Phạm trù "Người khác" trong văn học

Xin được bắt đầu từ trải nghiệm văn học của riêng tôi. Cách đây chừng 20 năm, nhân có việc ra Hà Nội, tôi ghé thăm một nữ văn sỹ khá nổi tiếng lúc bấy giờ. Chị ở khu chung cư, trên lầu 4, khá là bất tiện. Dạo ấy, điện thoại di động chưa phổ biến như bây giờ, nên mỗi bận khách đến thăm lại phải đứng ở dưới sân gọi lên. Hai chị em đang trò chuyện vui vẻ thì thấy giọng nói khá to của một người đàn ông ở dưới vọng lên. Tôi ra hành lang nhìn xuống thì nhận ngay ra nhà thơ Lê Đạt. Trước đó vài tháng, tôi có viết bài trao đổi với ông chung quanh vấn đề “chữ bầu lên nhà thơ?” hay “chính tâm hồn nhà thơ bầu lên nhà thơ”? Đón ông ở cửa, tôi chủ động hỏi: “Anh Lê Đạt ơi! Anh có thấy phật ý khi đọc bài tranh luận của em?”. Ông mỉm cười hồn hậu, rồi hóm hỉnh bảo: “Ồ! Đấy là nhà thơ Lê Đạt chứ có phải tôi đâu!”. Quả là một bậc lão thực, bởi chỉ những người như thế mới bộc lộ sự thông minh theo kiểu lịch lãm đến vậy. Tôi bắt tay ông thật chặt cùng với lời “đối thoại” tương xứng: “Vậy thì hay quá! Em là Phạm Quang Trung chứ không phải nhà phê bình Phạm Quang Trung đâu!”. Chuyện xảy ra chỉ có thế nhưng ông đã dạy cho tôi một bài học nghề nghiệp rất sâu sắc: Hãy phân biệt tác giả văn chương với tác giả tác phẩm văn chương. Là một đấy nhưng không hẳn hoàn toàn là một đâu! 

Gần đây, tôi tập trung suy nghĩ về hiện tượng quen thuộc, không thể bảo là ít ý nghĩa, nhưng trên thực tế vẫn chưa được lý luận văn chương gọi tên ấy. Cho tới khi đọc được ý kiến đột xuất của nhà văn Mexico O. Paz thì mọi sự mới dần dà sáng tỏ trong đầu óc của tôi. Đoạn văn quan trọng đó như sau: “Mọi thi sỹ trong những khoảnh khắc sáng tạo dù dài dù ngắn, nếu thực là nghệ sỹ, đều nghe ra tiếng nói khác - PQT lưu ý. Nó là tiếng nói của chính họ, của một người nào khác, của chẳng ai khác, cũng chẳng của ai cả và của tất cả mọi người. Không gì tách bạch nhà thơ với những người khác, đàn ông và đàn bà, ngoại trừ những khoảnh khắc này. Nó hiếm hoi và vẫn xuất hiện như một sự đột khởi, xuất thần với một trữ lượng tri thức tâm linh chôn vùi trong những chiều sâu riêng tư nhất của sự hiện diện con người với cái tôi, người sáng tạo ra hình tượng nghệ thuật và hình tượng cái tôi trong sự sáng tạo ấy - PQT nhấn mạnh. Tính đặc thù của thi ca hiện đại không đến từ những ý tưởng hay thái độ của nhà văn, nó đến từ tiếng nói của họ” (Thơ văn và tiểu luận, Nxb Đà nẵng, 1998, tr.266). Một ai đó đọc đoạn văn này có thể rút ra những gì không giống tôi, còn tôi thì lại chú tâm vào những câu chữ in nghiêng ở trên theo hướng quan tâm của riêng mình. Đúng là người ta chỉ tìm thấy những gì mình cần. Ở đây, chủ nhân Giải Nobel Văn chương 1990 đã phân biệt rạnh ròi giữa “cái tôi tác giả” trong quá trình sáng tác và “hình tượng cái tôi” được sáng tạo trong tác phẩm. Chúng là một nhưng xét kỹ thực ra là hai; trong khi xem chúng là hai nhưng kỳ thực lại thuộc về một nguồn duy nhất. Cụm từ “tiếng nói khác” của O. Paz gợi ý cho tôi một tên gọi, nhưng vẫn chưa thể định hình, định dạng.

