Văn chương và đời sống - Những bài học từ chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh

Đã tồn tại những cái bất biến trong dòng chảy liên tục, bất ngờ của đời sống văn chương. Một trong những cái bất biến ấy là nguyên lý về mối quan hệ căn cốt, máu thịt giữa văn chương với đời sống. Tuy nhiên, cần phải giải quyết bằng chính đặc trưng của văn chương. Để thiết thực, bài viết đi vào bài học từ những thành công của các nhà văn Mỹ Latinh qua chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. Bài học đầu tiên chính là quan niệm của các nhà văn này về cái gọi là hiện thực. Hiện thực cố nhiên có phần rõ ràng, sáng tỏ. Nhưng hiện thực còn có phần huyền ảo, linh diệu và nhiệm màu. Nên nhớ, trong quan niệm của các nhà văn Mỹ Latinh, “cái thực tại” luôn đi cùng và luôn gắn bó hài hòa với “cái kỳ diệu”. Đấy chính là lý do khiến học thuyết duy lý của Descartes dẫu rất quan trọng vẫn không hoàn toàn thích hợp, cũng có nghĩa là các nhà văn Mỹ Latinh yêu cầu phải nương tựa vào vai trò của trực giác, vô thức cá nhân và vô thức tập thể mà Bergson, Freud, và Jung từng đề cao. Bài học thấm thía sau cùng là các nhà văn châu Mỹ Latinh luôn có ý thức khám phá những vấn đề mà thực tại dân tộc đòi hỏi. Kết thúc bài báo là đề xuất về: đặc điểm của thực tại Việt Nam hiện nay với ba đặc điểm chính là: cực kỳ phức tạp; chuyển biến nhanh chóng; và là mẫu hình cho một loại chuyển đổi xã hội mà nhân loại chắc chắn đang và sẽ còn khao khát tìm hiểu.

                                                                                                             *

Cùng với mọi lĩnh vực khác của đời sống xã hội, văn chương - văn học nước ta chính thức bước vào công cuộc đổi mới ngày càng được triển khai một cách toàn diện, triệt để và hiệu quả đã gần một phần tư thế kỷ. Thời gian như vậy có thể xem là đủ nhằm đạt tới sự bình tâm, tĩnh trí để xem xét lại, xem xét thêm mọi chuyện, mọi điều cho thật thấu lý thấu tình. Hầu như bất cứ ai, dù ở khuynh hướng tư tưởng nào, nếu lương tri còn được thức tỉnh, cũng sẽ dễ đi tới nhất trí với nhau rằng, đã tồn tại những cái bất biến trong dòng chảy liên tục, bất ngờ của đời sống, trong đó có đời sống văn chương (1). Không thế, mọi chuyện sẽ tự rối tung lên, bất chấp mọi ý định chính đáng nhất cùng mọi ý nguyện tốt đẹp nhất của con người. Một trong những cái bất biến thuộc về nguyên lý đó liên quan tới lĩnh vực quan tâm của chúng ta nằm ngay trong mối quan hệ căn cốt, mối quan hệ máu thịt giữa văn chương, rộng ra là nghệ thuật, với đời sống của nhân dân và thời đại mình. Bởi một lẽ thật giản dị: con người và xã hội vốn sinh ra văn chương là để thỏa mãn nhu cầu tinh thần giàu có và cao đẹp vô hạn của chính mình, vậy nên, văn chương không thể, nếu như không muốn nói là không được phép, ngoảnh mặt lại với con người và xã hội (2). Vấn đề duy nhất đặt ra chỉ còn là: cần phải đáp ứng nhu cầu của đời sống bằng chính đặc trưng của văn chương Không thế, thì ngược lại, chính con người và xã hội sẽ ngoảnh mặt lại với văn chương, coi là thứ đồ giả, đồ thừa, không chỉ không cần thiết mà còn tốn tài hao lực, cản trở tới sự phát triển tự nhiên, sống động của đời sống.

Dẫu biết mọi sáng tạo văn chương đích thực bao giờ cũng chối từ những ngôn thuyết mang tính điều khiển. Nhưng chẳng lẽ lại không cần tới sự nhất trí căn bản nào về quan niệm, khuyến khích nhau tự nguyện cùng nhìn về một hướng, tạo nên sức mạnh thật sự cho mỗi người và cho cả đội ngũ? Nhà văn Anh đương đại J. Fors từng thổ lộ: “Tôi biết R. Barthes (Nhà lý luận danh tiếng người Pháp) và một số vị nữa cũng giống như một cầu thủ biết rõ khung thành vậy. Sự tồn tại của khung thành định hướng cho anh sút bóng về phía nào” (2). Cố nhiên, cái mà các nhà văn chân chính mọi thời mọi nước đòi hỏi phải là thứ lý thuyết phù hợp với văn chương đích thực và thấm nhuần tinh thần canh tân, đổi mới. Còn nhớ, khi hoàn thành tiểu thuyết Chốn xưa, Lý Nhuệ có đưa cho vợ cũng là một nhà văn đọc, và bà liền đặt ra liên tiếp những câu hỏi: “Đây có phải là tiểu thuyết xã hội không?” – Không phải – “Đây có phải một cuốn tiểu thuyết viết theo lối sử thi không?” – Không phải – “Trong tác phẩm có anh hùng không?” – Không có – “Có phải là tác phẩm viết theo lối hiện thực truyền thống không?” - Không phải. Như đã thấy, người chồng trả lời ngay, thẳng thắn và trung thực. Hỏi tới đây, bà vợ mới đủ niềm tin đi tới một nhận xét bao quát: “Vậy thì được, coi như đã thành công” (3). Câu chuyện gợi lên trong chúng ta nhiều suy ngẫm có thể khác nhau. Riêng tôi nghĩ, đây có lẽ là nguyên do chính yếu đưa chúng ta tới cuộc gặp gỡ quan trọng và đầy ý nghĩa này. Để thiết thực, nghĩa là tránh đại luận vu khoát vốn đã trở nên quá thừa thãi đến mức gần như vô bổ vô ích trên các diễn đàn chính thống và phi chính thống ở nước ta vào thời gian qua, tôi xin hướng tới chủ đề của cuộc hội thảo bằng những bài học rút ra từ thực tiễn sáng tạo thành công của các nhà văn Mỹ Latinh qua một trọng điểm từng cuốn hút biết bao nhà văn, nhà văn học không chỉ của Việt Nam là chủ nghĩa hiện thực huyền ảo.

