Từ tiểu thuyết Cơn giông nghĩ về nghiệp văn của Lê Văn Thảo

            Tôi xin được chọn cách thức tâm sự về nghề chứ không theo yêu cầu thông thường của một bản tham luận đúng nghĩa để đến với các anh, các chị và các bạn trong một không khí ấm áp tình đồng nghiệp hôm nay. Có thể vì vậy mà tham luận thiên về tính “văn xuôi”, hơi suồng sã lại có phần tản mạn. Rất mong nhận được sự cảm thông từ phía cử tọa. Chủ đề của chúng ta hôm nay là Văn xuôi Đồng bằng Sông Cửu Long thời kỳ đổi mới khiến tôi nhớ lại hai kỷ niệm về nghề dạy văn, có lẽ buồn nhiều hơn vui, song chắc truyền tải một ý nghĩa nào đó đối với những ai quan tâm. Chuyện đầu tiên xảy ra cách đây chừng hai năm, tôi được mời phản biện độc lập một luận án tiến sỹ ngữ văn với đề tài Khảo sát đặc điểm truyện ngắn Đồng bằng Sông Cửu Long từ 1975 đến nay. Rất mừng vì văn xuôi mới vào thời kỳ mới của một miền đất mới nhưng gắn bó mật thiết với dân tộc cả về lịch sử, địa lý và văn hóa đã được thế hệ trẻ ngày nay quan tâm tìm hiểu mặc dầu cũng chỉ dừng ở mức độ “khảo sát” thôi. Tuy nhiên, thành thực mà nói, nhiều điều khiến tôi không mấy hài lòng. Như ở trang 32, khi điểm danh đội ngũ sáng tác truyện ngắn sau 1975 đã từng cầm bút từ thời kháng chiến trươc đó, ngoài Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Đoàn Giỏi,Trang Thế Hy…, tôi không hề thấy cái tên Lê Văn Thảo. Chẳng lẽ một nhà văn như Lê Văn Thảo vốn quê ở An Giang, sinh tại Long An, thuở nhỏ ở cùng gia đình và từng học đại học ở Sài Gòn, rồi bỏ học vào chiến khu Đông Nam Bộ tham gia kháng chiến, hiện sống ở Thành Phố Hồ Chí Minh, từng cho in tập Đêm Tháp Mười vào năm 1972, không phải là đối tượng để tác giả xem xét. Cũng xin được nói ngay, hiện vẫn còn tồn tại sự phân biệt tới mức khá rạch ròi giữa miền Tây với miền Đông Nam Bộ mà trung tâm là Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi không cho như vậy là hoàn toàn hợp lý. Về lịch sử, địa lý, kinh tế hay văn hóa, nói chung về phương diện nào cũng không thật hợp lẽ. Bởi, sự gần gũi giữa các tỉnh thành ở vùng đất trọng yếu với trên 300 năm tuổi này nổi bật hơn nhiều so với sự khác biệt. Đặc biệt là về văn chương - văn học.

