Sự ra đi của một nhà Hán học đáng kính

    Cô giáo Phạm Thị Hảo, nhà Hán học uyên bác, phu nhân của giáo sư Trần Thanh Đạm mới qua đời vào lúc 14 giờ 50 phút ngày mồng 3 tháng 11 năm 2012, hưởng thọ 79 tuổi. Với tất cả những ai quan tâm tới ngành Trung Quốc học, rộng ra là lĩnh vực Đông phương học, sự ra đi của Cô là một tổn thất to lớn, khó có gì bù đắp nổi. Nhiều người hẳn còn nhớ tới những công trình văn học, văn chương thật quý giá đã được xuất bản mang tên Cô, như Kinh thi tinh tuyển (1999), Truyện đọc song ngữ Hoa Việt (2000), Dã thảo - Tản văn Lỗ Tấn (2006), Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp (dịch chung với giáo sư Trần Thanh Đạm - 2007), Khái niệm lý luận văn học Trung Quốc (2008), Độc chiếm hoa khôi - tiểu thuyết cổ Trung Hoa (2011)… Cô còn là tác giả của nhiều giáo trình Hán ngữ, Hán học thiết thực dành cho sinh viên đại học, như: Giáo trình văn học Trung Quốc và tài liệu tham khảo (Tủ sách Đại học Sư phạm TPHCM), Văn học Trung Quốc giản yếu (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TPHCM), Ngữ pháp cơ bản tiếng Hán hiện đại (Tủ sách Đại học Tổng hợp TPHCM) và Giáo trình văn học Trung Quốc bằng Trung văn dùng dạy cho sinh viên ngành Trung Quốc học. Đặc biệt, nhiều người đang mong chờ những công trình đồ sộ đã được Cô kịp hoàn thiện sẽ ra đời nay mai, như Kinh thi toàn tập, Thơ Đỗ Phủ toàn tập, Thi phẩm của Chung Vinh, Tam ngôn - Nhị phách,… Chợt nhớ tới câu thơ: Bạc mệnh hữu duyên lưu giản tịch, nghĩa là: Mệnh bạc nhưng có duyên nên được lưu lại nơi sách trong thi phẩm viết bằng chữ Hán nổi tiếng Điệp tử thư trung của Nguyễn Du (1). Vâng, giữa những ngày buồn đau này, càng nghĩ về sự nghiệp văn chương, học thuật thầm lặng mà mang tầm vóc đáng kể của Cô Phạm Thị Hảo, thì lạ thay, tôi lại càng vững tin vào cái lẽ đời công bằng, công minh hiển hiện trong những vần thơ bất hủ kia…

  Thành thực mà nói, tuy không được thọ giáo trực tiếp thầy Trần Thanh Đạm, nhưng với tôi, giáo sư bao giờ cũng là một người thầy trong ý nghĩa trọn vẹn nhất, linh thiêng nhất của danh xưng này. Và, đã từ lâu rồi, có nhẽ phải đến gần 25 năm nay, thầy trò chúng tôi đã trở nên thật sự gần gũi, một cách rất tự nhiên, trong văn mà nhiều hơn là trong đời. Tôi ở Đà Lạt, bảo là thật xa thành phố nơi thầy cô sinh sống thì không phải, mà bảo là thật gần cũng không đúng. Thi thoảng, khi có dịp về Sài Gòn, hễ thu xếp được thời giờ là tôi đều đến thăm thầy cô. Trước đây ở tầng trên cư xá Nguyễn Văn Thủ - Quận 1, và gần đây cũng là cư xá nhưng ở tầng trệt, thuận tiện hơn nhiều, nằm trên đường Chu Văn An - Quận Bình Thạnh. Thường thì lâu lâu tôi lại điện thoại tới thầy cô, nhằm hỏi thăm tình hình sức khoẻ là chính. Tuổi của thầy cô đều mấp mé bát tuần cả rồi! Với các bậc cao niên như thế, ai mà nói trước được điều gì. Thế nhưng tôi biết rất rõ, khi đã vượt qua cái tuổi “cổ lai hy” gần thập niên rồi, nhưng cả thầy và cô đều còn hết sức đam mê với công việc chữ nghĩa. Hàng ngày, thậm chí hàng giờ. Mỗi người một kiểu, không ai chịu kém cạnh ai cả. Hết đọc lại dịch. Và cả phê bình, khảo cứu nữa. Toàn là những công việc nặng tâm tổn trí, tiêu hao không ít thì giờ và sức lực. Vậy nên, khi có dịp thăm hỏi trực tiếp hay gián tiếp thầy cô, tôi không bao giờ quên nói thành lời cái ý tưởng lặp đi lặp lại không biết bao nhiêu lần này: “Cả thầy và cô đều già rồi, những gì cần làm thì đã làm hết rồi, xứng với một đời người lắm rồi. Bây giờ công việc chủ yếu, mà không, phải nói là duy nhất của thầy cô là nghỉ ngơi. Chỉ nghỉ ngơi thôi! Cho mình được khuây khoả, và cho con cháu, người thân được an lòng”. Tuổi già như chuối chín cây ấy mà! Tuy đồng thời tôi cũng biết, nói là nói thế thôi, chứ thầy cô là những người tham công tiếc việc lắm cơ. Bao nhiêu điều chiêm nghiệm suốt một đời về nghề và nghiệp, toàn những thứ được xem là hệ trọng và quan thiết, rất muốn được chia sẻ rộng rãi với người khác mà nào đã kịp thể hiện ra đâu! Đúng là:Dâm thư do thắng vị hoa mang (Mê sách còn hơn bận lòng vì hoa). Nghĩ vậy nên tôi chỉ còn biết yên lặng. Rồi những gì đau buồn nhất đã xảy ra… Cô đã lặng lẽ ra đi vào đầu tháng 11 này! Ôi, tàn hồn vô lệ khốc văn chương (Hồn tàn không nước mắt để khóc văn chương).