Như nhiều người đã rõ, tên gọi của trào lưu văn chương này đã trở nên phổ biến và quen thuộc với những người trong và ngoài giới vào những năm 1970 – 1980, gắn liền với hàng loạt những tên tuổi sáng chói ở Mỹ Latinh như M. Asturias, L. Borges, A. Carpentier, J. Amado, J. Cortazar, C. Fuentes, J. Rulfo, V. Llosa, …,  nhất là G. Marquez. Thời ấy quả thật đã xuất hiện cái gọi là s “ồn ào” nổi lên chung quanh văn chương lục địa này, đặc biệt là văn xuôi hiện thực huyền ảo. Nó làm sống lại ý nghĩa của một từ bấy lâu tưởng thành mòn sáo – từ “hiện tượng”. Đúng là một hiện tượng thật sự! Vì sao vậy? Hiển nhiên có vai trò không thể xem nhẹ của cách mạng Cuba. G. Marquez, khi trả lời câu hỏi “Thật ra có sự ồn ào về các nhà văn Mỹ Latinh không?”, đã không ngần ngại nói: “Cái gọi là sự ồn ào về các nhà văn Mỹ Latinh trên thực tế là hệ quả lôgic của cách mạng Cuba”. Rồi nhà văn luận giải: “Khi nhận được những tin tức về cách mạng Cuba, những người Âu châu, nhất là người Pháp đã tự hỏi: Cuba ở đâu, và họ khám phá ra rằng có một phần của thế giới được gọi là Mỹ Latinh. Khi đó họ mới bắt đầu để ý đến nó, bắt đầu tìm hiểu nó, cố gắng hiểu nó”. Văn chương Mỹ Latinh, nhất là tiểu thuyết, với nhiều khả năng mới mẻ bắt đầu được chú ý và đánh giá cao. Marquez viết tiếp: “Và trong số những cái họ thấy ở Mỹ Latinh, có một nền văn học mà họ chưa biết. Thế là họ chấp nhận in ra những cuốn sách của chúng tôi, những cuốn sách đã nhiều lần được gửi tới các nhà xuất bản ở Pháp và ở Bắc Mỹ, nhưng bị cự tuyệt” (4, tr.350).

 Cũng không thể không kể tới nguyên do đến từ văn chương Tây Âu và Bắc Mỹ. Sau Đại chiến Thế giới II, vào những năm 1950, 1960, văn chương khu vực này đã thật sự rơi vào một cuộc khủng hoảng với quy mô chưa từng thấy. Rõ nhất là tiểu thuyết. Vấn đề thường được nêu ra trên các diễn đàn thời ấy là thể tài văn chương này còn sống hay đang chết? Ở đây cần lưu ý tới đánh giá khách quan của R. Alberes. Nhìn chung về văn chương Tây Âu, nhà nghiên cứu này cho rằng: “Sự sáng tác văn chương hầu như cũng bị sa lầy trong một tinh thần bạc nhược” (5, tr.613). Riêng về văn chương Pháp thì ông nhận xét: “Để cự tuyệt dứt khoát tiểu thuyết truyền thống, các nhà tiểu thuyết mới tránh cắt nghĩa cái thế giới mà họ miêu tả. Tiểu thuyết này đối với người đọc trở thành khó hiểu, khó lĩnh hội, trước mắt họ hiện ra không phải là cái thế giới nhân loại quen thuộc mà là một bản thể đã mất ý nghĩa. Tác phẩm biến thành một thực nghiệm khó chịu” (5, tr.615). Ở Bắc Mỹ, theo R. Alberes, văn chương cũng rơi vào tình cảnh tương tự. Thế rồi tiểu thuyết hiện đại Mỹ Latinh đột ngột xuất hiện và tạo ra những thành công vang dội, trong đó có sự phối hợp hài hòa giữa trí tưởng tượng và lý trí, phần nào lấy lại sức sống cho thể tài này, tạo thêm niềm tin cho các nền văn chương vốn từng sở hữu nhiều thành tựu trong quá khứ. Nhà văn Pêru M. Scotda có lý khi cho rằng: Tiểu thuyết Mỹ Latinh ngày nay đã bù đắp một chỗ thiếu mà châu Âu cảm thấy rất rõ, đó là cái huyền diệu. Bởi lẽ phương Tây ngày nay chỉ còn khả năng kể lại trong những trang sách cái cách mà họ tỉnh giấc và uống cà phê buổi sáng mà thôi!

