Thuyết hậu thuộc địa ở Việt Nam

 Thuyết hậu thuộc địa (postcolonialism) hiện còn khá xa lạ với giới văn chương - văn học Việt Nam. Trong khi theo nhiều nhà nghiên cứu thì khuynh hướng này ra đời ít nhất là từ đầu những năm 1990. Ngay việc dùng thuật ngữ nào để dịch khái niệm ra tiếng Việt cũng còn chưa hoàn toàn thống nhất. Theo Lê Thị Vân Anh thì: “Từ colonial trong tiếng Anh có hai cách dịch là thuộc địa hoặc thực dân. Tương tự, thuật ngữ postcolonialism có thể hiểu là chủ nghĩa hậu thuộc địa hoặc chủ nghĩa hậu thực dân”. Tác giả đồng thời đưa ra sự giải thích của mình: “Nếu dịch là chủ nghĩa hậu thuộc địa, sẽ nhấn mạnh hơn đến những di sản còn lại, những ám ảnh thuộc địa, cái tồn tại trong bối cảnh văn hóa cựu thuộc địa. Còn dịch là chủ nghĩa hậu thực dân sẽ nhấn mạnh đến nguyên nhân, nguồn gốc, tác nhân xâm nhập tạo nên bối cảnh văn hóa đó”. Cuối cùng người viết quyết định chọn cách dịch chủ nghĩa hậu thuộc địa, vì cho đây “là cách dịch được dùng phổ biến hơn trong các bài viết giới thiệu về lý thuyết này” (1). Xem ra Nguyễn Hưng Quốc cũng hiểu như vậy khi bàn về tính lai ghép trong văn chương: “Từ thế kỷ 18, từ lai ghép nổi lên như một thuật ngữ trong các lý thuyết về chủng tộc; sau, nó lắng xuống hầu như cùng lúc với sự thoái trào của chủ nghĩa thực dân; nhưng gần đây… không phải chỉ ‘trở lại’, nó còn trở lại một cách huy hoàng, với tư cách một trong những ý niệm trung tâm của nhiều trường phái và nhiều ngành học khác nhau, từ chủ nghĩa hậu thực dân/thuộc địa - PQT lưu ý - đến chủ nghĩa hậu hiện đại…” (2). Nhưng tình hình không chỉ có vậy. Sự  phức tạp còn nằm ngay ở ngọn nguồn. Chính tiến sỹ Nguyễn Hưng Quốc còn cho biết: “Tính chất thiếu thống nhất ấy thể hiện ngay trong cách viết: một số người đề nghị dùng gạch nối ngăn giữa tiền tố ‘hậu’ và từ ‘thực dân’ (post-colonialism) như một dấu mốc thời gian nhấn mạnh vào quá trình giải thực ở các quốc gia cựu thuộc địa; một số khác - hiện nay đang là số đông - chủ trương viết liền, không có gạch nối (postcolonialism) để nhấn mạnh vào những hậu quả kéo dài đến tận ngày nay của chủ nghĩa thực dân” (3). Mỗi cách gọi và cách dịch đi liền với một quan niệm, hơn thế, một thái độ. Trong bài viết này, tôi xin phép được dùng thuật ngữ thuyết hậu thuộc địa (postcolonialism) để chỉ một khuynh hướng lý luận mới trong văn hóa - văn học mang tầm quốc.

Tên gọi ít nhiều liên quan đến cách hiểu, nhưng hiển nhiên vẫn chưa nói được toàn bộ sự phức tạp của đối tượng cũng như lý thuyết nghiên cứu đối tượng. Ví như: công trình lý luận quen thuộc được phổ biến khá rộng rãi ở trong nước là tập sách Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX của giáo sư Phương Lựu (4). Trong chương 22 với tựa đề Phê bình xã hội - chính trị, tác giả có đề cập tới Phê bình “hậu thực dân”. Theo cách hiểu của tác giả thì: “Phê bình Hậu thực dân (Post - colonial criticism) không phải là phê bình theo mà là đối với chủ nghĩa hậu thực dân” - (Những từ in nghiêng được chủ động nhấn mạnh trong nguyên bản). Thế nào là chủ nghĩa hậu thực dân? Sau Đại chiến thứ II, hệ thống thuộc địa trên khắp thế giới lần lượt tan dã. “Nhưng - Tác giả giảng giải tiếp - dần dần người ta phát hiện ra rằng chủ nghĩa đế quốc vẫn nuôi dưỡng mưu đồ bá quyền trên những đất nước vừa mới được giải phóng ra khỏi ách thuộc địa này bằng mọi phương sách, trong đó văn hóa giữa một vai trò tiên phong. Và đó là chủ nghĩa hậu thực dân”… Cũng như đối với chủ nghĩa thực dân cũ và mới trước đó, hễ có xâm lăng hay áp chế dù dưới bất cứ hình thức nào tất có phản ứng, có đấu tranh. Rồi chủ nghĩa hậu thực dân trong phê bình văn chương ra đời như là “những phát ngôn phản kích của các học giả” nhằm chống lại việc thực thi chủ nghĩa hậu thực dân của những nước vốn đi xâm lược và đô hộ các nước khác ở Âu Mỹ (4, tr.609).  Cách hiểu như vậy chi phối tới toàn bộ nội dung được trình bày trong chương mục này. Không phải ngẫu nhiên mà những công trình được xem là kinh điển trong việc thể hiện lý thuyết hậu thuộc địa như của F. Jamenson, E. Said… lại được Phương Lựu phân tích theo một hướng xác định, không hoàn toàn giống với nhiều nhà nghiên cứu khác. Việc chỉ ra mục đích của công trình Văn hóa và chủ nghĩa đế quốc của E. Said (1993) là một dẫn dụ. Ở đây, Phương Lựu lại nhấn mạnh tới mục đích của tác giả là nhằm vạch trần những thủ đoạn mới về văn hóa của chủ nghĩa đế quốc “thông qua những tập san văn hóa, thăm quan du lịch, diễn giảng học thuật để chinh phục nhân dân các thuộc địa cũ” của những cựu thực dân (4, tr.611).

 Không thể phủ nhận những đóng góp to lớn của Phương Lựu trong việc truyền bá vào nước ta với những mức độ và thành công khác nhau hầu như mọi di sản, mọi trào lưu, khuynh hướng, trường phái lý luận, phê bình văn chương nước ngoài, kể cả phương Đông lẫn phương Tây, thời cổ - trung đại đến thời hiện đại. Nhưng ai cũng biết đây là một công việc đồ sộ lại vô cùng phức tạp mà trong thời gian quá dài, do nhiều nguyên do chủ quan và khách quan, chưa hề được chúng ta thật sự lưu tâm. Một vài người ở một vài thời điểm, vì thế, không thể làm thay cho cả một giai đoạn, cả một thế hệ dầu có gắng sức đến đâu đi chăng nữa. Vả lại, cũng nên biết công trình trên được Phương Lựu ấp ủ vào thập niên 1990 khi lý thuyết hậu thuộc địa đang trên đường hình thành, nghĩa là chưa được định hình rõ rệt như sau này. Sự hạn chế, thậm chí khiếm khuyết, sai lạc trong nhận thức nếu có là khó tránh khỏi. Cách hiểu chủ nghĩa hậu thuộc địa nêu trên nằm trong tình cảnh chung ấy. Dễ thấy ở đây cái mà tác giả gọi là “chủ nghĩa hậu thực dân” thực chất chỉ nằm trong chính sách của các cựu thực dân về văn hóa cho thích hợp với tình hình mới khi không còn được hiện diện trực tiếp (thực dân cũ) hay gián tiếp (thực dân mới) ở các cựu thuộc địa trước đây của mình nữa. Từ đó, “chủ nghĩa hậu thực dân”, theo Phương Lựu, chủ yếu giới hạn trong phê bình văn chương, xuất hiện cùng lúc và nhằm chống lại chính sách nói trên mà thôi. Tác giả chọn cách hiểu post - colonial (có sự hạn định về mặt thời gian) và cách dịch hậu thực dân (chủ tâm nhấn tới nguồn cội và chủ thể xâm lăng) là vì thế.