Bài Điệp tử thư trung của thi hào Nguyễn Du còn có một câu nữa, cứ hay trở đi trở lại trong tâm trí tôi. Câu thơ ấy là: Văn đạo dã ưng cam nhất tử, có nghĩa: Nghe được đạo lý cũng đành cam một chết. Một ai trong đầu óc có chút ít Hán văn chắc đều nhớ tới lời dạy chí lý của Đức Khổng Tử: Triêu văn đạo, tịch tử khả hỹ (Sớm nghe được đạo lý chiều chết được rồi). Câu thơ trên có lẽ nhắc tới cái ý sâu xa ấy chăng? Bởi thế, ở một giác độ khác, chính từ cuộc đời sáng tạo của những bậc hiền tài, nếu thật nghiêm túc để suy xét, ta có thể rút ra được nhiều bài học thấm thía lắm kia. Để rồi tâm hồn ta trở nên cao đẹp hơn. Và, còn để sự chết không thể là sự kết thúc đơn thuần, hơn thế, nó còn là dịp sinh sôi này nở biến hoá đến khôn cùng. Chính vì lẽ đó mà người đã khuất sẽ mãi còn sống, sống đích thực, sống trọn vẹn trong tâm tưởng của mỗi người chúng ta. Vậy thì từ sự ra đi của nhà nữ Hán học Phạm Thị Hảo, có thể rút ra những bài học gì đây? Tôi thấy có hai điều nổi lên đáng nói nhất.