            Chuyện thứ hai diễn ra trước chuyện đầu chừng một năm. Hệ cao học văn học trường tôi bước vào giai đoạn cuối: chọn đề tài làm luận văn. Theo tinh thần gắn chặt việc dạy và học văn với văn chương đương đại của địa phương, tôi đã chủ động gợi ý cho một học viên ở Bình Phước làm về văn xuôi Nam Bộ sau năm 1975. Việc trước tiên là phải tiếp xúc với tư liệu. Tôi chuyển cho học viên bốn tập truyện ngắn khá quy mô là Tuyển tập truyện ngắn Đồng bằng Sông Cửu Long 1975-1995 - Nxb Hội Nhà văn - 1996; Truyện ngắn miền Tây (2 tập) Nxb Trẻ - 1999; và Tuyển tập truyện ngắn 18 nhà văn Đồng bằng Sông Cửu Long - Nxb Mũi Cà Mau - 2003. Sau chừng một tuần, học viên gặp tôi khước từ vì cho rằng các tác phẩm đó không đủ sức cuốn hút để tạo nên hứng thú trong nghiên cứu. Vậy là tôi buộc phải thay đổi hướng đề tài, bởi nếu không có cảm hứng trong tìm hiểu thì làm sao nói tới kết quả như mong muốn! Thế rồi tôi quyết định đưa cho học viên hai cuốn tiểu thuyết Một ngày và một đời  Cơn giông của Lê Văn Thảo kèm theo lời nhắn gửi: “Vậy thì em hãy đọc những cuốn sách này đi, đều đoạt Giải của Hội Nhà văn, hay lắm đấy!”. Rất mừng là chưa tới hai ngày sau, học viên đó đã điện thông báo cho tôi hay là sẽ làm về tác phẩm của nhà văn Lê Văn Thảo, còn kèm theo lời nhận xét, không biết có ý cho thầy uống nước ngọt hay không nữa, rằng: “Đúng như thầy nói: Hay  lắm! Em đọc liền một mạch, không nghỉ”. Chợt nhớ tới ý kiến của nhà văn Tô Hoàng. Xin được nói ngay, đây là lời trích trong bài phỏng vấn nhà văn Lê Văn Thảo có tên KHI VIẾT TÔI RẤT ÍT KHI CHỊU ÁP LỰC CỦA THỜI THƯỢNG được anh Tô  Hoàng viết xong hồi tháng 6/2008, rồi cho in trên Văn nghệ Công an. Nhiều ý, nhiều câu trong tham luận này của tôi được rút ra từ đây. Nhận xét ấy như sau: “Tiểu thuyết Cơn giông được Nxb Trẻ  ấn hành lần đầu vào năm 2002, Nxb Hội Nhà văn tái bản năm 2006. Cũng năm ấy Cơn giông  nhận Giải thưởng Văn học Đông Nam Á. Có thể nói thẳng điều này: ở cả 3 thời  điểm  kể  trên Cơn giông không khuấy động được bao nhiêu dư luận của bạn đọc, của giới phê bình”. Nhà văn Tô Hoàng đồng thời đưa ra lời giải thích theo ý mình: “Chuyện không có gì lạ khi thiên hạ đang nháo nhác, tất bật tìm kế mưu sinh mà bỗng trở nên ghẻ lạnh, xa lánh với văn hóa đọc”. Không phải tôi không tán thành với cách lý giải ít nhiều có cơ sở của anh Tô Hoàng. Nhưng tôi đồ rằng trong trường hợp Lê Văn Thảo hình như còn có những nguyên do khác nữa. Như cá tính của anh chẳng hạn. Lần đầu, ai có dịp gặp nhà văn Lê Văn Thảo đều cảm thấy có gì đấy hơi khó gần. Anh có vẻ ngoài lành lạnh, phớt đời. Mà trong lối ứng xử với nghề văn, xem ra anh cũng “phớt đời” thật. Đã bám lấy nghề này, thì cứ cặm cụi mà viết đi - viết hết sức mình, hết khả năng, hết cái trời cho. Đắc hay thất, đắc - thất đến đâu đôi khi còn do may mắn bởi cơ trời nữa kia. Có cố cũng chẳng được! Hình như lối ứng xử với nghề của anh nói với ta điều đó. Vậy nên, việc PR với riêng Lê Văn Thảo, dầu chính đáng đến đâu, hợp tình hợp lý tới mức nào, hình như đều không nằm trong dự kiến của anh. Mà vào thời buổi bùng nổ thông tin đi liền với sự xáo trộn giá trị đến kinh người như bấy lâu nay, lối nghĩ ấy xem ra không thật hợp lắm thì phải!

            Với riêng tôi, khi nảy ra ý định viết phê bình về Lê Văn Thảo, lại có thêm một trở ngại khác nữa. Chẳng là, anh nhiều năm đảm trách công việc quản lý của hội. Lại ở những cương vị quan trọng, có “quyền” này “quyền” nọ - như nhiều người nghĩ, trong Hội Nhà văn Trung ương và Hội Nhà văn Thành phố. Thế là thêm một ngáng trở, hay đúng hơn là thêm một “thiệt thòi” mà bất cứ ai ở vào hoàn cảnh như anh đều phải hứng chịu. Có khi chẳng có chuyện đâu, vô tư lắm, cả hai phía, nhưng vẫn cảm thấy e ngại. Nên rất do dự. Rất sợ tai tiếng. Như với anh Hữu Thỉnh. Nhiều lần tôi định viết một bài phê bình dầy dặn về thơ anh. Xứng đáng lắm chứ! Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, cứ thấy vương vướng thế nào ấy, lại thôi. Không phải “vướng” về chuyên môn đâu mà về quan hệ kia. Viết phê bình cũng như viết văn ấy, chỉ là một lối “ứng xử xã hội” thôi mà. Nhiều người nghĩ anh Thỉnh có cảm tình với tôi. Xin không có ý phủ nhận, như không hề phủ nhận sự cảm tình của anh với hàng trăm hội viên giàu thiện chí và nhiệt tâm với hội khác. Tiện đây xin được lưu ý: mãi tới ngày 15/5/2011 vừa rồi, tôi mới được anh Hữu Thỉnh tặng tập thơ Thương lượng với thời gian xuất bản năm 2005. Lần đầu tiên tôi có dịp đọc kỹ càng tập thơ này. Rất nhiều bài, nhiều câu thật sự chấn động tâm trí tôi. Thậm chí có những ý thơ sâu xa được tôi xem là phương châm để hành nghề phê bình suốt đời mình. Như những vần thơ sau trong bài Một lời: Một lời như thể mái chéo/ Khi gãy cán đã bao người cập bến// Một lời như thể lưỡi cưa/ Khi nghĩ lại bao thân cây đã đổ. Tôi tự nhủ với lòng mình là hãy gầy dựng sự nghiệp phê bình trên lời của mái chèo, chứ đừng theo lời của lưỡi cưa. Thế đấy, thơ Hữu Thỉnh có sức bao quát lớn lắm. Tôi đã thổ lộ điều này với nhiều người, trừ anh Hữu Thỉnh. Vậy nên, đôi khi, tôi cứ hay vân vi với ý nghĩ rằng, hóa ra giữ cương vị cao trong hội, như anh Thỉnh hay anh Thảo cũng có nhiều cái khổ. Mà khổ nhất là khi muốn bộc lộ tình cảm tự nhiên như một người bình thường cũng phải so đi tính lại! Tội thật. Và, ở một góc độ khác, cái “khổ” ấy lại gây hiệu ứng giây chuyền tới cái kiếp phê bình gieo neo của chúng tôi.