Như sẽ thấy, đó chưa hẳn là sự gặp gỡ với quan niệm của nhiều học giả nổi tiếng trên thế giới khi hướng tới xác định bản chất của thuyết hậu thuộc địa, mặc dầu, cũng như nhiều trào lưu, khuynh hướng hay trường phái lý thuyết từng xuất hiện khác, không thể nói đến sự nhất trí hoàn toàn nào ở đây cả. Về nguyên cớ sâu xa nảy sinh thuyết hậu thuộc địa, Lê Thị Vân Anh cho rằng: “…[s]au chiến tranh thế giới lần thứ II, cùng với những cuộc đấu tranh đòi độc lập của các nước thuộc địa, lệ thuộc, chúng ta cũng thấy xuất hiện quá trình tự định nghĩa về văn hoá của các nước này, tạo nên phong trào giải thực rộng khắp toàn thế giới. Nghiên cứu bản sắc của những nước cựu thuộc địa trở thành một trong những vấn đề chính của nghiên cứu văn hoá nói chung và văn học nói riêng”. Như vậy, xuất phát điểm của thuyết hậu thuộc địa chủ yếu không nhằm “phê phán” mà nhằm “nhận thức” (nhiều khi là “nhận thức lại”) qua việc “xem xét”, “lý giải” xã hội thực dân/thuộc địa (trọng tâm là văn hóa - văn học) đã và đang tồn tại trong lịch sử. Cố nhiên đây là hướng nghiên cứu khác dựa vào những chuẩn mực khác phù hợp với nhu cầu mới nảy sinh. Lê Thị Vân Anh giải thích hoàn cảnh tạo ra yêu cầu nhận thức khác biệt đó như sau: “Trong suốt một khoảng thời gian khá dài, các lý thuyết mỹ học phương Tây đã được coi là chuẩn mực cho công tác nghiên cứu trên toàn thế giới (cũng là một dạng độc tôn văn hóa). Nhưng lúc này người ta đã nhận thấy rằng tính chất phức tạp của nền văn hóa (văn học) các nước cựu thuộc địa dường như vượt thoát ra khỏi khuôn khổ vốn mang tính ‘quy phạm’ của lý thuyết phương Tây đó, đòi hỏi sự xuất hiện của một dạng thức nghiên cứu mới, phù hợp hơn”. Thuyết hậu thuộc địa trong văn hóa, văn học ra đời từ đấy. Cuối cùng, tác giả chủ động dựa vào quan niệm của một số nhà nghiên cứu danh tiếng về vấn đế này để đi tới một nhận thức bao quát về bản chất của thuyết hậu thuộc địa như sau: “Chủ nghĩa hậu-thuộc địa (hay chủ nghĩa hậu thuộc địa) quan tâm tới những hiệu ứng của quá trình thuộc địa hoá đối với các nền văn hóa, xã hội” (1).

Rõ ràng, theo cách hiểu nhiều sức thuyết phục đó, thuyết hậu thuộc địa trong văn hóa - văn học chủ yếu được sử dụng nhằm phân tích và lý giải thực tế văn hóa, văn chương thuộc địa vốn đã và đang là hậu quả của sự bành trướng và thôn tính của thực dân châu Âu dưới một ánh sáng mới - “không có bất cứ sự phụ gia nào” (E. Said), so với chuẩn mực phương Tây trước đó - nhằm hướng đến một cách nhìn chân thực “thuần khiết phương Đông” của chính người phương Đông. Một quan niệm như vậy vừa rộng rãi (thực tế văn hóa - văn học thực dân và thuộc địa trước nay) lại vừa xác định (theo cách nhìn sát hợp với thực tế của các nước thuộc địa); vừa đảm bảo tính khoa học nghiêm ngặt lại vừa tỏ rõ tính tiến bộ vượt trội, tạo ưu thế hơn hẳn so với chủ nghĩa thực dân trong việc nhìn nhận nhiều vấn đề chung cũng như các vấn đề cụ thể nảy sinh từ thực tế thực dân/thuộc địa vô cùng đa dạng và phức tạp. Nếu“diễn ngôn, theo lý thuyết của Foucault, là một hệ thống những phát ngôn, mà chỉ trong hệ thống đó, thế giới mới có thể trở nên nhận thức được” (5) thì có thể nói diễn ngôn hậu thuộc địa đối lập hoàn toàn với diễn ngôn thực dân, nó góp phần quyết định tạo ra tinh thần của một ngành Đông phương học mới mẻ thấm đẫm tính hiện đại, hoàn toàn khác với ngành Đông phương học kiểu cũ vốn sặc mùi tinh thần thực dân cổ hủ, phản tiến bộ và phản lịch sử.

Có thể nhận thấy biểu hiện của thuyết hậu thuộc địa với hàm nghĩa như trên qua cách xem xét của M. Marchand và J. Parpat trong tuyển tập Thuyết nữ quyền, chủ nghĩa hậu hiện đại, sự phát triển” (1997). Sau khi điểm lại các phê phán mang tính hậu hiện đại trong khoa học nhân văn và khoa học xã hội cũng như các mối quan hệ giữa chủ nghĩa hậu hiện đại và thuyết nữ quyền, các tác giả đã gợi ra nhu cầu giải phá thói quen đánh đồng ba yếu tố: sự phát triển, tính hiện đại và phương Tây - PQT nhấn mạnh. Các tác giả hoàn toàn có chủ định trong việc trích dẫn những học giả từng đặt “câu hỏi về thói kiêu căng của tính hiện đại, và về tính chính xác mang mầu sắc dĩ Âu vi trung…” (6). Tuy nhiên, nổi trội hơn cả vẫn là ý kiến của E. Said, thường được nhiều người nhất trí xem là ông tổ của thuyết hậu thuộc địa. Theo Lê Thị Vân Anh, nhà nghiên cứu người Mỹ gốc Palestine này đã phát hiện ra vấn đề căn cốt sau đây: “Nhãn quan Đông phương học của phương Tây, một nhãn quan mang tính chất thực dân… Do đó diễn ngôn Đông phương học không chỉ kiến tạo nên phương Đông mà còn kiến tạo nên cả phương Tây. Đông và Tây là một sự đối lập nhị phân mà hai cực cùng định nghĩa cho nhau. Tính chất nhược tiểu mà Đông phương học quy ước cho phương Đông đã làm nổi bật tính ưu việt của phương Tây. Tính duy cảm, phi logic, nguyên thuỷ, chuyên quyền của phương Đông đã xác lập nên một phương Tây logic, dân chủ, tiến bộ, ...”. Nói gọn lại, theo E. Said: “Phương Tây luôn ở vị thế ‘trung tâm’, trong khi phương Đông là ngoại biên ‘khác biệt’”. “Khác biệt” theo nghĩa thua kém về mọi phương diện, tạo nên sự đối lập như ánh sáng và bóng tối. Một cách nhìn như vậy là hoàn toàn phi lý vì đó chỉ là sản phẩm của sự “bịa đặt” mang ý đồ tăm tối của phương Tây bị nhất quán chi phối bởi cái nhìn nặng tính thực dân mà thôi. “Một cách khái quát hơn - Vẫn theo lời dẫn giải của Lê Thị Vân Anh -, đặc tính nhược tiểu của thuộc địa và đặc tính văn minh của thực dân vốn không phải là những căn tính có sẵn, tất cả là sản phẩm của diễn ngôn - diễn ngôn thuộc địa. Và khi khẳng định nhược tiểu là thuộc tính của thuộc địa, văn minh là thuộc tính của thực dân, thì có nghĩa là đằng sau diễn ngôn đó chắc chắn có sự chi phối của quyền lực” (5). Xem ra, qua những lời diễn giải ngắn gọn và sáng tỏ ấy, nội dung căn bản của thuyết hậu thuộc địa đã trở nên thật sự rõ ràng.