Tuy nhiên, nguyên do chính yếu, như thường thấy, bao giờ cũng cần phải tìm ngay trong những phẩm chất nội tại của tiểu thuyết Mỹ Latinh. Và ở đây rất nhiều bài học bổ ích đối với chúng ta được phát lộ. Đầu tiên chính là quan niệm của các nhà văn này về cái gọi là hiện thực. Hiện thực cố nhiên có phần rõ ràng, sáng tỏ, dễ nhận thức bằng lý tính. Nhưng hiện thực còn có phần huyền ảo, linh diệu và nhiệm màu. Cái phần siêu hình, ẩn mật này đôi khi lại nằm ngay trong vẻ ngoài bình dị quen thuộc của đời sống. Vấn đề hoàn toàn tùy thuộc ở con mắt nhìn. Nhà văn R. David nói: “Khát vọng hiểu biết vĩnh cửu của nhân loại chính là sức mạnh dồn đuổi không cho phép chúng ta ngập ngừng dừng lại nơi ngưỡng cửa của vô minh” (Báo Văn nghệ số 46/1995). Một nhà phê bình ở ta thì rút ra kết luận như sau khi đọc tiểu thuyết Chốn xưa của Lý Nhuệ: “Con người dù phong phú đến đâu thì cũng không thể vượt ra ngoài cái nền rộng lớn của lịch sử; có một thứ phong phú cũng không kém con người nếu không muốn nói là phong phú hơn, đó là lịch sử - nhà văn Lý Nhuệ muốn nhắn nhủ vậy” (3). Nhà văn Argentina L. Borges có kể một câu chuyện mang ẩn ý triết học sâu xa mà thấm thía tên là Hai vị hoàng đế và hai mê cung lộ. Vị hoàng đế Babylone lệnh cho xây một mê cung lộ hết sức rối rắm và kỳ bí, đến mức những chàng trai cẩn thận nhất cũng không dám bước vào, và kẻ nào cả gan bước vào thì mất luôn trong đó. Một ngày nọ, vị hoàng đế Arập đến thăm kinh đô ấy. Để chế nhạo sự đần độn của khách, hoàng đế Babylone đã mời hoàng đế Arập vào thăm mê cung lộ của mình. Và vị này dò dẫm đi trong lẫn lộn, lang thang đi qua đi lại hoài cho tới tận xế chiều. Cuối cùng, ngài phải cầu nguyện thánh Allah mới tìm được cửa ra. Không hề ta thán lấy một lời, ngài nói với vị hoàng đế Babylone rằng, ở xứ sở Arập của mình có một mê cung lộ hấp dẫn hơn nhiều, và mong một ngày nào đó sẽ có dịp trưng ra cho hoàng đế Babylone xem. Ngay sau khi trở về, hoàng đế Arập liền triệu tập các tướng lĩnh trong triều và quyết định tấn công các tiểu vương quốc Babylone với nhiều thuận lợi, đến mức nhanh chóng hạ các thành trì, đánh tan đám quân quan, và bắt vị hoàng đế Babylone làm tù binh. Thế rồi, ngài trói tù binh trên lưng lạc đà đi vào hoang mạc. Họ đi mất ba ngày trời và vị hoàng đế Arập nói với hoàng đế Babylone – tù binh rằng: “Thưa vị hoàng đế của thời gian và vật chất, trí tuệ của thế kỷ! Ở Babylone, ngài muốn tôi phải bỏ mạng trong một mê cung lộ bằng đồng với rất nhiều cầu thang, cửa ra vào và tường thành. Và bây giờ đấng Quyền thế Vô biên đã có dịp may để kẻ tôi tớ này trình ngài mê cung lộ của tôi. Đó là nơi không có cầu thang để trèo, không có cửa ra vào để bước qua, chẳng có những hành lang dài để mà chạy, cũng chẳng có tường thành nào để cản ngài”. Thế rồi, ngài cởi trói cho tù binh của mình, bỏ lại hoang mạc, nơi chắc chắn ông ta không tránh khỏi chết đói và chết khát. Thông điệp mà văn hào L. Bosges muốn gửi gắm ở đây là: cuộc sống thực vốn kỳ ảo, khó tượng tượng hơn bất kỳ sản phẩm nhân tạo phức tạp nào do con người tạo ra.