            Nghĩ đi thì thế, nhưng nếu nghĩ lại thì lẽ nào cứ để cho những hệ lụy oái oăm tầm thường của cuộc đời kia chi phối mãi. Ta là nhà văn cơ mà, phải có dũng khí chứ! Không vượt thoát khỏi những mối dây rợ nghề nghiệp thì làm sao có cam đảm để đụng chạm tới những hệ lụy nhân sinh khác, thường oái oắm gấp nhiều lần hơn thế! Vậy nên tôi quyết định chọn bàn về văn nghiệp của Lê Văn Thảo trong cuộc gặp gỡ nhiều ý nghĩa này. Giữa lúc, như nhiều người đã biết, trên diễn đàn mạng trong nhiều ngày qua đang cồn cào dư luận chung quanh Giải thưởng Nhà nước và Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật. Lại thêm một nỗi niềm khác ập đến thử thách tôi. Chẳng phải, trong danh sách đề cử giải thưởng cao nhất đợt này có tên Lê Văn Thảo là gì! Xin được nói ngay, tôi không nằm trong hội đồng xét giải ở bất cứ cấp nào cả. Là một nhà phê bình, tôi có quyền đưa ra những nhận xét của bản thân theo bổn phận xã hội và trách nhiệm nghề nghiệp của mình. Lắng nghe hay phản đối là thuộc về dư luận. Cho nên, cho tôi được tự do giãi bày thành thực những đánh giá của mình, và xin hoàn toàn lấy tư cách cá nhân để đảm bảo sự đánh giá đó. Cho phù hợp và hữu ích hơn, tôi chọn “điểm nhìn trần thuật” là chỗ đứng của một cây bút văn xuôi Đồng bằng Sông Cửu Long.  Chỉ là để dễ thổ lộ thôi mà!

Do những người tham dự hôm nay đều quan tâm và am tường văn chương, nên tôi xin có đôi dòng chú giải về cái gọi là “điểm nhìn trần thuật” vừa nêu ra. Trong tay tôi có một văn bản của Nguyễn Giáng Hương, hiện là nghiên cứu sinh ở một Trường Đại học ở Paris, được nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân chuyển cho đọc mang tựa đề: “Ethos” hay hình ảnh bản thân: từ lý thuyết hùng biện đến phân tích diễn ngôn. Bài viết đưa ra nhiều ý kiến sâu sắc của Oswald Ducrot - một học giả theo trường phái lý thuyết Ngữ nghĩa - ngữ dụng học. Ông phân biệt ba cấp độ ngôi phát trong diễn ngôn: Một là, chủ thể nói (trong tương quan với người nghe) là ngôi phát ngôn tồn tại “bên ngoài” lời nói, khác với ngôi phát được vận hành bởi bản thân sự phát ngôn. Hai là, người xuất ngôn (trong quan hệ với người tiếp ngôn) là người chịu trách nhiệm về hành vi ngôn ngữ. Người xuất ngôn lại được chia thành hai cấp độ: (1) Người xuất ngôn với tư cách là chính mình, hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự xuất ngôn; (2) Người xuất ngôn với tư cách là “tồn tại thế giới” được nói tới trong phát ngôn, thường được chỉ định bằng đại từ ngôi thứ nhất. Và ba là, chủ thể phát ngôn (tương ứng với đối tượng tiếp nhận) để chỉ “ngôi phát ngôn mà thông qua điểm nhìn của nó các sự kiện được thuật lại”. Người xuất ngôn có thể đưa ra một hay nhiều chủ thể phát ngôn nhằm nêu lên các điểm nhìn được thể hiện trong diễn ngôn. Để minh họa cho sự khác nhau giữa ba cấp độ chủ thể nói, người xuất ngôn, và chủ thể phát ngôn, O. Ducrot lấy ví dụ ở tiểu thuyết. Trong đó chủ thể nói ứng với “tác giả” hay “người sản xuất tồn tại thực”, người xuất ngôn với “người kể chuyện”, và chủ thể phát ngôn với “trung tâm tiêu điểm”. Đặc biệt, khi bàn về sự khác nhau giữa người xuất ngôn và chủ thể phát ngôn, ông có tham chiếu sự phân biệt của G. Genette giữa người kể chuyện là “người nói” còn trung tâm tiêu điểm là “người nhìn” liên quan tới “điểm nhìn trần thuật” tôi nói tới ở trên.