Cố nhiên, xin được nhấn mạnh, đó cũng chỉ là xu hướng chủ lưu của lý thuyết này. Cũng theo Lê Thị Vân Anh: “Bên cạnh đó, chủ nghĩa hậu thuộc địa cũng có liên quan tới những phạm trù khác xuất hiện từ quá trình thực dân hoá nội địa”, như vị thế những thuộc địa định cư, vai trò những nhóm người định cư ở mẫu quốc, hay vấn đề tiếng nói của người phụ nữ đã bị che khuất bởi người đàn ông, đặc biệt là vị thế thuộc địa “kép” của người phụ nữ da màu… (1). Do vậy, từ cuối thế kỷ XX đã xuất hiện khuynh hướng khá phổ biến là thâu gộp thuật ngữ thuyết hậu thuộc địa (postcolonialism) vào hàng loạt những thuật ngữ khác như văn chương thế giới thứ ba, diễn ngôn thiểu số, nghiên cứu nhược tiểu, diễn ngôn khác hoá, diễn ngôn thuộc địa, v.v… Cần lưu tâm tới điều này trong mọi sinh hoạt học thuật, nhất là ở Việt Nam. Ví như, vào cuối tháng 8 năm 2011, Viện Văn học có tổ chức tọa đàm về chủ đề “Tiểu thuyết và chủ nghĩa dân tộc”. Có lẽ đây là lần đầu tiên vấn đề văn chương của các nước thuộc thế giới thứ ba dưới nhãn quan của các học giả phương Tây được đưa ra bàn luận cụ thể. Người thuyết trình điểm lại nội dung cốt lõi mang rõ cách nhìn Đông phương học của các công trình thuộc hàng kinh điển như Văn học của thế giới thứ ba trong kỷ nguyên của chủ nghĩa tư bản đa quốc gia của F. Jameson (Mỹ), Tiểu thuyết và dân tộc của J. Culler (Mỹ), Người kể chuyện của W. Benjamin (Đức)… Trong quá trình thuyết trình, tác giả nhấn mạnh tới quan niệm tách biệt tiểu thuyết các nước thế giới thứ ba - với đặc trưng là phúng dụ về các vấn đề dân tộc, chính trị, xã hội, tôn giáo - ra khỏi thể tiểu thuyết theo tiểu chuẩn thể loại truyền thống của các nước phương Tây (7).

Các lý thuyết gia tiêu biểu của thuyết hậu thuộc địa trong văn hóa, văn học chủ yếu là những người có gốc gác từ những thuộc địa cũ như E. Said (Palestine), H. Bhabha, G. Spivak (Ấn Độ), Trịnh Thị Minh Hà (Việt Nam),... hoặc những nhà nghiên cứu phương Tây như F. Jameson, J. Culler (Mỹ), W. Benjamin (Đức)… Cũng có không ít tên tuổi từ các thuộc địa định cư nghĩa là những thuộc địa được hình thành chủ yếu do những người di dân đến từ mẫu quốc như I. Adam (Canada), H. Tiffin (Australia),... Xin được lưu ý tới tên tuổi của một nhà nghiên cứu gốc Việt - giáo sư Trịnh Thị Minh Hà. Bà sinh tại Việt Nam vào năm 1952 và định cư ở Mỹ vào năm 1970 sau khi có quá trình học tập tại Việt Nam và Philippines. Bà theo học ngành sáng tác âm nhạc, âm nhạc dân tộc, và văn chương Pháp ở đại học Illinois, Champaign - Urbana, và nhận bằng thạc sỹ, rồi tiến sỹ tại đó.  Trịnh Thị Minh Hà đã giảng dạy khắp nước Mỹ, cũng như tại một số nước châu Âu, châu Á, Australia và New Zealand về điện ảnh, nghệ thuật, thuyết nữ quyền, và chính trị văn hóa. Bà là giáo sư danh dự đặc tuyển về nghiên cứu phụ nữ tại đại học Berkeley, California. Trịnh Thị Minh Hà đã từng nhận được rất nhiều giải thưởng nghệ thuật cao quý. Đặc biệt, vào ngày 23/2/2011, Trịnh Thị Minh Hà vinh dự nhận giải thưởng Thành tựu trọn đời vì sự nghiệp phê bình nghệ thuật. Đây là giải thưởng thường niên do Trường cao đẳng Hiệp hội nghệ thuật (Boston, Mỹ) trao cho tác giả tiêu biểu nhất tại Mỹ, để biểu dương những thành tựu và cống hiến của họ trong lĩnh vực nghệ thuật. Người nhận giải còn phải là cá nhân có ảnh hưởng nhất định đối với lĩnh vực nghệ thuật trong phạm vi nước Mỹ và trên toàn thế giới. Tác phẩm nổi tiếng liên quan tới thuyết hậu thuộc địa của bà là tập sách Nữ giới, bản địa và những vấn đề khác: bàn về thời kỳ hậu thuộc địa và chủ nghĩa nữ quyền được Indiana University Press xuất bản vào năm 1989. Tác phẩm phê bình văn học và văn hóa từng bị từ chối xuất bản vì lý do “kén độc giả” này không ngờ lại được giới phê bình đánh giá cao và bán rất chạy. Tiến sỹ E. Ann Kaplan hiện là giảng viên tiếng Anh và văn học đối chiếu tại Đại học Quốc gia New York, Stony Brook cho rằng: “Ảnh hưởng của Trịnh Thị Minh Hà về mặt tác hợp được một tầm nhìn có tính chất hậu thực dân và hậu hiện đại lên các nghệ sỹ và lý thuyết gia theo xu hướng đa văn hóa là khá rõ rệt.  Như Trịnh từng lưu ý, thật sai lầm khi có ý tưởng cho rằng, ‘chủ nghĩa hậu hiện đại’, dù cách này hay cách khác, là một lý thuyết hay khám phá của phương Tây. Chủ nghĩa hậu hiện đại ngụ ý tới tất cả mọi người và các nền văn hóa phi phương Tây cũng đã góp phần và tham gia vào việc lý thuyết hóa chủ nghĩa hậu hiện đại chẳng kém gì các nền văn hóa khác” (6).

