo!". Một loạt câu hỏi được nảy sinh: Lẽ nào tư tưởng nghệ thuật lại không như các dạng tư tưởng khác có thể "làm cho đầu óc con người sáng ra", có thể giúp con người "phân biệt được đúng sai, phải trái"? Lẽ nào tư tưởng nghệ thuật chỉ làm cho công chúng "say mê" mà không thức tỉnh họ? Nếu chỉ có "say mê" thì làm sao tác phẩm nghệ thuật lại có thể thôi thúc con người hành động "làm theo"? Không ai có ý định đồng nhất tư tưởng nghệ thuật với các loại hình tư tưởng khác. Song đối lập chúng như tác giả bài báo đã làm cũng là thiếu biện chứng. Còn không hẳn phù hợp với bản chất của sáng tạo nghệ thuật nữa. Chẳng hạn, người ta thường bàn tới triết lí sống trong "Phaoxtơ" của Goethe, khuynh hướng trữ tình chính trị của thơ Tố Hữu, quy tắc luân lí trong các tác phẩm của Aitmatôv... Tư tưởng nghệ thuật bao giờ cũng gắn bó, cũng hòa quyện vào tư tưởng triết học, tư tưởng chính trị, tư tưởng đạo đức... trong các tác phẩm nghệ thuật. Chỉ khác ở dạng thức biểu hiện thôi. Như một nguyên tắc bất di bất dịch, tư tưởng nghệ thuật không thể và không được trình bày dưới dạng thuần lí một cách trừu tượng chung chung. Nó phải hòa nhập vào hình tượng nghệ thuật tới từng chi tiết tưởng như nhỏ nhặt và bâng quơ. Có thể phần nào cảm thông với nhận định sau của tác giả bài báo: "Nếu cần những tư tưởng được trình bày thật chính xác và sáng rõ, người ta lại càng không đến với các nghệ sĩ". Phần nào thông cảm bởi lẽ người nghệ sĩ thể hiện tư tưởng của mình thường kín đáo nghĩa là ít khi "sáng tỏ". Nhưng nếu nói chỉ các dạng tư tưởng khác mới được trình bày một cách "chính xác" thì lại cần xem xét thêm. Bất cứ hình thái tư tưởng nào muốn thuyết phục cảm hóa được người đời đều phải mang tính khoa học nghĩa là phải "chính xác". Không nên xem tư tưởng nghệ thuật là trường hợp ngoại lệ.

Việc đào sâu hố ngăn cách giữa tư tưởng nghệ thuật và các dạng tư tưởng khác đã không cho phép tác giả hiểu thật chính xác quy luật cảm thụ và sáng tạo nghệ thuật. Nếu câu mở đầu bài báo chưa làm người đọc nghi hoặc thì ngay sau câu đó người đọc đã có cơ sở để hoài nghi: "Chúng ta đến với Trần Văn Cẩn và Trà Giang...đâu phải để tìm kiếm các tư tưởng". Vậy, theo tác giả thì công chúng đến với nghệ thuật chỉ để cảm xúc thôi ư? Nếu vậy thì như cổ nhân đã nói đó chỉ là những người cảm thụ ở bậc "tiểu học", quá lắm ở bậc "trung học", chứ không sao ở bậc "thượng học" được. Vậy mà công chúng nghệ thuật lí tưởng chúng ta đang hướng tới khi nào cũng là bậc "thượng học"!