Xin nhắc lại, tôi tự coi mình là một cây bút văn xuôi của vùng đất chúng ta để nhìn nhận văn nghiệp của Lê Văn Thảo qua tiểu thuyết Cơn giông. Lý do nào khiến tôi chủ động chọn “điểm nhìn trần thuật” này? Cũng chẳng có gì là cao siêu khó hiểu cả. Vì tôi nghĩ đã là một nhà văn, cố nhiên, ta phải đọc, phải học nhiều thứ thường được kết tinh trong những tác phẩm văn chương cổ điển của dân tộc và nhân loại. Không đâu là giới hạn cho cái sự đọc, sự học ấy, và cũng không bao giờ thỏa mãn ta được cả. Nhưng theo thói thường, người đời hay rơi vào xu hướng trọng xa hơn gần, trọng thời trước hơn thời nay, trọng ngoài hơn trong. Kinh nghiệm nghề nghiệp lại dạy tôi những bài học khác thế. Bởi vậy, tôi nghĩ, là một cây bút Đồng bằng hẳn nhiên phải đọc kỹ càng các nhà văn Nam Bộ thuộc thế hệ khai thiên phá thạch như Lê Hoằng Mưu, Phạm Minh Kiên, Hồ Biểu Chánh…, hay gần hơn là các nhà văn đàn anh như Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Trang Thế Hy, Sơn Nam… Và cần luôn có Lê Văn Thảo cùng tiểu thuyết Cơn giông bên cạnh mình. Tại sao?

Trước hết xin được lưu ý: Cơn giông chỉ là một tác phẩm nằm trong khối lượng sáng tác đồ sộ gồm 13 tập truyện ngắn và 5 tiểu thuyết của Lê Văn Thảo. Thật đáng khâm phục cái công sức lao động nghệ thuật đến như vắt kiệt sức mình trên trang giấy, hầu như rất ít khi ngưng nghỉ của anh. Nhiều người biết anh sinh vào năm 1939, cùng tuổi Mão, nhưng hơn tôi tròn một giáp. Có thể coi anh cùng thế hệ với những nhà văn Nam Bộ tên tuổi quen thuộc khác. Nhưng thử hỏi liệu có mấy người miệt mài, cần mẫn sáng tác liên tục cho tới nay được như anh? Lại vô cùng nghiêm cẩn. Còn nhớ vài năm trước khi chọn lựa những tác phẩm đưa vào tuyển, Lê Văn Thảo vẫn dành nhiều thời giờ vốn ít ỏi của mình để sửa đi sửa lại thật kỹ lưỡng kèm theo lời ghi chú thật cẩn trọng: “Đây là bản được tác giả chỉnh sửa lần cuối”. Anh muốn bạn đọc đương thời và mai sau có trong tay những văn bản được xem là hoàn thiện hoàn mỹ nhất trong khả năng có thể của mình. Nên nhớ, anh đã bước vào cái tuổi “xưa nay hiếm”, thì giờ vật chất ngày càng rút ngắn, sức khỏe trần tục cũng dần cạn kiệt. Có thể hỏi mấy ai làm được như anh đây? Chắc nhiều người sẽ vặn lại: nhưng, thưa nhà phê bình, cái quyết định trong nghiệp văn đâu phải ở số lượng? Không ít tên tuổi sáng danh trong lịch sử văn chương của dân tộc và nhân loại để lại nào có nhiều tác phẩm, nhưng toàn là những thứ mãi mãi đáng đọc, đáng ngưỡng mộ cả, sao nhà phê bình không nhớ? Điều ấy, những người trong nghề như chúng ta có ai không biết, không thấm. Nhưng hãy thử nhìn từ một giác độ khác xem sao. Nên tìm hiểu xem các nhà văn bậc thấy ấy lao động nghề nghiệp ra sao? Thường hết mình cho sáng tạo, đến từng giây từng phút. Với họ, nghệ thuật, văn chương là tất cả. Cuộc đời họ, dẫu phong phú giàu có đến đâu, cũng chỉ là phương tiện phục vụ cho mục đích trước sau như một ấy mà thôi. Có nhà văn bậc thầy viết nhiều nhưng vô cùng thận trọng khi công bố. Còn nếu không viết nhiều thì không ai trong số họ lại không đi nhiều, đọc nhiều, nhất là nghĩ nhiều, buồn vui, sướng khổ nhiều cùng đồng loại. Nói gọn lại là họ sống nhiều và tích lũy nhiều. Không có thành công nào đến một cách dễ dàng, dễ dãi mà lại có thể sống lâu, sống mãi với thời gian được đâu. Ai mà nghĩ khác thì chỉ xây trong đầu óc mình những ảo mộng, không hơn không kém.