Vậy, thuyết hậu thuộc địa với tư cách là một lý thuyết văn hóa mà hẹp hơn là lý thuyết văn học có những đặc tính cơ bản nào? Nguyễn Hưng Quốc nêu lên hai tính chất bao trùm lên các nền văn hóa và văn chương hậu thực dân là cái khác  tính đề kháng. Tác giả giải thích: “‘Cái khác’ (otherness) khác với sự khác biệt (difference) vì ‘cái khác’ bao gồm cả sự khác biệt lẫn bản sắc: ‘cái khác’, tự nó, là một bản sắc và bản sắc ấy được hình thành chủ yếu trên sự phân biệt với những bản sắc khác đang chiếm giữ vị trí trung tâm”. Còn về tính đề kháng của văn chương, văn hóa theo cái nhìn của thuyết hậu thuộc địa thì được ông phân tích: “Một trong những biểu hiện quan trọng nhất của tính chất đề kháng của các dân tộc thuộc địa là sự ra đời của chủ nghĩa quốc gia. Nằm ở trung tâm của chủ nghĩa quốc gia là ý niệm về bản sắc dân tộc. Trong nỗ lực xây dựng bản sắc dân tộc, các dân tộc thuộc địa thường loay hoay giữa sức đề kháng trước áp lực của văn hoá thực dân và những quyến rũ của tính hiện đại vốn gắn liền với nền văn hoá ấy, giữa hiện thực bản xứ và bảng giá trị xem chừng có tính sang cả và phổ quát ở Tây phương. Có thể xem thế áp đảo của các bảng giá trị này là một trong những chiến thắng lớn lao nhất của chủ nghĩa thực dân: nó biến khái niệm Tây phương từ một thực thể địa lý thành một phạm trù tâm lý để với nó, người ta sẽ thấy phương Tây ở mọi nơi, thành cả thế giới văn minh, hơn nữa, thành mẫu mực của văn minh” (3).

Dựa vào các trước tác của H. Bhabha, Lê Thị Vân Anh lại xoáy sâu vào tính nước đôi của thuyết hậu thuộc địa với sự giải thích như sau: “Tính chất nước đôi (ambivalence) vốn là một thuật ngữ trong chuyên ngành phân tích tâm lý để chỉ sự dao động liên tục giữa mong muốn một điều và mong muốn thứ trái ngược với nó. Thuật ngữ này cũng diễn tả một cảm giác diễn ra đồng thời vừa yêu thích vừa căm ghét một sự vật, một con người hay một hành động nào đó”. Vì sao văn hóa, văn chương các nước thuộc địa lại có tính nước đôi? Về phía chủ thể thực dân, tác giả cho rằng, một mặt “…[c]ách thức diễn ngôn thuộc địa kiến tạo nên chủ thể thuộc địa cũng mang tính nước đôi, vì nó vừa mang tính chất bóc lột lại vừa có tính chất nuôi dưỡng. Thực dân bằng diễn ngôn thuộc địa luôn muốn tạo ra những chủ thể phục tùng - PQT nhấn mạnh, tái diễn lại những giả định, thói quen, giá trị - có nghĩa là ‘bắt chước’ nó”. Thêm nữa, cũng theo Bhabha qua diễn giải của Lê Thị Vân Anh, “…[b]ởi vì thực dân không bao giờ muốn thuộc địa trở thành bản sao chính xác của mình - PQT lưu ý, một điều quá mạo hiểm với thực dân”. Còn về phía chủ thể thuộc địa thì sao? Tác giả giải thích rằng, một mặt “bởi vì chủ thể thuộc địa không bao giờ hoàn toàn chống đối thực dân một cách đơn giản - PQT nhấn mạnh”. Mặt khác, chủ thể thuộc địa nhằm “bắt chước” thực dân với xu hướng “gần với sự nhạo báng” để “khiến cho diễn ngôn thuộc địa thoát khỏi tầm kiểm soát của thực dân - PQT lưu ý. Nói gọn lại, tính nước đôi “làm xáo trộn mối quan hệ đơn giản giữa thực dân và thuộc địa” nhằm “làm mất đi quyền thống trị rõ ràng của thực dân”, thể hiện rõ xu hướng thực dân và xu hướng thuộc địa vốn là hai cặp phạm trù mâu thuẫn trong sự ràng buộc biện chứng với nhau. Sau cùng, tác giả không quên lưu ý: “Và đến nay, khái niệm này vẫn còn gây nhiều tranh cãi” (1). Cần đặc biệt lưu tâm tới sự thiếu thống nhất này.

                                                        *

Tình hình giới thiệu thuyết hậu thuộc địa ở Việt Nam cho tới giờ trên đại thể là vậy: còn quá sơ sài, phiến diện, lại không ít ngộ nhận. Điều gì đã dẫn tới hiện trạng trên? Có nhiều nguyên do. Có thể do lý thuyết hậu thuộc địa còn quá mới mẻ, lại đang trong tiến trình phát triển và mở rộng nên chưa thật ổn định và thống nhất. Cũng có thể, sau một thời gian dài hầu như đóng cửa với thế giới bên ngoài, đến thời đổi mới, với ý thức sâu sắc về sự thiếu hụt, nghèo nàn và đơn điệu của lý luận văn hóa - văn học, rất dễ nảy sinh ra tâm lý thấy cái gì của người cũng cần nên buộc phải tính tới việc ưu tiên truyền bá những lý thuyết khác được cho là quan trọng và cấp thiết hơn. Chỉ xin lưu tâm tới nguyên nhân này: tình trạng ấy có khi bị chính tính “nước đôi” của thuyết hậu thuộc địa chi phối. Nghĩa là, như với bất cứ trào lưu hay trường phái lý luận phê bình văn chương hiện đại nào đến từ phương Tây, có thể ai cũng thấy thuyết hậu thuộc địa là mới, thậm chí là hay, nhưng vẫn cứ dè dặt vì nghi ngại bởi những câu hỏi: Có hợp với hoàn cảnh nước ta? Có cần với ta giữa lúc này? Có gì nguy hại tiềm ẩn bên trong mà ta chưa kịp phát hiện? Có nên để nghiên cứu thêm một thời gian mới phổ biến?... Hàng loạt những câu hỏi đại loại như vậy được đặt ra một cách nghiêm túc và thẳng thắn, trong giới và ngoài giới, nhất là ở trong đội ngũ lãnh đạo, quản lý văn hóa văn nghệ thuộc mọi cấp.