Một là, vấn đề danh vị và bằng cấp. Như nhiều người quan tâm đều biết, về mặt chính danh, Cô Phạm Thị Hảo không hề có học vị học hàm bậc cao nào. Tuy nhiên, về trình độ học vấn chuyên sâu, Cô hoàn toàn xứng đáng với những hàm vị học thuật cao nhất. Điều này chắc nhiều người dễ đồng tình với tôi. Đã rõ là Cô Phạm Thị Hảo phải tự vươn lên về nhiều phương diện, cả tầm hiểu biết lẫn phương cách tư duy, nhất là việc sử dụng ngoại ngữ như là công cụ chuyên môn hữu hiệu đến độ nhuần nhuyễn hiếm thấy. Chẳng phải ngẫu nhiên mà trong công trình Các nhà Trung Quốc học thế giới do Đại học Quốc gia Đài Loan chủ trì đã trân trọng tôn vinh nhà nghiên cứu Phạm Thị Hảo là một trong 5 nhà Trung Quốc học tiêu biểu nhất của miền Nam Việt Nam cùng với hai giáo sư Bửu Cầm, Nguyễn Khuê và hai nhà nghiên cứu Nguyễn Tôn Nhan, Cao Tự Thanh. Chỉ có thể tìm thấy lời giải thuyết phục trong sự nỗ lực vượt bậc của Cô để có thể bằng thực học, thực tài của mình dâng hiến trọn vẹn cho đời qua ngả đường gian nan ít người chọn lựa là khoa học. Trước mắt tôi hiện có nhiều công trình giàu ý nghĩa của Cô. Lúc này, tôi lần giở từng trang những tập sách gần gũi và bổ ích hơn cả. Chẳng cần phải nói nhiều về tầm vóc học thuật hiển nhiên của cuốn sách Khái niệm lý luận văn học Trung Quốc, nhất là tập sách chuyển dịch và chú giải đồ sộ Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp. Đây là công trình lý luận văn chương tầm cỡ, có hệ thống hoàn chỉnh sớm nhất ở Trung Hoa. Người đời sau xem tác phẩm này của Lưu Hiệp không chỉ là “kỳ thư” (sách lạ), mà còn là “trân thư” (sách quý), nhưng oái oăm thay lại là “nan thư” (sách khó). Tập sách từng thách thức sự hiểu biết của biết bao học giả tên tuổi xưa nay. Để hoàn thành tập sách này, Cô Phạm Thị Hảo có nhận được sự cộng tác tận tình và hiệu quả của phu quân mình - giáo sư Trần Thanh Đạm, nhưng phải nói công sức mà Cô bỏ ra là phần chính. Bởi vì, trong 50 thiên của bộ sách, Cô dịch tới 36 thiên. Lại đảm nhận việc phiên âm chữ Hán và tổng duyệt toàn bộ văn bản nữa. Đấy là chưa nói tới bài viết công phu mang tính tổng thuật “Văn tâm điêu long” trong sự quan tâm của giới nghiên cứu Trung Quốcin ở đầu sách. Để hoàn thành một bài viết như thế, Cô đã phải đọc rất nhiều tài liệu, mà phải là những tài liệu mới nhất, rồi tiến hành các thao tác đối chiếu, phân tích, tổng hợp vô cùng phức tạp và khó khăn. Không có sự kiên trì, tỷ mỉ thì không thể nào làm nổi. Ở đây, tôi xin lưu ý thêm tới một tập sách dịch đặc sắc - cuốn Độc chiếm hoa khôi của Cô. Lúc ký tặng tôi, Cô bảo: “Anh cầm đọc cho vui!”. Cho rằng dẫu là tiểu thuyết cổ Trung Hoa nhưng chỉ là những truyện Tam ngôn của Phùng Mộng Long (1575 - 1646) và Nhị phách của Lăng Mông Sơ (1580 - 1744) có chiều sơ giản xuất hiện vào cuối đời Minh nên tôi cũng nghĩ “đọc cho vui” thật. Nhưng thật bất ngờ khi càng đọc tôi càng phát hiện ra ý nghĩa văn học sử thâm thuý của cuốn sách này. Những người thông thạo lịch sử văn chương Trung Quốc đều biết rằng thể tài tiểu thuyết ở xứ sở này, như nhiều nơi trên thế giới, xuất hiện khá là muộn màng. Mãi tới đời Đường (thế kỷ VII) mới có truyện chí quái, truyền kỳ, chủ yếu là để ghi chép các chuyện lạ về tôn giáo hay dã sử. Sang đời Tống, những chuyện đó được soạn lại, nâng lên một chút thành các “thoại bản”. Rồi cuối đời Tống, những văn nhân dựa theo các “thoại bản” đã có, biên soạn lại, gia công thêm thành một tiểu loại tự sự gọi là “nghĩ thoại bản” (tức mô phỏng theo thoại bản). Hình thức này tiếp tục phát triển ở đời Nguyên. Đến đời Minh, một số văn nhân lại nhuận sắc thêm để biến “nghĩ thoại bản” thành những sáng tạo như những tác phẩm văn xuôi viết bằng bạch thoại sau này. Đã vậy thì hình thái “nghĩ thoại bản” có ý nghĩa nền tảng trong sự chuyển đổi rất then chốt của lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc mà phần nào cũng có nghĩa là lịch sử tiểu thuyết của nhân loại. Trong khi đọc xong tôi mới hay các truyện Tam ngôn  Nhị phách lại là những tác phẩm tiêu biểu nhất cho dạng thức “nghĩ thoại bản” có ý nghĩa đặc sắc như vừa nói. Vậy thì việc Cô Phạm Thị Hảo chọn dịch các tiểu thuyết ấy đâu phải chỉ là vô tình nương theo theo sở thích như không ít dịch giả thời thượng bây giờ. Phải nói, mọi động thái văn chương, văn học của Cô đều thấm nhuần tính học thuật rất cao.  