Tôi bộc bạch điều này ở giữa miền đất phì nhiêu vào bậc nhất so với bất cứ nơi nào trên thế giới. Vâng, không chỉ giới hạn ở nước ta thôi đâu. Quả là thiên nhiên trù phú đã rất mực hào phóng đối với người Đồng bằng Sông Cửu Long. Trước những ưu thế ấy, rất dễ nảy sinh ra tâm lý ỷ lại. Đầu tiên là trong kinh tế. Số người “làm chơi ăn thật” xem ra không ít. Thì đấy: cá tôm ở sông rạch chằng chịt, lúa má ở ngoài đồng bạt ngàn, cây trái ở miệt vườn hút mắt… Mùa nào thức nấy. Cứ thế mà sống, sung sướng và no đủ. Cần gì phải lo nghĩ nhiều cho mệt xác. Tâm lý ấy dễ tràn sang cả văn hóa, rồi văn chương. Từ đó, dễ tạo nên những cây bút “tài tử”, học theo cách “làm chơi ăn thật” trong kinh tế. Nghiệp văn vốn cay cực, với họ, cứ như số phận những cây lộc bình trôi đi một cách êm đềm trên sông Tiền sông Hậu vậy… Ôi, mấy ai biết được Cơn giông đang chờ ta ở phía trước. Nó sẽ ập xuống bất cứ lúc nào. Liệu có đủ sức chống đỡ với quy luật khắc nghiệt của tạo hóa? Bởi vậy, vào năm 2008, khi về thăm bạn hữu ở Bến Tre, gặp cặp vợ chồng văn sỹ nổi tiếng Tùng - Điệp, tôi đã trào nước mắt khi cầm trên tay tiểu thuyết Đêm không dài của nữ nhà văn Phạm Thị Ngọc Điệp. Hôm ấy có nhà thơ Kim Ba trong Ban lãnh đạo Hội Văn nghệ đi cùng. Tôi nhớ Kim Ba vui vẻ nói: “Đây là tiểu thuyết đầu tiên của một cây bút nữ, nên Hội quyết định tài trợ gần như toàn bộ khâu in ấn”. Tôi cười vui nhưng chợt thoáng buồn khi nghĩ tới những nhà tiểu thuyết “lực điền” như Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Hiếu ở Hà Nội, hay Nguyễn Khắc Phục, Nguyễn Quang Hà, Nguyễn Khắc Phê ở miền Trung, hoặc gần hơn như Khôi Vũ, Nguyễn Đức Thiện ở Đông Nam Bộ. Lại nhớ đến trường hợp nhà văn Nguyễn Trọng Tín. Giữa cánh đồng văn chương miền Tây, anh nổi lên từ khá sớm. Trước hết là thơ. Văn xuôi của anh cũng khá ấn tượng, nhất là tiểu thuyết. Cuốn Bè trầm của Nguyễn Trọng Tín ra đời vào năm 1988 đã không trầm đi, thậm chí còn dậy sóng đúng vào lúc văn chương nước nhà bước vào thời kỳ Đổi mới. Nhưng đã lâu rồi tôi không còn được may mắn đọc anh nữa. Nghe đâu anh chuyển sang làm báo. Cũng phải thôi! Thời buổi viết văn khốn khó mà. Có điều, cứ thấy tiêng tiếc thế nào ấy. Ai đó nói rằng, văn chương ở trên đời, người đến thì nhiều, nhưng người ở lại, cho thật xứng đáng ấy, nào có bao lăm! Nhưng, thiết nghĩ, đã cầm thẻ hội viên thì nên tự đặt mình trong số những người “ở lại” một cách “xứng đáng” kia. Cần phân biệt những cái thiết yếu, trọng yếu và thứ yếu ở đời. Có thể trong một lúc nào đó, văn chương không phải là cái thiết yếu, như phải dạy học hay làm báo chủ yếu để mưu sinh chẳng hạn, nhưng suốt cuộc đời của một nhà văn, văn chương nhất thiết phải luôn là cái trọng yếu, tuyệt nhiên không thể là cái thứ yếu…

Cũng xin được lưu ý thêm Cơn giông là một cuốn tiểu thuyết. Trong văn chương, thể loại không bao giờ quyết định tới giá trị cao thấp của tác phẩm cả. Không có chuyện sắp xếp trên dưới, hơn thua theo thể loại là vì thế. Tuy nhiên, mỗi thể, mỗi loại bao giờ cũng có ưu thế riêng làm nên vị thế không thể thay thế được của chúng trong đời sống văn chương. Tất thảy là nhằm hướng tới việc thể hiện thật nổi bật và cuốn hút đời sống và con người của một vùng đất, một dân tộc trong lịch sử và trong hiện tại một cách toàn diện nhất. Chỉ cần đặt ra một câu hỏi này: Bộ mặt văn chương Đồng bằng Sông Cửu Long sẽ ra sao nếu chỉ có thơ, hay nói riêng trong văn xuôi nếu chỉ có truyện ngắn? Rõ ràng tiểu thuyết hơn hẳn các thể loại khác ở tầm bao quát rộng đi liền với sức khám phá sâu đời sống hiện thực với những bức tranh vừa hoành tráng nhất lại vừa chi tiết, cụ thể nhất. Với một cây bút văn xuôi, viết tiểu thuyết bao giờ cũng là một thử thách về nhiều phương diện: vốn sống, tầm tư tưởng, tri thức, sức vóc, thời giờ… Chỉ nói về công sức bỏ ra để viết một cuốn tiểu thuyết, có nhà văn xoviet trước đây đã hình dung thế này: viết 3 tháng trời hiển nhiên 3 tháng đã trôi qua trong cuộc đời người viết. Nhưng ở đây không thể tính đếm một cách giản đơn như vậy: viết 3 tháng có nghĩa là 9 tháng đã trôi đi trong cuộc đời anh…; viết 3 năm nghĩa là 9 năm đã trôi qua trong cuộc đời anh… Thì giờ phải tính theo cấp số nhân. Có chấp nhận không? Có dám đánh đổi không? Hãy chọn lựa đi!