Hiểu chưa đúng quy luật cảm thụ nghệ thuật xuất phát từ việc tìm hiểu có phần sai lệch về quy luật sáng tạo nghệ thuật. Hãy nghe tác giả giải thích có thể nói là khá tùy tiện hoạt động sáng tạo của người nghệ sĩ: "Các nghệ sĩ nếu tự có những tư tưởng của mình thì tốt quá, quý quá. Còn không có thì vay mượn - PQT lưu ý. Lấy ở đâu chẳng được. Xưa nay bên cạnh những nghệ sĩ - nhà tư tưởng, thiếu gì những nghệ sĩ, kể cả cỡ lớn, vay mượn - PQT nhấn mạnh - các tư tưởng của người khác, song vẫn làm nên tác phẩm của mình". Xin tác giả nêu ra dù chỉ một dẫn dụ về nghệ sĩ "cỡ lớn" mà đi "vay mượn" tư tưởng của người khác? Đã là nghệ sĩ thực thụ bao giờ cũng có tư tưởng riêng; đã là tác phẩm nghệ thuật đích thực bao giờ cũng là một sáng tạo độc lập mang tư tưởng độc đáo. Người nghệ sĩ có thể học hỏi, tích lũy mọi thứ của đời và của người (trong đó có tư tưởng) nhưng là để sáng tạo. Khi sản phẩm tinh thần "độc nhất vô nhị" (xin dùng lại từ của tác giả) đã ra đời nhờ khả năng sáng tạo độc lập của người nghệ sĩ thì không thể dùng từ "vay mượn" để chỉ sản phẩm đó được. Lúc này mọi thứ đã được nhào nặn hóa thân vào trong hình tượng nghệ thuật. (Xin nói thêm, từ "vay mượn"  đầu có thể tạm chấp nhận vì nó đồng nghĩa với từ học tập, còn từ "vay mượn" sau, khi đã gắn với tác phẩm nghệ thuật lại của những nghệ sĩ cỡ lớn thì không thể chấp nhận được). Cũng có thể tác giả dùng từ "vay mượn" để chỉ những tư tưởng thuộc dạng thuần lí và khái quát như tác giả xác định là tư tưởng nhân đạo và tiến bộ. Nhưng lẽ nào những tư tưởng chung lớn lao này lại không có những biểu hiện cụ thể sinh động? Lẽ nào người nghệ sĩ chân chính lại không có tiếng nói riêng về những phạm trù tư tưởng chung ấy? Cho nên, theo tôi, đã là nghệ sĩ chân chính thì bao giờ cũng là nhà tư tưởng (tất nhiên là nhà tư tưởng trong nghệ thuật, trong thế giới hình tượng được sáng tạo bởi người nghệ sĩ đó). Không nên biện luận chung như thế này: " Nghệ sĩ hoàn toàn có thể  là bậc thầy hay học trò trong thế giới tư  tưởng nói chung, song chỉ được phép là bậc thầy trong tư tưởng thẩm mĩ".

Hiểu mơ hồ về quá trình sáng tạo nghệ thuật chân chính có lí do từ việc hiểu sai lệch bản chất của tài năng đích thực. Mặc dầu không trực tiếp nói ra song qua câu trích ý kiến của Goethe về "điều bí mật với số đông" của hình tượng nghệ thuật và nhất là lời bàn luận về việc xem thường và không coi  trọng đúng mức hình thức nghệ thuật, chúng ta có thể nhận thấy quan niệm về tài năng nghệ thuật của tác giả bài báo. Ở đây dường như tài năng nghệ thuật bị khuôn hẹp lại chỉ còn là khả năng sử dụng các phương tiện biểu hiện. Không ai có ý phủ nhận  năng lực này trong sáng tạo nghệ thuật. Song tài năng của người nghệ sĩ có lẽ trước hết và trên hết hàm chứa những khả năng gắn liền với tư  tưởng ở họ như: Giàu cảm xúc, tinh tế trong quan sát, trí tưởng tượng nhạy bén và phong phú...Người ta nói tới "tài" và "vốn" (trong đó có vốn tư tưởng) là để phân biệt  cho dễ chứ trong thực tiễn sáng tạo thì không thể có "tài cao" mà không "trường vốn".

Dễ thấy sự mơ hồ của tác giả bài báo trên những vấn đề có tính chất nguyên lí. Nếu không làm sáng tỏ sẽ không có lợi cho thực tế thưởng thức và sáng tạo nghệ thuật. Chẳng hạn, giữa lúc chúng ta đang chống lại bệnh nông cạn và bệnh hình thức thì quan niệm xem nhẹ việc trau dồi tư tưởng của người nghệ sĩ, ý định đề cao quá mức vai trò của hình thức nghệ thuật không gắn liền  với nội dung tư tưởng lại không có ảnh hưởng xấu hay sao!

----------------------------------------

(*) Nhân dân chủ nhật, số 7 (ngày 06 - 03 - 1989)