Điều này có đáng tin hay không? Chắc chắn nó sẽ gợi lên nhiều hoài nghi đối với các  nhà văn quen nhìn đời bằng con mắt cũ. Ở đây liên quan tới một vấn đề cần xem là rất quan thiết của nhận thức: Có tồn tại lĩnh vực và thế lực ta quen gọi là siêu nhiên không? Không thể tồn tại lời giải chỉ một mực đáng tin cậy. Trong 25 vấn đề khoa học hiện còn gây tranh cãi thì có hai vấn đề thật nan giải này: Có thể chứng minh sự tồn tại của thần linh? và: Các hiện tượng siêu nhiên có tồn tại? (Báo Văn nghệ số 10/2004). Đi liền với điều đó là liệu khả năng nhận thức của con người có là vô hạn?  Theo ý kiến của một nhà khoa học ở ta thì: “Có lẽ thành tựu quan trọng nhất của khoa học thế kỷ XX là khám phá những giới hạn mang tính nguyên lý của nhận thức” (6). Xin nhớ tới Thuyết tương đối của Einstein mà hệ luận quan trọng nhất của nó là: không thể tồn tại chân lý tuyệt đối. Rồi Nguyên lý bất định Heisenberg. Nguyên lý này giúp ta tin rằng: chớ mong xác định chính xác hành trạng của tự nhiên. Rồi nữa, Định lý bất toàn Godel. Nó chứng minh hoàn toàn có cơ sở sự thật: không thể có lý thuyết cho mọi thứ, lý thuyết cuối cùng như một số nhà vật lý học đang tìm kiếm. Chưa hết, còn có thể kể tới Lý thuyết đa vũ trụ (không biết đâu là tận cùng của vũ trụ), Lý thuyết hỗn độn (có thể có kết quả không tất định ở một hệ thống tất định). Có thể chia sẻ với nhận định sau của R. March: “Vật lý hiện đại dạy chúng ta rằng, bất luận các lý thuyết của chúng ta khôn ngoan thế nào, các đo đạc cẩn thận ra sao, và bất luận máy tính của chúng ta mạnh mẽ đến thế nào, tương lai luôn không thể dự đoán được” Một nhà khoa học khác ở nước ta thể hiện sự tán đồng với lối nhìn trên qua bài viết nhan đề Bất khả (được hiểu là không biết cái không thể biết, chứ không phải là bất khả tri). Tác giả tập trung giới thiệu cuốn Bất khả – giới hạn của khoa học và khoa học của giới hạn của J. Barrow, giáo sư toán học và thiên văn học Đại học Sussex, London. Cũng có thể chia sẻ với nhận định sau của J. Barrow: “Cả nhà khoa học lẫn nhà triết học đều quan tâm đến khái niệm bất khả. Nhưng trong khi nhà khoa học có xu hướng chứng minh cái bất khả là khả thì nhà triết học lại lưu ý rằng nhiều cái ta tưởng là khả thực ra chỉ là bất khả”. Trong bài báo, tác giả còn nhắc đến hình tam giác và mô hình bậc thang mang tên nhà vật lý học, nhà toán học lỗi lạc R. Penrose để nhằm mô tả khái niệm bất khả như là sự bất lực của khoa học trong việc nhận thức cái toàn bộ. Rõ ràng, đúng như tác giả viết: “Nhận thức chỉ có thể tới chân lý cục bộ thay vì chân lý toàn phần, chân lý tuyệt đối” (7).

Điều cần nhấn mạnh là các nhà văn Mỹ Latinh không dừng lại ở quan niệm tự phát, riêng tây về khái niệm thực tại. Họ còn mang khát vọng thường trực nhằm khái quát thành một thứ luận thuyết, những mong sự sáng tạo của bản thân mình trở nên róng riết, triệt để hơn, rồi qua đó, dần dà biến thành nhận thức chung của các nhà văn cùng thế hệ ở khắp châu lục. Ở đây, không thể không nhắc tới công lao to lớn được nhiều người thừa nhận của nhà văn Cuba A. Carpentier. “Cái thực tại kỳ diệu Mỹ Latinh” là tên gọi của luận thuyết ấy được ông trình bầy mạch lạc trong Lời nói đầu của cuốn Vương quốc trần gian công bố năm 1949. Kết thúc tiểu luận danh tiếng này, A. Carpentier khẳng định: “Lịch sử Mỹ Latinh là một cuốn biên niên sử về cái thực tại kỳ diệu”. Vậy thế nào là “cái thực tại kỳ diệu Mỹ Latinh” trong quan niệm của ông? Giải thích về “cái thực tại kỳ diệu” nhiều người thường chỉ nghĩ tới “huyền thoại”, “truyền thuyết” được dùng trong tiểu thuyết. Như thế là đúng, nhưng chưa đủ. Nên xem “cái thực tại kỳ diệu” bao gồm “những cái mới lạ” sau: thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa bí hiểm (A. Carpentier gọi là tính chất “trinh nguyên” của thiên nhiên Mỹ Latinh); những thần thoại đang lưu truyền trong dân gian (như Macadan ở Haiti và Atuây ở Cuba); những câu chuyện huyền bí (tiên tri, ngoại cảm, giấc mơ...) do trình độ văn hóa thấp nên chưa lý giải được; sức mạnh phi thường của thiên nhiên... Rõ ràng, đấy là một quan niệm về thực tại uyển chuyển và khoáng đạt. Nó không chỉ bao gồm các hoạt động thực tiễn của con người (lao động, sinh hoạt và tranh đấu) mà còn gồm cả đời sống tâm linh, niềm tin tôn giáo, các huyền thoại và truyền thuyết... Marquez gọi đó là “tiền thực tại”, “vốn là siêu hình, nó không phục tùng những suy đoán tưởng tượng”, “là những điềm báo, về ngoại cảm, về rất nhiều niềm tin báo trước – dân chúng Mỹ Latinh khắc khoải sống trong những niềm tin ấy – bằng việc tự giải thích dưới góc độ mê tín đối với các vật thể, các sự vật và các sự kiện ...”. G. Marquez yêu cầu nhà văn cần có trách nhiệm trước “toàn bộ thực tại”, bởi “không có lý do gì để lảng tránh mặt thực tại này” (4, tr.330). Ví như tác phẩm Chuyện buồn không thể tin được của Êrênhđira ngây thơ và người bà bất lương của G. Marquez. Ta thấy có những hiện tượng thuộc đời sống tinh thần còn ở trình độ trực quan tiền lôgic của dân chúng. Như giấc mơ nhận thư của người bà bất lương (điềm báo của vụ hỏa hoạn); hay giấc mơ thấy con công trắng nằm trong chiếc võng (điềm báo cái chết của mụ); hoặc hiện tượng thay đổi màu sắc của chiếc cốc đựng nước lá do tay Uylit đụng phải, mẹ anh ta biết được anh đang tương tư; rồi chuyện thần giao cách cảm của Uylit và người yêu của chàng, nàng Êrênhđira...