Bây giờ, tôi xin điểm nhanh một cách sơ lược những cây bút tiểu thuyết của Vùng Đồng bằng theo trí nhớ và tư liệu có được của mình. Về thế hệ chủ yếu trưởng thành sau 1975, nhà văn Nguyễn Thanh có Đồng sâu một thuở (2008); nhà văn Anh Động có Ven rừng tràm (1978), Tiếng trống Sam phô (1986), Rừng tràm lặng lẽ (1988), Dòng sông lấp lánh (1990); nhà văn Hào Vũ có Nữ sinh biệt động (1987), Ly dị (1989), Mưa lạnh (1992), mới nhất là Xa xăm (2010); nhà văn Nguyễn Linh có Rừng đất cháy (1986), Rặng mù u bên sông (1989); nhà văn Nguyễn Khai Phong có Chuyện tình bên Tô Châu (1990), Chuyện như tiểu thuyết (1997). Thế hệ sau một chút, viết tiểu thuyết nhiều nhất, khỏe nhất có lẽ là nhà văn Mai Bửu Minh với trên 10 tập truyện dài, tiểu thuyết, sớm nhất là Vầng trăng thơ (1992), và gần đây nhất là Hạt bụi đời  Vua nói khoác (2006). Sau đó phải kể tới nữ nhà văn Anh Đào với Rong biển (1995), Ước gì được nấy (2003), Một bước lên trời (3 tập - 2004), và Lá bài số mệnh (2004). Nữ nhà văn khác là Nguyễn Thị Diệp Mai có Ân tình theo gió cuốn (1992), Trả hoa hồng cho đất (2005), Đường về Hà Tiên (2005), Hoa Trân của dòng họ (2008). Nhà văn Hồ Tĩnh tâm có Ông Bảy Ngật (2009); Nguyễn Lập Em có Ở lại đồi Tức Dụp (1995); Phạm Thị Ngọc Điệp có Đêm không dài  (208). Đại thể là thế! Nếu tôi có bỏ sót thì chắc không thật đáng kể. Như thế, rất nhiều nhà văn xuôi tiêu biểu ở miền đất chúng ta như Dạ Ngân, Vũ Hồng, Ngô Khắc Tài, Phạm Trung Khâu, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyên Tùng, Lê Đình Trường, Lương Hiệu Vui, Lương Minh Hinh, Ngọc Phượng, Phạm Thường Gia, Đoàn Văn Đạt, Đặng Tấn Đức, Trần Thôi… chỉ chuyên về truyện ngắn. Sự thống kê có chiều máy móc ấy chắc cũng gợi lên đôi điều đáng suy nghĩ nào đó chăng! Nghĩ vậy, mới hay tấm gương lao động nghệ thuật hết mình của nhà văn Lê Văn Thảo rất đáng trình ra đây cùng soi chung. 

Bây giờ tôi xin chuyển sang bàn về chất lượng của Cơn giông. Quả thực, nếu nói về kỹ thuật viết tiểu thuyết thì tác phẩm này không có gì đột xuất cả. Thậm chí còn là bước lùi so với thủ pháp đồng hiện khá mới mẻ của Một ngày và một đời trước đó. Khi được gợi hỏi “Những tính cách ấy lại được đặt trên bối cảnh của sông rạch, rừng đước, rừng mắm Cà Mau…”, Lê Văn Thảo lập tức trả lời: “Tôi không cố ý chọn bối cảnh để tạo dựng nhân vật của mình đâu”. Nói là thế, nhưng đọc tiếp đoạn phân trần sau lại nhận ra một điều gì không giống thế: “Nói thế nào đây nhỉ? Đất ấy sinh ra người ấy mà! Nếu mảnh đất phía Nam mới có lịch sử hơn ba trăm năm khai thiên lập địa thì Cà Mau là vùng đất tiêu biểu nhất cho Nam Bộ. Vùng Năm Căn cho tới hôm nay hầu như vẫn chưa có đường bộ, biển bồi đắp phù sa tới đâu người dân tràn tới đó, mang theo tiếng chó sủa, tiếng gà gáy trưa ... Vì thế bản tính là thích thiên di, không thích cái gì đã trở thành quen, thành cũ”. Tác giả vẫn diễn tả quá trình hình thành và diễn biến của tính cách nhân vật trong và theo bối cảnh lịch sử - xã hội thôi. Nghĩa là cuốn tiểu thuyết vẫn tuân thủ một cách nghiêm ngặt thủ pháp điển hình hóa của chủ nghĩa hiện thực trong xây dựng nhân vật. Rất quen thuộc, không có gì hoàn toàn mới lạ ở đây cả. Cách thức khái quát hóa của tính cách cũng vậy. Nhà văn thổ lộ: “Nhân vật trong các truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết của tôi không bao giờ có nguyên mẫu. Hoặc nếu có nguyên mẫu thì đó là hàng trăm, hàng ngàn con người tôi đã từng gặp, từng sống, từng chia ngọt sẻ bùi”. Thấy rất gần gũi với thứ lý lẽ thấm nhuần thực tế sáng tác của những nhà văn hiện thực kinh điển như L. Tônstôi, H. Balzac, A. Tsêkhôv... Thế nhưng, nhà văn Tô Hoàng lại đưa ra sự đánh giá chắc như đinh đóng cột rằng: “Cơn giông khai lối đi riêng của mình. Và lối đi ấy đầy vẫy gọi, đầy hấp dụ!”. Chính Lê Văn Thảo cũng tự ý thức: “Tôi muốn viết một cách khác, mới mẻ hơn, lạ hơn, tránh thuyết giáo hơn - chí ít là so với những cuốn truyện trước của tôi”. Về cơ bản, tôi cũng tán thành với những ý kiến đó, nhưng theo một ý nghĩa khác. Vậy sự thành công của Cơn giông nằm ở chỗ nào?