Có lẽ đã đến lúc phải thay đổi quyết liệt và triệt để cả về tư duy lẫn hành động mới mong sớm tạo ra sự chuyển biến thật sự trong mọi hoạt động văn hóa - văn học vào thời gian tới. Vâng, khẩn thiết lắm rồi, không thể cứ trù trừ, do dự thêm nữa. Ở trên, tôi có nhắc tới buổi tọa đàm về chủ đề “Tiểu thuyết và chủ nghĩa dân tộc” do Viện Văn học có tổ chức vào cuối tháng 8 năm 2011. Sau phần thuyết trình của diễn giả, các nghiên cứu viên trẻ của Viện Văn học đã bàn luận khá sôi nổi về nền văn học Việt Nam cũng như Ấn Độ, Indonesia, Philippines, Singapore, Malaysia… theo hệ quy chiếu trên. Đặc biệt, vào cuối buổi thảo luận, một số người tham dự đã bổ sung thêm những tác phẩm của các tác giả khác liên quan đến vấn đề đang thảo luận như của E. Said, G. Spivak, H. Bhabha… nhằm đối thoại lại với những học giả Tây phương, tạo ra một so sánh tương quan mới giữa văn chương cũng như lý luận phê bình phương Tây với các nước thuộc thế giới thứ ba. Thậm chí có ý kiến mạnh dạn đề xuất là các nước thứ ba cũng cần có hệ thống lý thuyết để đánh giá lại các tác phẩm văn học phương Tây (7). Sinh hoạt học thuật dầu còn sơ khởi và hạn chế về nhiều mặt này rất cần được khuyến khích một khi việc giới thiệu thuyết hậu thuộc địa ở nước ta cho đến giờ vẫn ở trạng thái sơ khai và còn ít nhiều gây ra những ngộ nhận như đã nêu ở trên. Nó còn chứng tỏ rằng, muốn đẩy nhanh đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, phê bình văn chương một cách hiệu quả trong tình hình mới ở một nước từng trải qua sự đô hộ và khống chế nặng nề về mọi mặt của chủ nghĩa thực dân cũ và mới như nước ta không thể không quan tâm tới việc giới thiệu và vận dụng lý thuyết hậu thuộc địa một cách hệ thống và đầy đủ.

Trước tiên là hoạt động lý luận. Bởi hoạt động này cần đi trước một bước. Có nắm chắc chắn và đầy đủ quá trình hình thành, sự diễn biến phức tạp, rồi đặc điểm nổi bật của thuyết hậu thuộc địa mới có thể tính đến chuyện vận dụng một cách chủ động và sáng tạo trong các hoạt động văn chương khác. Công việc hệ trọng này liên quan mật thiết tới hoạt động dịch thuật vốn rất chậm trễ và tự phát như nhiều người đã thẳng thắn chỉ ra. Hiện mới chỉ có công trình mang tính bản lề của thuyết hậu thuộc địa trên thế giới là Orientalism (Chủ nghĩa phương Đông - E. Said - New York - Pantheon, 1978) được chuyển ngữ sáng tiếng Việt do Nxb Chính trị Quốc gia ấn hành vào năm 1998 (Được dịch là Đông phương học). Còn những công trình kinh điển khác thì sao? Không uống tận nguồn thì sao có thể thỏa cơn khát? Ở một góc nhìn khác: sao ta không tính tới chuyện đi sâu nghiên cứu để có những đóng góp mới về mặt lý thuyết? Vì, rất dễ thấy thuyết hậu thuộc địa vốn gắn bó khăng khít với thực tế dài lâu của dân tộc Việt trong những dạng thức phải thừa nhận là sâu đậm nhất và điển hình nhất. Đó là xã hội thực dân/thuộc địa kiểu cũ của Pháp gần 100 năm và kiểu mới của Mỹ trên 20 năm. Chỉ xin đưa ra một ví dụ: đã toàn diện chưa khi nghiên cứu chủ thể thực dân/thuộc địa mà chỉ chủ tâm tới dạng thức duy nhất là sáng tạo? Thế còn chủ thể tiếp nhận, cả phía thực dân lẫn phía thuộc địa thì sao? Nếu không đi sâu tìm hiểu dạng thức này thì không chỉ phiến diện mà còn hạn chế tới nhận thức về chính chủ thể sáng tạo. Bởi, sáng tạo để dành cho ai chứ? Chẳng lẽ sáng tạo là vì sáng tạo. Hơn thế, ai là người xem xét, đánh giá sản phẩm tinh thần được sáng tạo ra đây? Mới ở chỗ nào? Giá trị ở đâu? Sao có thể trả lời thấu đáo những câu hỏi cốt tử ấy nếu không quan tâm tới chủ thể đánh giá ở cả các nước cựu thực dân lẫn cựu thuộc địa trong đó tất nhiên có Việt Nam chúng ta!  Cũng cần thấy thêm rằng, tính nước đôi về mặt lý thuyết của thuyết hậu thuộc địa không chỉ biểu hiện ở phía chủ thể. Phải nghiên cứu bổ sung ở cả phía khách thể nữa. Muốn thế, nền móng lý thuyết cần được mở rộng thêm ra. Bởi, nếu chỉ hiểu tính nước đôi “là một thuật ngữ trong chuyên ngành phân tích tâm lý” như Lê Thị Vân Anh thì e sẽ rơi vào phiến diện và hời hợt. Nên từ nhiều điểm nhìn khác như xã hội học mà trên hết và trước hết là triết học để tìm hiểu mới mong thoát khỏi cái nhìn hạn hẹp chăng?    

Sau hoạt động lý luận tất nhiên phải là hoạt động sáng tạo văn chương. Hiện chưa có công trình nghiên cứu nào chỉ ra những ảnh hưởng có ý thức của thuyết hậu thuộc địa tới sáng tác văn chương ở nước ta trong những năm 1990 và thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI. Phải có chứ! Tuy chắc chỉ ở dạng thức tự phát mà thôi. Lý thuyết chưa được giới thiệu đến nơi đến chốn thì sao có thể nói tới ảnh hưởng mang tính tự giác được? Mà một khi còn ở tình trạng tự phát thì chưa thể bàn tới chất lượng cao - thấp. Điều này thật đáng tiếc mà cũng thật đáng buồn, khiến những ai quan tâm tới sự phồn vinh hay nói như một vài người là “làn sóng phục hưng mới” của văn hóa - văn chương dân tộc phải thường xuyên trăn trở. Có hai vấn đề lớn hiện đang đặt ra đối với các nhà văn Việt Nam liên quan tới việc thấm nhuần thuyết hậu thuộc địa. Một là, thâm nhập thực tế con người và xã hội nước ta ra sao? Và hai là, thái độ trước các trường phái văn chương đến từ các nước phương Tây như thế nào?