Đấy là lý do khiến nhiều nhà văn ở châu lục này đã hầu như thống nhất cho rằng học thuyết duy lý của Descartes dẫu rất quan trọng vẫn không hoàn toàn thích hợp trong việc chiếm lĩnh thứ thực tại với quan niệm cởi mở như thế. A. Carpentier khi trả lời phóng viên tờ Cuba International đã dứt khoát khẳng định: “Tôi cho rằng phương pháp duy lý của Descartes là một trong những cách thực hiện tốt nhất, hay nhất của triết học và nó là một thành tựu hoàn toàn có giá trị. Nhưng lịch sử của châu Mỹ lại không thích hợp với triết học của Descartes, bởi trong lịch sử thuộc địa này luôn luôn xảy ra điều bất ngờ” (8, tr.140). Trong lần nói chuyện với các nhà nghiên cứu Mỹ Latinh của Liên Xô trước đây vào ngày 19/8/1979, G. Marquez cũng nhấn mạnh: “Chúng tôi lại được giáo dục theo Descartes và chúng tôi vào đời với sự giáo dục ấy, nhưng ở cuộc sống vùng chúng tôi, sự giáo dục ấy tỏ ra không đủ...” (4, tr.344). Chính G. Marquez đã giải thích: “Khi anh sử dụng những thước compa rộng rãi hơn để đo thực tại Mỹ Latinh, anh sẽ nhận ra rằng mình đã đạt tới những trình độ tuyệt đối huyền thoại”. Đây là cái mà ông gọi là “tiền thực tại”, và biện giải: “Nó vốn siêu hình, nó không phục tùng những suy đoán tưởng tượng vì nó tồn tại như là nguyên nhân của những sự chưa hoàn thiện, hay là giới hạn của những nghiên cứu khoa học” (4, tr.330). Nói như thế có nghĩa là các nhà văn Mỹ Latinh phải nương tựa vào vai trò của trực giác mà H. Bergson từng chú trọng, của vô thức cá nhân mà S. Freud từng phát hiện, và của vô thức tập thể mà K. Jung từng đề cao. Nhà nghiên cứu Đặng Thị Hạnh ở ta  từng thừa nhận: “Freud lởn vởn ở hậu cảnh của mọi tác phẩm lớn thế kỷ XX” – (Báo Văn nghệ số 17 - 18/2005).

Nên nhớ, trong quan niệm sâu xa và nhất quán của các nhà văn Mỹ Latinh, đây là “cái thực tại kỳ diệu”, nghĩa là “cái thực tại” luôn đi cùng và luôn gắn bó với “cái kỳ diệu”. Điều này tạo ra sự khác biệt với phương pháp huyền thoại hóa. Nhiều nhà văn Mỹ Latinh đã lên tiếng xác nhận điều này. A. Carpentier trong Thư ngỏ gởi Acnando Raynan ngày 13/4/1974 đã viết: “Tôi hoàn toàn không có khả năng bịa ra một câu chuyện. Tất cả những điều tôi viết là “sự dựng lại” những sự kiện từng xảy ra, từng được quan sát, được nhớ lại và tập hợp lại, sau đó biến thành một cơ thể hoàn chỉnh, một cơ thể sống... Vậy thì khi một sự kiện càng làm cho anh thấy khó tin bao nhiêu thì anh càng có thể tin rằng đó là sự thật chân xác nhất” (4). Việc xây dựng nhân vật quốc trưởng trong tiểu thuyết Sự tráo trở của phương pháp được ông xác nhận trong Lời nói đầu cho bản dịch tiếng Việt như sau: “Kể từ khi giành độc lập đến nay, các nước chúng tôi phải chịu đựng 222 chế độ độc tài, trong số đó, lớn có, bé có, lâu dài có, ngắn ngủi có, do 538 cuộc đảo chính quân sự dựng lên. Tỷ lệ % của nhân vật quốc trưởng như sau: Machađô (Cuba ): 40%; Blăngcô (Vênêduyêla): 10%; Cabrêra (Goatêmala): 10%; Điát (Mêhicô): 10%; Truhiđô (Đôminica): 20%; 10% còn lại cho Xiprianô Caxtrô” (9). Riêng G. Marquez, trước câu hỏi “Làm sao ông lại tưởng tượng ra sự việc quái đản ấy?” (Ý muốn nhắc tới việc tên độc tài trong Mùa thu của trưởng lão bị bệnh dái úng, về đêm cái bệnh này dịu đi. Vì trước khi đi ngủ, y cần làm cho căn bệnh thuyên giảm), ông đã trả lời dứt khoát: “Chúng được rút ra từ thực tiễn đời sống, anh bạn ạ! Cách lấy tài liệu của tôi là thế này: trong vòng mười năm nay tôi đọc tất cả những gì nói về các nhà độc tài. Sau đó tôi cố quên chúng đi để chắc tâm rằng tôi sẽ không sử dụng hết bất cứ một tài liệu nào trong sách của tôi” (4, tr.341). Ở đây rõ ràng không nhận thấy sự khác biệt về bản chất với sự điển hình hóa của chủ nghĩa hiện thực truyền thống. Một lần khác, ông cũng thừa nhận: “Tôi nghĩ rằng cái trí tưởng tượng khét tiếng ấy chẳng phải là cái gì khác cái khả năng đặc biệt (hay không đặc biệt) tu chỉnh lại thực tại một cách sáng tạo, song đó vẫn chính là thực tại” (8, tr.208). Không phải vô cớ mà khi nghiên cứu về chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, nhà nghiên cứu Xô Viết Khravchenkô trước đây đã nhận xét: “Sự thật đời sống cũng thường được thể hiện nổi bật trong các tác phẩm của các nhà văn các nước Mỹ Latinh, những người sử dụng các nguyên tắc và các hình thức nghệ thuât của cái gọi là chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong khi sáng tác”. Vì chủ nghĩa hiện thực là gì nếu không phải là ở sức mạnh to lớn của nó trong mối dây liên hệ chặt chẽ và thường xuyên với xã hội hiện đại. Chẳng hạn, khi kết thúc cuốn Trăm năm cô đơn, G. Marquez để cho ra đời một cậu Aurêlianô có cái đuôi lợn, và nhà văn đã viết: “Đó là người duy nhất trong một thế kỷ được thụ thai bằng tình yêu”.