Hai là, vấn đề khoa học và phụ nữ. Cô Phạm Thị Hảo may mắn được sống ngập tràn trong môi trường trí thức từ khá sớm. Cô sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học. Cô trưởng thành trên các giảng đường đại học bên cạnh người chồng là một nhà văn, nhà nghiên cứu văn chương nổi tiếng. So với nhiều phụ nữ khác, tư tưởng và tâm lý của Cô vì thế được cởi mở hơn hẳn. Tuy nhiên, nói gì thì nói, tinh thần người phụ nữ Á Đông vẫn phải chịu nhiều ràng buộc một cách tự nhiên, và đáng buồn thay, xem ra họ chấp nhận những ràng buộc ấy cũng rất tự nhiên. Như không thể nào khác được. Điều này, đáng tiếc thay, hầu như không có ngoại lệ. Ngoài xã hội đã vậy, trong gia đình càng thế. Là người vợ, Cô Phạm Thị Hảo phải lo toan hầu như tất cả cho người chồng dường lúc nào cũng mang vác những chức phận xã hội hết sức lớn lao và nặng nề. Là người mẹ, Cô phải xuôi ngược đảm đang nhiều thứ cho các con, kể cả sau này khi chúng đã trưởng thành. Để rồi nhiều lúc Cô dường như chỉ biết lấy niềm vui buồn, nỗi sướng khổ của chồng con làm cuộc sống của riêng mình. Thiệt thòi lắm chứ! Trong khi đâu phải Cô không có cuộc sống, hơn thế không có sự nghiệp của mình. Nói tới đây, ký ức đưa tôi trở về hai câu chuyện đời thường có phần riêng tư với ít nhiều day dứt. Chả là vào năm 2003, giáo sư Trần Thanh Đạm và tôi có một dự định lý luận văn chương chung rất cần làm việc với nhau. Tôi chủ động bố trí công việc xuống Sài Gòn để thầy trò cùng trao đổi. Dạo ấy, thầy cô còn ở cư xá Nguyễn Văn Thủ. Căn hộ tập thể tầng 4, trời lại oi nực. Thế mà thầy trò bị cuốn vào công việc, hầu như quên hết mọi chuyện lớn nhỏ khác trên đời. Hết ghi chép, thâu băng lại trao đổi, bàn bạc. Cố gắng để trong vòng một ngày phải cơ bản thống nhất về mặt định hướng. Cô Phạm Thị Hảo ở ngay phòng bên, vừa đọc sách vừa lo cơm nước. Thi thoảng, tôi thấy Cô nói chen vào, không phải để bàn luận về học thuật, chữ nghĩa đâu mà đơn giản là giục hai thầy trò nghỉ giải lao ăn cơm, uống nước để có “sức mà làm việc tiếp”. Có một điều mà giờ đây mỗi lần nhớ lại tôi thấy vô cùng lạ lùng và tiếc nuối là hình như cả thầy lẫn trò không hề mảy may băn khoăn gì cả, cứ như việc Cô phục vụ mình là lẽ thường tình đến mức đương nhiên vậy. Trong khi, ngay lúc đó, chắc chắn rất nhiều dự tưởng văn học đang nảy sinh trong đầu óc của Cô. Và đã chắc gì, công trình mà hai thầy trò chúng tôi đang đeo đuổi lại quan trọng và thiết yếu hơn những dự định học thuật ấy. Chuyện tương tự thứ hai thì xảy ra mới đây thôi, vào đầu năm 2012 này. Nhân tham dự một hội nghị khoa học tổ chức ở thành phố Hồ Chí Minh, tôi quyết định ghé thăm thày cô. Tôi đến khá sớm để có thể bố trí về ăn cơm chỗ người con trai hiện đang làm việc tại Thành phố. Tuy nhiên, do thầy trò lâu ngày gặp nhau, có bao nhiêu điều chất chứa muốn giãi bầy, nên chuyện trò cứ triền miên, tưởng như vô cùng tận. Thời gian trôi đi nhanh quá. Đến khi tôi định ra về, nhìn đồng hồ, thì đã khá muộn. Biết ý, Cô thật lòng vồn vã mời tôi ở lại ăn cơm cùng gia đình. Biết hoàn cảnh già cả neo đơn của thầy cô, tôi thoáng tỏ ra ái ngại. Nhưng lời giải thích của Cô ngay sau đó, rằng đã đến giờ ăn cơm rồi, rằng chợ ngay ngoài kia gần lắm, rằng mọi thứ đã sẵn sàng chỉ chừng mười lăm hai mươi phút là có cơm ngay thôi… có sức thuyết phục kỳ diệu đánh tan mọi sự ngại ngần có thể của tôi. Và rồi thầy trò cứ thế mà tiếp tục tâm sự, hết chuyện xưa đến chuyện nay, cả chuyện nghề nghiệp lẫn chuyện thời thế, dường như cho rằng việc cơm nước bận rộn không tên kia không hề can hệ gì đến mình cả (!?). Ôi! Đến là vô tâm! Thầy thì có thể hiểu và thông cảm được, còn tôi, người học trò quái quỷ của Cô liệu có đáng bị lên án không kia chứ? Nói vậy, để thấy cái thói quen “trọng nam khinh nữ” vẫn tồn tại đây đó một cách dai dẳng, ngay cả ở những người, những nơi tự nhận là có học thức cao trong xã hội hiện đại bây giờ. Để đến lúc này, có dịp nhìn những công trình văn chương, văn học dầy dặn đang nằm trên giá sách mà tác giả của chúng là một nhà nữ Hán học khả kính vừa qua đời, tôi chỉ còn biết tự trách mình trong nỗi ân hận có lẽ là đã quá muộn màng…

