Trao Đổi‎ > ‎

Đã thật thấu lý thấu tình?

Nhà phê bình cùng với nhà văn đều chung một hội sáng tạo, nghĩa là cùng một kiếp chân trời lận đận. Chúng ta không thể sống thiếu nhau, và không có cớ gì để phải xa cách nhau. Vậy nên, tôi lấy làm lạ khi phải nghe những lời báng bổ giới phê bình của một vài nhà văn. Có nhà văn bảo: Bi kịch lớn nhất của độc giả bây giờ là vẫn tin các nhà phê bình (! ?). Một nhà văn khác lại nói: Các nhà phê bình thì trùm chăn ngủ gật, hễ thức dậy là nã đại bác vào nhà văn muốn khác đời, hoặc là nhất loạt bốc thơm, gây nhiễu trong thẩm định văn chương (! ?). Không rõ các nhà phê bình chúng tôi sẽ còn phải hứng chịu những lời lẽ cay độc nào nữa? Chưa hẳn đã có người tin họ. Mà biết đâu chính họ, lúc bình tâm nghĩ lại, cũng thấy có gì đó chưa phải, tình cũng thế mà lý cũng thế.

Tôi là một nhà phê bình. Rồi ai đó sẽ bảo: có tật giật mình. Xin được tỏ bày trước, chưa khi nào tôi hài lòng với giới của mình, lại càng không khi nào tôi hài lòng với chính mình. Càng viết càng thấy những trang văn để đời còn xa vời ở phía trước. Thật tình, có lúc cảm thấy chới với, chơi vơi. Lực thiếu. Thời giờ ít. Chỉ còn nhờ cậy vào cái tâm. Thế thái nhân tình lắm khi nhũng nhiễu. Sao tránh khỏi phút giây nao lòng. Rất cần bàn tay chìa ra, chân tình và thân thiết, từ phía đồng nghiệp. Phải nói là nhiều đấy, những lời cảm thông, chia sẻ. Quý lắm! Sức nâng đỡ lớn lắm! Song, những lời lẽ khó nghe trên, ít thôi, lại có sức dội quá mạnh. Từ trong dội ra. Cả lòng cả trí. Nghe quen rồi mà vẫn thấy choáng váng. Rất dễ nản.

Công việc sáng tạo, làm văn hay làm phê bình đều thế, thật cơ cực và cô độc. Riêng nghiệp phê bình còn thêm cái bạc bẽo. Dễ mua thù chuốc oán. Chê (tôi nói là chê phải), hẳn nhiên không ai thích. Khen (tôi nói là khen đúng), cũng vị tất đã được trọng. Đến yên lặng cũng không xong. Sao anh ta không nói nhỉ? Hay dụng ý ngầm bảo tác phẩm mình không đáng bàn, đáng nói? Vậy đích thị là hắn xem thường, rẻ rúng văn mình rồi! Nên, nếu thấy nhà phê bình nào đó, trong một lúc nào đó cảm thấy ngao ngán, buông xuôi hoặc lẩn tránh, tạt ngang thì cũng đừng quá nghiêm khắc với họ làm gì. Đấy là chưa nói lại nặng lời, to tiếng như đã từng xảy ra. Người cùng nghề còn thế, nói chi đến người ngoài.

Ấy là nói về tình. Cái lý ở đây cũng không thật ổn. Xem ra, người ta đòi hỏi giới phê bình nhiều hơn là quan tâm tới họ. Không, đây không phải là nhận xét của cá nhân tôi đâu mà là phán xét mới đây của ngài Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin. Riêng với Hội Nhà văn chúng ta thì sao? Về cơ bản cũng không khác là mấy! Quả thật, Hội đã làm được khá nhiều việc tỏ lòng ưu ái với lý luận, phê bình. Nào Hội nghị Tam Đảo 2003 ( Sau nửa thế kỷ mới có diễn đàn tương tự) và Hội nghị Đồ Sơn năm 2006, nào các cuộc giao ban của Ban chấp hành với Hội đồng Lý luận - Phê bình, nào các buổi tọa đàm, trao đổi về tác giả, tác phẩm có tiếng vang… Ban chấp hành còn ấp ủ nhiều dự định tốt đẹp khác nữa. Vậy mà vẫn cứ thấy ít, thấy thiếu. Thiếu thực chất. Đặc biệt là thiếu hiệu quả.

Tôi muốn nói thêm, phê bình không phải là công việc riêng của Hội đồng Lý luận - Phê bình. Đó là công việc chung của cả Hội, rộng ra là của cả xã hội. Mà trong lịch sử nước nhà thì chưa bao giờ lại lắm đổi thay như trong những năm tháng vừa qua. Mọi chuẩn mực, chừng như, bị soát xét lại, không trừ lãnh địa nào. Mọi giá trị, trong đó có giá trị văn chương, hình như, đều bị chao đảo hết cả. Thật giả, đúng sai, hay dở lắm khi nhập nhòe, rất khó phân định. Chưa khi nào cần phê bình văn chương như lúc này. Cũng chưa khi nào viết phê bình lại khó như lúc này. Không riêng gì ở ta đâu. Ở nước làng giềng vĩ đại, phê bình cũng rơi vào tình cảnh tương tự. Mấy kỳ Văn luận báo hồi đầu năm 2000 đã khuyến cáo về sự vắng mặt của phê bình, thậm chí, xa hơn nữa, đã tuyên cáo về sự cáo chung của phê bình trong thập niên cuối cùng của thế kỷ XX (Tạp chí Nghiên cứu Văn học -  04/2004, tr.65).

Trước mũi dùi mà một số nhà văn chủ động chĩa vào giới phê bình, có bạn thành thật khuyên tôi, nặng lòng mà làm gì, họ phán quyết phê bình trước hết là vì họ đấy. Họ mắc chứng bệnh mà các nhà phân tâm học hiện đại  gọi là ẩn ức ly thân, ở đây là ly thân với phê bình. Nói, nói nhiều, nói cho đã đời chỉ là cách để giải tỏa ẩn ức đấy thôi! Tôi thì không nghĩ vậy. Lại thấy nhói lên một mối e ngại khác: nghe mãi, biết đâu các nhà phê bình lại phản ứng bằng sự vô cảm, dửng dưng. Lợi thì chưa thấy, mà cái hại đã sờ sờ ở ngay trước mắt.

Tự nhiên tôi nhớ tới Thạch Lam. Giá trị văn ông thì hầu như ai cũng đã tỏ tường. Tôi muốn nói tới giá trị nóng hổi ở những lời bàn về phê bình của ông. Nhà văn rất đáng tôn kính này bảo: Phê bình cũng khó như sáng tác. Ông còn bảo: Nhà phê bình rất cần sự công bình và lòng cảm thông – những đức tính không nhiều người có. Giá nhà văn nào cũng nghĩ được như Thạch Lam nhỉ!

                                                                                                  ĐàLạt, đầu năm 2005