Xin phép được đi vào vấn đề lớn đầu tiên: việc thâm nhập thực tế xã hội và lịch sử Việt Nam. Ai cũng rõ, nhà văn bao giờ cũng sáng tác bằng vốn sống trực tiếp hay gián tiếp của mình. Là nhà văn Việt Nam, vốn sống ấy hiển nhiên cần gắn bó mật thiết với đời sống quá khứ, hiện tại và tương lai của dân tộc. Vậy mà chính sách thực dân/thuộc địa và hậu thực dân/hậu thuộc địa trong những dạng thức phải thừa nhận là sâu đậm nhất và điển hình nhất vốn là một trong những nhân tố then chốt luôn quan hệ hữu cơ với các nhân tố khác làm nên thực tế của dân tộc Việt thời cận - hiện đại. Đó là xã hội thực dân/thuộc địa kiểu cũ của Pháp và kiểu mới của Mỹ từng tồn tại và hiện vẫn gây nhiều ảnh hưởng sâu xa ở nước ta. Tác động của chúng, cả mặt tích cực lẫn tiêu cực, còn kéo dài tới tận giờ và chắc cả tới nhiều năm sau nữa. Nhìn nhận một cách toàn diện và đúng đắn thực tế đó quả không mấy dễ dàng. Cùng với những hệ kiến giải tiên tiến khác, thuyết hậu thực dân/hậu thuộc địa có thể giúp người cầm bút vươn tới làm chủ được đối tượng sáng tạo. Chỉ xin nêu một dẫn dụ về tính nước đôi của thuyết thuộc địa. Nó đủ sức soi sáng nhiều vấn đề lịch sử và xã hội cũng như đưa ra hướng giải quyết chúng rất sát đúng, sâu sắc mà thú vị. Liên quan tới tính chất cơ bản này, cần lưu ý tới những nhận định quan trọng sau của học giả H. Bhabha: “Thực dân không thể thoát khỏi mối quan hệ phức tạp và nghịch lý với thuộc địa”(5). Khoảng soi sáng ở đây thật rộng rãi. Nhưng cái quyết định bao giờ cũng tùy thuộc vào ý thức thường trực của chủ thể sáng tạo. Chẳng hạn, vì sao có thể xuất hiện trong cuộc chiến tranh Việt Nam hiện tượng độc nhất vô nhị trong lịch sử tình báo nhân loại là tướng Phạm Xuân Ẩn? Đánh giá hiện tượng này từ hai phía giống và khác nhau như thế nào? Ngược xa hơn một chút, tại sao trong lịch sử cận đại nước ta lại nổi lên tên tuổi Phan Châu Trinh? Bài học khác nhau khi nhìn nhận đánh giá sự nghiệp cứu nước của nhân vật lịch sử này như thế nào? Hay, hẹp hơn là đời sống văn hóa. Chính lý thuyết gia H. Bhabha đã khẳng định:“Sự xâm nhập văn hoá giữa thực dân và thuộc địa luôn ảnh hưởng tới cả hai”. Điều này có thể giúp nhà văn thực hiện được mong muốn tạo dựng lên bức tranh toàn cảnh - phức hợp với sự chuyển hóa của nhiều xu hướng tư tưởng trong lịch sử và xã hội nước ta. Như: đời sống văn chương và báo chí ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 cùng tác động của chúng lên cuộc chiến tranh và đời sống chính trị đương thời; Hoặc: tại sao tạp chí Nam Phong ra đời? Tác dụng hai mặt của nó về mặt tư tưởng và văn hóa trước mắt và lâu dài ra sao và nằm ở chỗ nào? V.v…

Vấn đề cơ bản thứ hai: nên tiếp nhận các trường phái văn chương đến từ phương Tây như thế nào? Cố nhiên, không phải đến bây giờ câu hỏi ấy mới được nêu ra. Ngay vào đầu thế kỷ XX, nhất là những năm 1930, khi văn chương dân tộc thẳng tiến tới công cuộc hiện đại hóa lần thứ nhất, vấn đề này đã từng được đặt ra và được giải quyết khá thành công. Nó là một trong những nguyên do chính khiến cho văn chương dân tộc chỉ trong một thời gian ngắn ngủi đã vươn mình thật mạnh mẽ, tạo nên một thời đại văn chương mới chưa từng có trong lịch sử. Tuy nhiên, cũng cần thấy, chưa bao giờ công cuộc hội nhập quốc tế sâu rộng đang đặt trước mối giao lưu Đông - Tây về văn chương - văn hóa nhiều thử thách mang tính sống còn như lúc này. Đã xuất hiện hai xu hướng gần như đối nghịch nhau trong giới cầm bút cần hết sức nên tránh. Một số, không nhiều lắm, có phần quá dễ dãi với việc “bắt chước” một cách sống sượng những cái “lạ” đến từ phương Tây. Thậm chí họ không cần biết cái “lạ” ấy đã hết thời tại chính quê hương đã sinh ra nó. Những bài thơ, những áng văn bị đánh giá một cách xác đáng là “ngụy giả”, “ngô nghê”, “nửa tây nửa ta” ấy không thể được xem là những giá trị văn chương đích thực. Một số khác lại thường lấy danh nghĩa giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc để dị ứng, thậm chí bài bác, khước từ mọi lý thuyết sáng tác đến từ nước ngoài. Họ biện hộ rằng: văn chương cốt là hay, trước hết là hay trong cảm nhận của đồng bào gần gũi với mình. Mới ư? Cần lắm! Nhưng mới mà ít người đọc, thậm chí luôn dị ứng trước người đọc thực tế thì để làm gì? Ở đây, có lẽ thuyết hậu thuộc địa cũng gợi mở nhiều bài học tích cực. Như có dịp đã trình bày, một trong những nội dung cơ bản mà lý thuyết này đào sâu là phạm trù về “cái khác”. Cần kiên trì bảo vệ “cái khác” của dân tộc nhưng để làm giàu có mình lại cũng cần mở rộng tâm trí đón nhận những “cái khác” đến từ các dân tộc thuộc mọi châu lục. Theo quan điểm của E. Said, trong quá trình nhận thức và bày tỏ thái độ đối với lý thuyết Đông phương học kiểu cũ không nên thay thế cực đoan này bằng thứ cực đoan khác: từ xu hướng “dĩ Âu vi trung” chuyển sang xu hướng “dĩ Đông vi trung”. Chẳng phải ngẫu nhiên mà vào năm 1995, khi công trình Chủ nghĩa phương Đông được tái ở London, E. Said đã quyết định viết thêm hậu ký nhằm nói rõ thêm rằng “phải đối thoại với văn hóa phương Tây”, kêu gọi không nên rơi vào sự đối lập kiểu nhị nguyên “không phải cái này thì là cái kia”  (4, tr.615&616).

Trên thực tế, thuyết hậu thuộc địa ở ta mới được ứng dụng trong phê bình và nghiên cứu văn hóa - văn chương là chính. Nổi bật hơn cả trong việc vận dụng thuyết hậu thuộc địa vào phê bình nghệ thuật là ở trường hợp Lê Thị Vân Anh. Tác giả đã có hai bài viết công phu về vấn đề này là Tính chất nước đôi của chủ thể hậu thuộc địa trong “Vu khống” của Linda Lê (1) và Tính chất nước đôi và mầm mống phá hủy nhãn quan thực dân về Việt Nam tính trong bộ phim “Đông Dương” (5). Điểm mạnh ở bài đầu là ở sức khám phá mang tính văn học nằm ở chủ thể sáng tạo. Có thể nhận thấy đóng góp ấy qua đoạn kết vừa khái quát vừa nâng cao ý tưởng chung của toàn bài: “Đặt nhan đề là Vu khống, toàn bộ tác phẩm giống như những lời kiến tạo không thật của các chủ thể áp đặt lên nhau, tuy nhiên ta nhận ra có một lời thú nhận thành thật ở đây: đó là trạng thái nước đôi của chủ thể hậu thuộc địa. Đối với mẫu quốc, vừa lảng tránh vừa mong muốn đến gần. Đối với quê nhà, vừa muốn dứt bỏ, vừa bị níu giữ lại. Và những chủ thể hậu thuộc địa vẫn đang trên hành trình tự giải thoát”. Điểm mạnh ở bài sau của Lê Thị Vân Anh lại ở sự vận dụng thành công về mặt lý thuyết trong sự đối sánh giữa chủ nghĩa hậu thuộc địa với chủ nghĩa thuộc địa. Lời kết bao quát của bài viết thấm nhuần cảm hứng chung này: “Qua phân tích và so sánh có thể nói, bộ phim Đông Dương chính là sự nhìn nhận một cách nghiêm túc của người Pháp về quá khứ của họ ở Việt Nam. Xem xét lại di sản thuộc địa người Pháp tìm ra một cách giải thích cho sự thất bại của mình tại Đông Dương. Có lẽ tính chất nước đôi sớm hay muộn khi hiển hiện cũng sẽ là một xúc tác phá vỡ quan hệ thống trị thực dân - thuộc địa truyền thống. Theo cách hiểu này, ta có thể khẳng định Đông Dương là một diễn ngôn hậu thuộc địa chứ không phải là một diễn ngôn thuộc địa - PQT lưu ý”.