Nghĩ đến cuộc đời rất nhiều niềm vui mà không ít nỗi buồn của Cô Phạm Thị Hảo, tôi hay liên tưởng tới giọt phù sa làm nên những đồng bằng phì nhiêu của sông Hồng ở miền Bắc nơi Cô sinh ra và sông Cửu Long ở miền Nam nơi Cô sống những năm cuối đời. Mọi người đều biết rằng một trong những đặc tính quý giá nhất của phù sa là luôn biết dâng hiến hết mình. Im lặng và vô tư. Chừng như không hề mảy may nghĩ tới danh phận của chính mình. Thế nhưng, như một sự đền bù xứng đáng, ấy là khi chứng kiến những mùa màng bội thu ở những cách đồng trù phú nặng trĩu mồ hôi nơi hai đầu của đất nước, người ta không bao giờ không nghĩ tới công lao thầm lặng mà quyết định của những giọt phù sa kia. Chỉ những kẻ vô tâm mới vô tình khước từ! Đó là quy luật của nhân sinh, không thua kém bất cứ quy luật nào khác của tạo hoá. Riêng về phần mình, nếu có lần nào tới thăm căn nhà nhỏ bé mà ấm cúng số 101, H4, Chu Văn An, Quận Bình Thạnh thì câu thơVân song tằng kỷ nhiễm thư hương có nghĩa là Cửa sổ thư phòng đã từng bao lần đượm hương thơm của sách chắc lại có dịp vang lên khắp đó đây. Chỉ có thứ hương thơm không lẫn vào đâu ấy của tri thức gắn với hương thơm vô tận của cõi lòng mới có thể hoà vào vĩnh cửu làm nên mọi thứ vĩnh hằng trong dòng đời luôn trôi chảy bất tận này… Tôi xin thành tâm mà nghĩ vậy!(2)

               …………………………………………………………………………………………………………………………….                                               

(1) Bài Điệp tử thư trung của Nguyễn Du - Nguyễn Du Toàn tập, Nxb. Văn học và Trung tâm Nghiên cứu quốc học, tập 2, H., 1996, tr.183 &184. Tất cả những câu thơ dẫn ra trong bài viết đều được rút ra từ bài thơ này.  

(2) Bài này có sử dụng một số tư liệu từ bài viết Một nhà giáo, một nhà Hán học đã ra đi của PGS.Đoàn Lê Giang đăng trên báo Sài Gòn giải phóng ngày 7-11-2012.

 

 

     

Comments