Có thể nhận ra ngay ở chất “đồng bằng Nam Bộ” của cuốn truyện. Hiện lên sinh động trong tâm tưởng của người đọc là những gì? Nào là những kinh rạnh, rừng đước, rừng mắm; nào là những mái nhà đơn sơ nơi dân cư thưa thớt; nào là cảnh sông nước lúc nổi lúc ròng cả khi sáng, trưa lẫn khi chiều, tối; nào là quang cảnh ghe thuyền đậu san sát ở nơi ủy ban xã làm việc; nào là những cảnh buôn bán, quán xá, nhậu nhẹt trên và kề sông nước… Rồi cảnh lao động quen thuộc nơi rừng đước, nhất là những cơn giông tạo ra sóng to gió cả khiến chỉ trong chớp mắt tối đất tối trời, cuốn phăng, nhấn chìm tất cả…  Đặc biệt ta bắt gặp những con người trực tính, ăn sóng nói gió như Bằng; nay đây mai đó nhưng hết lòng vì cộng đồng như Sáu Thiên; ngang tàng, táo tợm như Long Cụt; tội nghiệp, lì lợm mà thương tâm như Thủy… Nhớ nhất có lẽ là ông già Trăm tuổi. Ông xuất hiện đâu vài ba lần, chưa đến chục trang sách, nhưng vô cùng ám ảnh. Ông sống hầu như cô độc, không người thân thích, nhưng vì tấm lòng luôn rộng mở với thiên nhiên và với con người nên hầu như được tất cả mọi người thương yêu, quý trọng. Ông là biểu trưng của lòng bao dung, hiện thân sống động của con người và cuộc sống ở một vùng đất mới có lịch sử lạ lùng này. Tôi hiểu vì lẽ gì mà nhà văn lại khao khát thể hiện những cảnh và người có một không hai nơi tận cùng phía Nam của đất nước đến thế: “Đáng tiếc rằng văn chương, phim ảnh của nước mình khai phá chưa nhiều mảnh đất và con người của xứ sở rất lạ này. Tôi chỉ muốn miêu tả những tính cách lạ nẩy sinh trong những hoàn cảnh lạ”. Không dễ thâm nhập để tạo dựng nên một bức tranh đời sống sinh động đặc sắc đến mức hiếm có ấy đâu. Lê Văn Thảo nhắc ta: “Trong chiến tranh chống Mỹ, dù không mặc áo lính, tôi như thuộc quân số của Trung đoàn miền Tây của Sư đoàn 9. Trung đoàn này rặt lính nông dân quê ở miền Tây Nam bộ, chuyên tác chiến ở vùng sông rạch”. Và anh liên hệ tới nhân vật Bằng: “Ngay từ thuở đó, dường như đã hình thành trong tôi những nét cơ bản thuộc tính cách của Bằng. Dĩ nhiên Bằng không trải qua chiến tranh. Nhưng khát khao vẫy vùng, ưa tự do, tính cách ngang tàng, bất cần; lòng thương người, sự thô nhám, ăn sóng nói gió ... - nghĩa là những gì tiêu biểu cho bản chất của những người “dân ấp,  dân lân” đi khai khẩn đất hoang ở Nam bộ - nổi bật ở những người lính Miền Tây cũng như ở nhân vật Bằng”. Tôi muốn nói, các nhà văn Đồng bằng Sông Cửu Long nên ý thức sâu sắc điều này: ta không khám phá thực tế ấy thì không một ai có thể làm thay ta đâu! Các nhà văn ở những vùng đất khác nếu có viết về Nam Bộ thì sẽ viết khác chúng ta, dẫu có thành công thì vẫn khó đem lại những trang viết thấm đẫm sắc thái của vùng đất đặc sắc này như chúng ta đã và sẽ làm!