Rõ ràng, có thể thấy hoạt động phê bình văn chương theo xu hướng hậu thuộc địa vẫn còn là một mảnh đất màu mỡ với nhiều triển vọng tốt đẹp. Chỉ xin nên một ví dụ ở Việt Nam: việc phê bình truyện Vàng lửa của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Như nhiều người đã biết, truyện này cùng các truyện lịch sử Phẩm tiết  Kiếm sắc khi mới ra đời vào cuối những năm 1980 đã thật sự tạo nên sự đánh giá hết sức khác nhau trong dư luận. Có nguyên do từ quan điểm chính trị. Nhưng cũng có nguyên do từ lý thuyết văn chương. Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên sau này hồi tưởng: “Còn nhớ mười lăm năm trước sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp ra đời đã gây rối loạn và khủng khoảng cho phê bình văn học. Tỷ như vấn đề ‘người kể chuyện không đán tin cậy’ trong truyện của Thiệp chẳng hạn”. Phạm Xuân Nguyên đề xuất nên dựa vào chủ nghĩa hậu hiện đại để luận giải mới đúng đắn: “Bây giờ, một phần tư thế kỷ sau, áp dụng lý thuyết văn chương hậu hiện đại để xem xét mới thấy có lẽ nhà văn này đã đi bước hậu hiện đại đầu tiên trong văn học Việt Nam” (8, tr.1083). Theo ý tôi, nếu dựa vào thuyết hậu thực dân/thuộc địa thì có điều kiện tìm hiểu và đánh giá bao quát toàn bộ nội dung hiện thực và nội dung tư tưởng phải nói là không mấy đơn giản của tác phẩm. Còn riêng với lối kết thúc thì lý thuyết này cũng có thể gợi ra sự lý giải theo một cách khác, thuyết phục không kém. Ba lối kết cục của Vàng lửa có lẽ liên quan đến số phận khác nhau của nhân vật thực dân Phơrăngxoa Pơriê, mà suy cho cùng cũng là số phận không giống nhau của chế độ thực dân trong quan hệ với thuộc địa chăng?

Sự vận dụng thuyết hậu thuộc địa trong nghiên cứu văn chương có thể thấy ở hai cấp độ: gián tiếp và trực tiếp. Ở cấp độ gián tiếp có thể nhận ra qua trường hợp Nguyễn Hưng Quốc trong tiểu luận khá dầy dặn: Tính lai ghép trong văn học Việt Nam (2). Tác giả nhận xét có cơ sở rằng: “Không thể bàn đến các trường phái hoặc ngành học ấy (văn hoá, triết học, xã hội học, nhân chủng học và văn học) cũng như không thể hiểu được thời đại chúng ta đang sống một cách thấu đáo nếu bỏ qua khái niệm tính lai ghép”. Thế mà để thấu hiểu tính lai ghép của văn học thì trong hoàn cảnh thế giới có những biến đổi sâu sắc và rộng khắp từ sau thế chiến II tới nay, vai trò của các nước thuộc địa cũ càng ngày càng được nâng cao thì không thể không chú tâm tìm hiểu thuyết hậu thực dân/thuộc địa. Như tác giả viết: “Có thể nói, trong mấy chục năm vừa qua, ít có khái niệm nào thay đổi nhiều và triệt để như khái niệm tính lai ghép: Trước, nó gắn liền với ý niệm chủng tộc; sau, với ý niệm về bản sắc. Trước, trong diễn ngôn thực dân luận (colonial discourse), nó chỉ những gì bị xem như thứ cấp và hạ đẳng; sau, trong diễn ngôn hậu thực dân luận (postcolonial discourse), nó lại được xem như một nét đặc thù và độc đáo”. Đáng chú ý nhất là những dòng Nguyễn Hưng Quốc nhận xét về một trong những đặc tính của văn hóa Việt Nam từ sau năm 1945: “Lai ghép giữa hai xu hướng hiện đại hoá: một, qua con đường thực dân, từ thực dân cũ đến thực dân mới; và một qua con đường của chủ nghĩa cộng sản”.

 Cũng có thể xem tiểu luận Phương Đông - phương Tây, từ một bài thơ suy nghĩ về một vấn đề không nhỏ của Nguyễn Văn Dân là sự vận dụng thuyết hậu thực dân theo hướng gián tiếp. Mục đích của tiểu luận rất xác định: không nên cố tình hay vô ý cắt xén thơ của R. Kipling để đối lập hai nửa vốn quan hệ khăng khít của thế giới chúng ta như nhiều người đã làm. Chỗ dựa của thái độ cực đoan này là câu: “Ôi, phương Đông là phương Đông, phương Tây là phương Tây, và hai bên sẽ chẳng thể bao giờ gặp nhau”. Như tác giả đã chỉ ra, câu thơ này nằm trong khổ đầu của bài thơ còn có những câu tiếp theo như sau: “…Cho đến khi Đất Trời có mặt tại Toà phán xử tối cao của Thượng Đế/ Nhưng sẽ chẳng có Đông cũng chẳng có Tây, chẳng có Ranh giới, chẳng có Giống nòi, cũng chẳng có Sinh sôi/ Khi hai người đàn ông mạnh mẽ đứng đối diện nhau, dù họ đến từ những nơi tận cùng của Trái đất!”. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn văn Dân, sau đó là một đoạn kể về chuyện đụng độ giữa một thủ lĩnh người bản xứ với con trai một đại tá thực dân. Cuộc đụng độ đã kết thúc bằng sự hoà giải và kết nghĩa anh em giữa “hai người đàn ông mạnh mẽ”. Rồi bài thơ kết thúc bằng việc lặp lại khổ thơ đầu ở trên. Sau cùng, tác giả đưa ra một nhận xét thật hợp lý: “Hoá ra, Kipling không chia cắt Đông-Tây như người ta vẫn tưởng. Trong quan niệm của ông, sự khác biệt Đông-Tây không đến mức không thể hiểu nhau và hợp tác với nhau. Và thực tế ngày nay đang chứng minh điều đó…” (8). Hoàn toàn có thể chia sẻ với người viết. Chủ đích của Nguyễn Văn Dân là rõ ràng: nhằm ngăn ngừa thái độ bài xích phương Tây, nhất là trên phương diện văn hóa - văn học.