Không ít người, rất có thể là vô tình, không tinh ý nhận ra ý định gắn “cái thực tại” với “cái kỳ diệu” trong sáng tạo các nhà văn Mỹ Latinh. Như một phóng viên của tờ Cuba International nhân A. Carpentier tròn 70 tuổi đã hỏi: “Nhưng nhìn chung, nhân vật tiểu thuyết của ông còn cách biệt với thực tế?”. Nhà văn buộc lòng phải giải thích: “Trong tiểu thuyết của tôi còn có những nhân vật xa rời thực tế vì tôi cho rằng cuộc sống con người không nhất thiết phải kết thúc trong cái đã giành được” (8, tr.138). Ngay s nhìn nhận của nhà thơ Haiti từng là Giám đốc Nhà xuất bản Văn học Cuba R. Despestre cũng chưa hẳn đã thật thuyết phục: “Thỉnh thoảng ông (tức A. Carpentier) viết những trang rất đặc sắc khi mô tả đời sống của nhân dân”, đồng thời hy vọng: “Tôi chắc rằng ông sẽ còn tiến bộ nữa và trong những năm tới, dưới ánh sáng của cách mạng, ông sẽ sáng tác những tác phẩm thực tế hơn là mơ mộng” (10). Điều này cũng không lấy làm khó hiểu. Vì chính các nhà văn Mỹ Latinh trên con đường tìm tòi một hướng đi đúng đắn, phù hợp với những khám phá nghệ thuật của bản thân đôi lúc cũng đã tỏ ra hoang mang, nghi ngờ. Có thể xem trường hợp G. Mazquez là một dẫn dụ điển hình. Trước Trăm năm cô đơn (1967), ông đã viết Lá rụng (1955), “đó là một con đường đúng, một cách sử lý hay” (4, tr.327) như sau này ông thừa nhận. Tuy nhiên, ở Colombia lúc ấy xuất hiện cái gọi là “sự tàn bạo” và “trong vòng 4 hay 5 năm ở đây xuất hiện hơn 50 cuốn tiểu thuyết, làm nên tự hào mà ngày nay gọi là tiểu thuyết tàn bạo Colombia” (4, tr.327). Trên thực tế, chúng chưa phải là tiểu thuyết mà đúng hơn là ký sự trực tiếp, rất hay nhưng ít có giá trị văn chương, tuy lại có thế mạnh của những tư liệu quý, giúp mọi người hiểu về thời kỳ tàn bạo ấy. “Lúc ấy tôi 22 hoặc 23 tuổi… - G. Marquez nhớ lại - Tôi tự nhủ: làm sao mình sẽ làm việc trong lĩnh vực huyền ảo này với một cách xử lý đề tài rất thơ, trong những hoàn cảnh mà chúng ta đang sống. Hình như đó là một sự lẩn tránh. Lúc này tôi nghĩ đó là một quyết định sai lầm…” (4, tr.327). Ông quyết định tiếp cận gần hơn với thực tại đương thời của Colombia, và tập trung viết Người đại tá chờ thư  và Giờ xấu theo khuynh hướng “tiểu thuyết về sự tàn bạo”. Và như vậy là cách viết phải hoàn toàn thay đổi, “bởi vì kỹ thuật và ngôn từ bao giờ cũng bị quy định bởi chủ đề cuốn sách… Từ đó mà có những cuốn sách có chung cách sử dụng ngôn từ. Lá rụng, Trăm năm cô đơn là một cách sử dụng ngôn từ. Ngài đại tá chờ thư, Giờ xấu là một cách sử dụng ngôn từ khác”. Cùng với năm tháng, về sau, ông đã có “sự trưởng thành về mặt chính trị hơn”, và G. Marquez đi tới một quyết định quan trọng rằng: “Cách sử lý đề tài một cách huyền ảo không phải là sự lảng tránh” thực tại (4, tr.329). Chỉ có điều, trong Lá rụng cách “xử lý văn học có tính chất huyền ảo, nhưng chưa chín lắm”. Và, ông đã bắt tay vào viết Trăm năm cô đơn, tác phẩm đem lại thành công rất đáng kinh ngạc. Rõ ràng, không phải ngay từ đầu chủ nghĩa hiện thực huyền ảo đã có những đặc trưng thẩm mỹ độc đáo, tiền đề của những thành công vang dội sau này, mà nó đã phải trải qua một quá trình thể nghiệm, tìm tòi dài lâu và khổ ải.