Cố nhiên, cái chính yếu làm nên thành công của Cơn giông không chỉ có thế. Tôi muốn đặc biệt đề cao tấm lòng của nhà văn khi thể hiện những số phận thường thiệt thòi, thậm chí bi thảm trong hàng loạt những nhân vật “nhỏ bé” của tác phẩm. Đây là một việc làm đầy ý thức của nhà văn. Lê Văn Thảo chân thành tâm sự: “Trong truyện ngắn và tiểu thuyết của tôi số đông nhân vật thường là những con người bé nhỏ, bị hắt hủi, gặp nhiều bất hạnh ở đời. Và đề tài tôi hay khai thác bao giờ cũng là cái tâm, cái thiện ẩn náu phía trong mỗi con người không may ấy. Tôi thích viết và tâm niệm phải viết như thế…”. Có thể nói, không một nhân vật nào, dầu đáng khinh, đáng ghét đến đâu, dầu cuộc sống nhiều khi bị đẩy tới đáy cùng của thân phận, mà lại không được trái tim ấm áp nơi nhà văn cảm thông, chia sẻ. Vậy nên, các nhân vật chính hay phụ của tác phẩm dù có trải qua bao cay đắng, trầm luân vẫn lóe sáng bao điều thiện tâm, chân quý. Tôi không quên nhân xét sau của nhà văn Tô Hoàng: “Nhiều bạn đọc, đặc biệt là các bạn đọc trẻ,  đã nói với tôi đọc đến trang cuối cuốn Cơn giông của anh họ muốn òa khóc. Không phải khóc vì xót thương số phận chìm nổi của các nhân vật đâu. Họ khóc vì giữa cuộc sống cái ác hình như đang được tháo cũi sổ lồng như hiện nay, tại sao tấm lòng nhà văn vẫn ấm áp, tin yêu đến thế để mà còn nhận ra, còn rung động và cổ súy cho lòng nhân ái, điều thiện căn?”. Kết thúc cuốn tiểu thuyết ấy như thế nào? Nhờ sự chăm lo của mọi người, đứa con gái mù của Long Cụt đã được mổ mắt; Thủy và Bằng giữ vai trò là cha mẹ nuôi; Thủy Tiên - con gái của Bằng đã gọi nó là “em con”; Bằng lo sửa sang lại con thuyền để làm ăn nhưng trước hết là phải tìm cho bằng được ông Sáu Thiên, cố rủ ông cùng đi thăm khắp các sông rạch đây đó “cho vui”… Vâng, cuộc sống sẽ được tiếp tục, ngày một an lành, sáng sủa hơn. Như mong mọi da diết của hết thảy chúng ta. Viết tới đây, tôi cứ tự hỏi: vì lẽ gì mà trải qua biết bao buồn vui, sướng khổ của cuộc đời dài lâu, chắc cay đắng nhiều hơn ngọt bùi, mà nhà văn Lê Văn Thảo vẫn giữ được cái nhìn ấy cùng tấm lòng ấy? Cần xem đó là một trong những bài học quý giá nhất ở một nhà văn. Nhất là khi những các ác cái xấu, ở nơi này nơi khác vẫn đang ngang nhiên tồn tại, thách thức lương tâm, lương tri của con người. Là một nhà văn, chúng ta không thể dửng dưng, vô cảm. Tự nhiên vang lên trong tâm trí tôi câu nói khẳng khái của Nguyễn Minh Châu: Ông trời sinh ra nhà văn là để nói to lên nỗi thống khổ của con người! Nhưng lời “nói to” ấy, dẫu quyết liệt đến đâu, vẫn cần hết sức điềm tĩnh và điềm đạm nhờ được nương tựa vào niềm tin yêu gần như tuyệt đối nơi con người. Hình như những ai càng trải đời, trải nghề lại càng dễ có cái tâm thế thanh thản, tự tin, tự tại ấy thì phải!

Những điều tôi ấp ủ khi đọc Cơn giông của Lê Văn Thảo cơ bản là vậy. Trước khi ngừng lời, tôi mong mỏi rằng, những cuộc hội nghị, hội thảo như của chúng ta sẽ được tổ chức nhiều hơn, nhất là được sự quan tâm rộng rãi hơn nữa của xã hội. Vì văn chương không bao giờ chỉ là công việc của người làm văn chương. Xã hội nào cũng thế mà xã hội ta càng thế! Để càng ngày càng ít đi những sự ngộ nhận do sự thờ ơ của cả những người được giao cho công việc chuyên nghiên cứu và truyền bá các giá trị văn chương. Tôi muốn trở lại câu chuyện ban đầu. Kèm theo sơ thảo văn bản luận án tiến sỹ ngữ văn với đề tài Khảo sát đặc điểm truyện ngắn Đồng bằng Sông Cửu Long từ 1975 đến nay là các công trình đã công bố của tác giả. Tôi có đọc được những dòng chữ đáng buồn sau trong tập sách dầy dặn đến mức đồ sộ nhan đề Việt Nam 1954-2005 do Nxb Giáo dục ấn hành năm 2005: “Trong 30 năm qua, ở vùng ĐBSCL, ngoài những nhà văn đã nổi danh trước năm 1975 như Sơn Nam, Trang Thế Hy, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức…, còn có một đội ngũ hùng hậu những cây bút trẻ giàu tâm huyết và tài năng như Anh Động, Dạ Ngân, Nguyễn Thị Thanh Huệ, Nguyễn Thanh, Lê Đình Bích, Hồ Tĩnh Tâm…” (tr.702-703). Tên bài viết là Những đóng góp nổi bật của truyện ngắn Đồng bằng Sông Cửu Long từ sau năm 1975.  Như thế liệu có đáng ngạc nhiên không, thưa các anh, chị và các bạn.

                                                                                                                                        Đà lạt, 26/10/2011