Cấp độ trực tiếp trong việc vận dụng thuyết hậu thuộc địa ở nước ta quả thật chưa nhiều. Có thể xem tham luận của Phạm Quang Trung tại Hội nghị Quốc tế Giới thiệu văn học Việt Nam tổ chức tại Hà Nội từ ngày 5/1 đến ngày 10/1 năm 2010 đi theo hướng này. Bài viết nhằm khẳng định ý nghĩa hiển nhiên của việc tiếp nhận văn chương Việt đối với các nước thuộc mọi chân trời. Muốn thế cần phải dựa hẳn vào quan niệm mới mẻ của thuyết hậu thuộc địa để nhận thấy vai trò chỉ đạo của ngành phương Đông học kiểu mới. Tác giả chủ tâm khẳng định: “Giới trí thức Việt Nam cũng như nhiều nước thuộc địa cũ từng đón nhận những ý tưởng quả cảm và chân xác của E. Said với một thái độ trân trọng. Trong công trình nổi tiếng Chủ nghĩa phương Đông ấn hành năm 1978, ông đã phân tích, lý giải đầy sáng tạo và thuyết phục mối quan hệ quyền lực giữa phương Đông và phương Tây qua các hình thức diễn ngôn tiêu biểu, thể hiện một tầm nhìn học thuật xa rộng, một sự soi chiếu lịch sử sâu sắc đôi khi đến mức đáng ngạc nhiên… Tôi đặc biệt thấm thía với ý nghĩa phạm trù chủ nghĩa phương Đông mà ông đã chỉ ra: đó không gì khác mà chính là những quy phạm chung, đầy ý thức của phương Tây để xem xét và đối xử với phương Đông, nhằm một mực tôn sùng, đề cao phương Tây” (9, tr.302&303). Từ đó, tại diễn đàn quan trọng này, Phạm Quang Trung đã thẳng thắn đưa ra ý kiến: “Được vậy, chắc sẽ không còn người nào lại đặt ra câu hỏi xem ra không còn cần thiết nữa là việc giới thiệu văn chương Việt Nam ra nước ngoài thì sẽ có lợi cho ai? Tôi xin mạnh dạn trả lời: việc ấy có lợi cho tất cả chúng ta, vì vốn xuất phát từ nhu cầu sâu xa của mỗi người chúng ta, không phân biệt trong hay ngoài, dân tộc này hay dân tộc khác - những người luôn khao khát hướng tới xây dựng một nền Văn chương Thế giới giàu có đa màu sắc, kết tụ tinh hoa văn chương của mỗi dân tộc sống ở khắp năm châu bốn biển như mơ ước đã tồn tại chừng hai trăm năm nay của thi hào W. Goethe. Văn chương các nước thuộc thế giới thứ ba, theo quan niệm của F. Jamenson, thực sự làm phong phú thêm văn chương nhân loại nhờ những bản sắc có một không hai của riêng mình” (9, tr.304).

Xin được nhấn mạnh rằng, trong khi nhiều lý thuyết văn hóa - văn học đã được khai thác đến mức cạn kiết, sự vận dụng thuyết hậu thuộc địa vào Việt Nam luôn là hướng nghiên cứu tiềm ẩn nhiều hứa hẹn tốt đẹp trên các lĩnh vực khác nhau chứ không riêng gì văn học. Gần gũi hơn như các ngành: sử học, văn hóa học, dân tộc học… Nếu chỉ khuôn lại trong lĩnh vực văn học, chẳng hạn, việc vận dụng tính nước đôi của thuyết hậu thuộc địa cũng mở ra nhiều hướng nghiên cứu với nhiều triển vọng trên cả phương diện lý thuyết và lịch sử. Riêng về lý luận văn chương thì ánh sáng từ tính nước đôi trong thuyết hậu thuộc địa có thể rọi soi để giải quyết thấu đáo nhiều vấn đề lớn nhỏ đa dạng từng nảy sinh trong thời kỳ đổi mới. Như một câu hỏi bao quát: Có nên xây dựng bộ phận lý luận văn chương đặc thù được khái quát từ thực tiễn văn chương riêng biệt của dân tộc? Rồi một câu hỏi nhỏ hơn như: Sự khác biệt trong lý thuyết tiểu thuyết của phương Đông và phương Tây? Cũng có thể nhìn nhận lịch sử lý luận văn chương Việt Nam (nhất là trong thế kỷ XX) dựa vào tính nước đôi mà lý thuyết hậu thuộc địa gợi mở… Nghĩa là nhiều, rất nhiều vấn đề hệ trọng khác nhau. Mảnh đất lịch sử văn chương cũng ngồn ngộn bao vấn đề lý thú như thế. Như: hiện tượng Phan Văn Trị và Tôn Thọ Tường thời cận đại, rồi văn phái Tự lực văn đoàn, hiện tượng Thơ mới, trường phái thơ Xuân thu nhã tập trước cách mạng tháng Tám, và văn chương miền Nam giai đoạn 1954-1975, văn chương Việt Nam hải ngoại sau 1975… Ấy là mới chỉ dựa vào một thuộc tính của thuyết hậu thuộc địa. Những tính chất và nội dung khác của lý thuyết quan trọng này chắc sẽ khai mở và sáng tỏ nhiều vấn đề văn chương - văn học cơ bản khác nữa. Hy vọng bức tranh sáng sủa nhiều sắc màu trong nghiên cứu và vận dụng thuyết hậu thuộc địa ở nước ta sẽ mau chóng được tạo dựng trong một tương lai thật gần…

                                                                                                                     Đà Lạt, 22/11/2011

                                                                       …………………………………………………………………………………........................................................................................................................................

 

                                                               TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

(1)   Lê Thị Vân Anh - Tính chất nước đôi của chủ thể hậu thuộc địa trong “Vu khống” của Linda Lê - mạng tienve.org và Tạp chí Văn học Nước ngoài (Hội Nhà văn Việt Nam - số 3/2010)

(2)   Nguyễn Hưng Quốc - Tính lai ghép trong văn học Việt Nam- mạng tienve.org.

(3)   Nguyễn Hưng Quốc - Chủ nghĩa hậu thực dân - mạng tienve.org.

(4)   Phương Lựu - Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX , Nxb Văn học, Hà Nội, 2001.

(5)   Lê Thị Vân Anh - Tính chất nước đôi và mầm mống phá hủy nhãn quan thực dân về Việt Nam tính trong bộ phim “Đông Dương” - mạng tienve.org.

(6)   Nguồn: www.nhuhuy.com.

(7)   Mạng phongdiep.net.

(8)   Viện Văn học - Lý luận và phê bình văn học - đổi mới và phát triển - Nxb Khoa học Xã hội, H., 2005.

(9)   Nguyễn Văn Dân - Phương Đông - phương Tây, từ một bài thơ suy nghĩ về một vấn đề không nhỏ - mạng trannhuong.com.

(10)                       Phạm Quang Trung - Học lối ứng xử đúng mực với cái khác mình,­ Tập tiểu luận, phê bình Hồn cây sắc núi, Nxb Hội Nhà văn, H., 2010.