Bài học thấm thía sau cùng là các nhà văn châu Mỹ Latinh luôn có ý thức khám phá và sáng tạo những vấn đề mà thực tại dân tộc đòi hỏi. Đi khắp mọi nơi trên thế giới, học hỏi người ngoài có bài bản, đến ngọn nguồn, chân thành và nghiêm túc, với họ, dường như cũng chỉ nhằm hướng tới mục đích duy nhất trước sau như một đó mà thôi! Thiên Sơn, trong bài Ba thử thách lớn của loài người đầu thế kỷ XXI, đã nói tới thử thách đánh mất bản sắc dân tộc đi cùng với thử thách đánh mất tính người (Báo Văn nghệ số 1-2/2001). Tôi tán thành với sự báo động như vậy! Thật không giống với quan niệm của nhiều nhà văn khác, như Cao Hành Kiện. Nhà văn đoạt giải Nobel Văn chương này từng nói: “Tôi viết về thực tế cuộc sống giống như nó đang diễn ra không chỉ ở Trung Quốc mà còn ở nhiều nơi khác. Con người với những vấn đề tồn tại cơ bản của nó, bất kỳ ở đâu, là điều quan tâm chính của tôi. Điều này lớn hơn số phận của một quốc gia đất nước” (3). Với văn chương hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh thì hoàn toàn khác thế. Nhiều ý kiến thống nhất cho rằng, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo chính là sự phản ánh ý thức khẳng định bản sắc Mỹ Latinh bằng nghệ thuật khi văn chương ở lục địa này bước vào thời kỳ trưởng thành. G. Marquez từng tuyên bố: “Châu Mỹ không muốn và không phải là con tốt đen vô ích trong bàn cờ” (Diễn từ Nobel). V. Llosa thì đưa ra nhận định: “Nét căn bản và tiêu biểu nhất, cũng như sự đóng góp của văn xuôi Mỹ Latinh hiện đại, theo tôi, là ở chỗ nó đã và đang giúp cho người ta ý thức được cái gì là chất Mỹ Latinh” (8, tr.185).

Trên thực tế, nhiều nhà văn đã lao vào khám phá hiện thực, nhất là truyền thống văn hóa dân gian cổ xưa của châu lục mình. M. Asturias sinh ra ở Xiuđat (thủ đô Goatêmala), nước này vốn là trung tâm của truyền thống văn hóa Maya. Đây là đất nước có nền văn chương dân gian phong phú, độc đáo. Ông nhận bằng tiến sĩ luật về đề tài “Vấn đề xã hội của người Anh điêng”. Năm 1920, khi Cabrêra bị lật đổ, M. Asturias đi sâu vào hoạt động chính trị, thành lập Trường đại học nhân dân, cộng tác với tờ báo dân chủ Thời đại mới. Năm 1923, bọn thống trị khủng bố những người có tư tưởng tự do dân chủ, M. Asturias phải trốn sang Panama, London, Paris, bắt đầu chặng đời 10 năm sống lưu vong lần thứ nhất. Ông may mắn gặp một số thư tịch cổ và các thần thoại của người Maya. Sau đó, ông dành nhiều năm miệt mài nghiên cứu văn minh cổ đại châu Mỹ - cơ cở cho tập Những truyền thuyết của Goatêmala. Về sau, ông còn viết Những người Maix cho xuất bản vào năm 1949. Maix tiếng Tây Ban Nha nghĩa là Ngô – giải thích truyền thuyết sáng tạo con người trong trường ca cổ đại nổi tiếng Popol Vuh. A. Carpentier, trong khoảng thời gian 8 năm (1931 - 1939), từng sống ở Paris. Ông miệt mài nghiên cứu những thư tịch cổ của châu Mỹ. Đây là thời kỳ ông ấp ủ luận thuyết về “Cái thực tại kỳ diệu Mỹ Latinh”. Ông có viết một quyển sách về nghi lễ tôn giáo của người Mỹ Latinh in ở Mađrít và nhiều lần khẳng định: “Sự thật, châu Mỹ Latinh là một thế giới kỳ diệu và là một kho tài liệu còn mới nguyên đối với nhà tiểu thuyết nói riêng, và cho cả các nhà nghệ thuật nói chung... Dù sao đi nữa, Mỹ Latinh vẫn là chất liệu mới nguyên, một nguồn của cải giàu vô tận” (8, tr.143).  Còn G. Marquez thì luôn xác định: “Châu Mỹ Latinh từ lâu vẫn là ngọn nguồn của sự sáng tạo” (4, tr.351).  Và vì vậy, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo với những sắc thái đặc thù chỉ có thể nảy sinh ở đây. Đó là lý do khiến ông cho rằng: “Kiệt tác đầu tiên của văn chương kỳ diệu đó là tập nhật ký của Crixtôp Côlông”. Ông giải thích rõ hơn: “Việc thế giới Caribê thường hướng về huyễn tưởng đã được tăng cường là nhờ sự xuất hiện của những nô lệ Phi châu được đưa đến đây. Tưởng tượng không gì kiềm chế được của họ trộn với tưởng tượng của người Anh điêng đã sống ở đây trước cả Côlông, cũng như trộn với óc hoang tưởng của người Anđaluzia và niềm tin vào cái siêu nhiên của người Galixia (những địa phương của Tây Ban Nha)”. Rồi ông đi tới kết luận: “Từ tất cả những điều nói trên, không thể nào lại nảy sinh một thực tại nào khác hơn cái thực tại nơi chúng tôi đang sống, và từ thực tại này cũng không thể nảy sinh thứ văn chương – đương nhiên cả hội họa, âm nhạc nữa – nào khác hơn những cái mà chúng tôi đang có ở vùng Caribê” (4, tr.344 - 345). Vậy điều kiện lịch sử - xã hội đó có những nét riêng nào? Ở đây luôn cùng tồn tại nhiều kiểu xã hội và cùng chung sống nhiều chủng tộc với những trình độ nhận thức rất khác nhau: văn minh và dã man; cao cả và thấp hèn; bi và hài; dân chủ và chuyên chế; độc lập và phụ thuộc…

Từ đó, để thiết thực, cần đi thống nhất về một vấn đề then chốt và cơ bản là: đặc điểm của thực tại dân tộc hiện nay mà văn chương, nghệ thuật ta cần hướng tới tìm tòi, khám phá và sáng tạo là gì? Tôi nhớ tới ý kiến của Giáo sư M. Virasono - Giám đốc Trung tâm Vật lý Quốc tế ICTP, tại Hội nghị khoa học Thế giới năm 1999. Trước chừng 1.800 cử tọa mà hầu hết là những nhà trí thức lớn ở khắp năm châu, ông đã khẳng định: “Những bộ não của chúng ta được kết hợp lại nhằm xây dựng những mô hình trong đó đưa ra các giả thiết của tính hệ thống và cũng nhằm nhận ra những lệ biệt – Xin được nhấn mạnh - PQT” (Báo Văn nghệ số 44/1999). Thực tại ấy của đất nước hiện nổi lên ba đặc điểm chính sau:

- Nó cực kỳ phức tạp, trong đó có sự xung đột và sự giao thoa của những xu hướng rất khác nhau, kể cả đối lập nhau. Sự ưu việt và ưu thắng của từng xu hướng không dễ khẳng định và không dễ nhận ra. Nhất là dưới cái nhìn giản đơn, một chiều. Vậy nên, luôn rất cần sự tỉnh táo và một khoảng cách thời gian nhất định để xem xét.

- Nó chuyển biến rất nhanh, nên thường ẩn chứa rất nhiều đường đột, bất ngờ. Đã có và sẽ còn có những cái, những điều mới lạ chưa từng xuất hiện bao giờ. Mọi kinh nghiệm xem ra ngày càng ít hữu hiệu, rất dễ trói buộc tư duy. Tinh thần cởi mở, dân chủ do vậy cần luôn được đề cao, nếu không muốn ngăn cản những bước tiến tự nhiên của đời sống và lịch sử.

- Nó là mẫu hình cho một loại chuyển đổi xã hội mà nhân loại hôm nay và mai sau luôn mong muốn nhận thức. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, chậm tiến, trải qua hai cuộc chiến tranh gian khổ, ác liệt và dài lâu vào bậc nhất trong lịch sử, lại từng phải chịu đựng lối quản lý quan liêu, bao cấp triệt để, nặng nề, làm thế nào mà dân tộc Việt Nam có thể vươn tới trở thành một nước phát triển lại bằng những bước đi nhanh chóng mà chắc chắn?

           

……………………………………………………………………………………………........................................................................................

 

                                                                                                TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

 

  1. Nhà nghiên cứu Trung Quốc Vương Đào Thắng khi bàn về Biện chứng văn xuôi, đã xác định rất đúng rằng: “Trong giới lý luận luôn tồn tại mâu thuẫn giữa “tự do” với “hạn chế”, hơn nữa “thế” của hai vế này lại như nước với lửa, khó tan vào nhau… Kết quả là phái đầu tản mạn, sáo rỗng, không có cái lõi, thiếu cái thần; phái thứ hai thì đẩy văn xuối tới chỗ bế tắc… Tóm gọn lại như sau, văn xuôi không chỉ có “trạng thái tĩnh”, cũng không chỉ có “trạng thái động”, mà là thể thống nhất biện      chứng của cả hai” – (Báo Văn nghệ số 38/2005).
  2. Nhà văn Anh đương đại là J. Fors từng quả quyết: “Tôi cho rằng thế kỷ XXI lại càng cần đến chủ nghĩa hiện thực mà không phải là những thứ kỳ quái, hoang tưởng      huyễn hoặc” (Báo Văn nghệ số 47/ 1997).  Còn GS Trương Chí Trung Đại học Sư phạm Bắc Kinh thì nhận xét: “Nếu nói tan dã chỉ là hệ thống lý luận thông dụng từ những năm 50-60 của thế kỷ trước… Còn đối với một số mệnh đề cơ bản như “Tính tương quan giữa đời sống xã hội và văn học”… thì cho đến nay vẫn tiếp tục được sử dụng” (Báo Văn nghệ số 23/2005).
  3. Vương Trí Nhàn - Đề tài lịch sử cảm hứng sáng tạo, Báo Văn nghệ số 16/2007.
  4. Nhiều tác giả - Số phận của tiểu thuyết, Nxb. Tác phẩm mới, H., 1983.
  5. Alberes  R. – Cuộc phiêu lưu tư tưởng văn học châu Âu thế kỷ 20, Kim Văn, Sài Gòn, 1971.
  6. Đỗ Kiên Cường - Giới hạn của nhận thức, Báo Văn nghệ số Tết Quý Mùi.
  7.  Phạm Việt Hưng - Báo Văn nghệ số 15/2003. Nhà lý luận Pháp gốc Bungari Tz. Todorov cũng từng nói: “Chúng ta chẳng bao giờ tìm thấy được chân lý cuối cùng. Nói cách khác, chân lý là chân trời mà chúng ta đang tiến tới, chứ không phải điểm cuối của một con đường  (Tạp chí Văn học Nước ngoài – 3/2007).
  8. Nhiều tác giả - Nhà văn bàn về nghề văn, Hội VHNT Quảng Nam – Đà Nẵng, 1983.
  9. A. Carpentier - Sự tráo trở của phương pháp, Nxb Văn học, H., 2004.
  10. Despestre  R. – Văn học châu Mỹ Latinh, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 9 & 10 (1961).