Cho tới khi tôi nhận được bài tiểu luận“Ethos” hay hình ảnh bản thân: từ lý thuyết hùng biện đến phân tích diễn ngôn chuyển đến từ email của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân thì cái tên người khác trong văn học mới được xác định. Tác giả của bài viết là Nguyễn Giáng Hương, hiện là nghiên cứu sinh tại một Trường Đại học ở Paris. Bài tiểu luận đưa ra nhiều ý kiến sâu sắc của Oswald Ducrot - một học giả theo trường phái lý thuyết Ngữ nghĩa - ngữ dụng học. Ông phân biệt ba cấp độ ngôi phát trong diễn ngôn: Một làchủ thể nói (trong tương quan với người nghe) là ngôi phát ngôn tồn tại “bên ngoài” lời nói, khác với ngôi phát được vận hành bởi bản thân sự phát ngôn. Hai là, người xuất ngôn (trong quan hệ với người tiếp ngôn) là người chịu trách nhiệm về hành vi ngôn ngữ. Người xuất ngôn lại được chia thành hai cấp độ: (1) Người xuất ngôn với tư cách là chính mình, hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự xuất ngôn; (2) Người xuất ngôn với tư cách là “tồn tại thế giới” được nói tới trong phát ngôn, thường được chỉ định bằng đại từ ngôi thứ nhất. Và ba là, chủ thể phát ngôn (tương ứng với đối tượng tiếp nhận) để chỉ “ngôi phát ngôn mà thông qua điểm nhìn của nó các sự kiện được thuật lại”. Người xuất ngôn có thể đưa ra một hay nhiều chủ thể phát ngôn nhằm nêu lên các điểm nhìn được thể hiện trong diễn ngôn. Để minh họa cho sự khác nhau giữa ba cấp độ chủ thể nói, người xuất ngôn, và chủ thể phát ngôn, O. Ducrot lấy ví dụ ở tiểu thuyết. Trong đó chủ thể nói ứng với “tác giả” hay “người sản xuất tồn tại thực”, người xuất ngôn với “người kể chuyện”, và chủ thể phát ngôn với “trung tâm tiêu điểm”. Đặc biệt, khi bàn về sự khác nhau giữa người xuất ngôn và chủ thể phát ngôn, ông có tham chiếu sự phân biệt của G. Genette giữa người kể chuyện là “người nói” còn trung tâm tiêu điểm là “người nhìn” liên quan tới “điểm nhìn trần thuật” tôi nói tới ở trên.

Như vậy, tôi đã tìm được cơ sơ lý thuyết tạm ổn để làm điểm tựa chắc chắn cho mọi suy tưởng có thể có về sau. Từ ý kiến của nhà ngôn ngữ O. Ducrot, ta sẽ có Người khác với tư cách là Nhà sáng tạo  Người khác với tư cách là Người tiếp nhận. Hai dạng thức đó liên quan mật thiết với nhau trong sự khác biệt dễ thấy về vai trò, tính chất và quy trình. Tuy nhiên, cả hai dạng thức người khác trong văn học lại cùng giúp soi tỏ cái ta quen gọi là chức năng đặc thù của văn chương. Bởi, khi bàn đến chức năng là ta nghĩ tới tác động xã hội  nhân văn của văn chương. Đã thế thì văn bản văn chương phải tham gia vào sự giao tiếp, giao lưu trong môi trường để có thể trở thành tác phẩm văn chương đúng nghĩa. Khi ấy, rất tự nhiên, khái niệm người khác mới thật sự phát huy ý nghĩa. Từ phía nhà văn: anh phải phân thân, hơn thế, phải hóa thân thành nhân vật (Tự sự, Trữ tình hay Kịch), nghĩa là một người khác, thậm chí, nhiều người khác. Người ta thường bảo nhà văn, người nghệ sỹ hay thương vay, khóc mướn là theo nghĩa nay - Vẩn vơ với sợi tơ trời/ Tình riêng bỏ chợ, tình người đa đoan (Đoàn Thị Tảo). Nhà văn càng tài năng càng có tài biến hóa, biến báo nhờ trí tưởng tượng tinh nhạy và giàu có đến không cùng. Từ phía người tiếp nhận cũng vậy: biết “sống” trong, “sống” cùng thế giới hư cấu của tác phẩm do nhà văn khơi gợi. Tâm hồn và hiểu biết của người thưởng thức cùng được nâng lên trong sự “thanh lọc hóa” linh diệu của thứ nghệ thuật vào bậc nhất của con người - nghệ thuật ngôn từ. A. Camus nói rằng đến với văn chương là sống “hai cuộc đời” là theo nghĩa này. Mà một ai đó bảo văn chương nhằm lưu giữ, phát triển, nâng cao “chất người” cũng là theo nghĩa ấy cả.

Chức năng văn chương gắn chặt với khái niệm người khác càng trở nên hiển nhiên và bật nổi khi ta phát hiện ra loại trí tuệ cảm xúc bên cách loại trí tuệ duy lý quen thuộc. Điều này tôi được hướng dẫn bởi bài viết Tình và lý, tình và nghĩa trong triết lý nhân sinh của người Việt của Hoàng Ngọc Hiến (Triết lý văn hóa và triết luận văn chương, Nxb Giáo dục, H., 2006). Ông tập trung giới thiệu tác phẩm Trí tuệ cảm xúc của nhà tâm lý học người Mỹ D. Goleman với phụ đề Vì sao yếu tố này quan trọng hơn IQ (Nxb Bloomsbury - 1996). Theo sự diễn giải của Hoàng Ngọc Hiến, thì trước nay ta cứ hay tuyệt đối hóa sự khác biệt giữa hai phạm trù lý / tình; trí tuệ / cảm xúc. Ông bảo như thế dễ “đơn giản”, dễ “siêu hình” lắm. Khi Pascal nói: “Trái tim có những cái lý mà đầu óc khó lòng hiểu nổi” thì ta thấy mọi chuyện phức tạp hơn nhiều. Ở ta, nhà văn Nguyễn Hiếu trong tiểu thuyết Con ngố thì viết: "Đàn bà nghĩ bằng tim chứ có phải bằng óc đâu". Điều mới mẻ trong quan niệm của D. Goleman là đi sâu vào hướng đó. Đóng góp của ông không chỉ ở sự phân biệt giữa IQ - chỉ số của trí tuệ duy lý với EQ (emotion quotient) - chỉ số trí tuệ cảm xúc mà quan trọng hơn là ở chỗ coi EQ quan trọng hơn IQ trong sự hoàn thiện nhân cách của con người. Từ đó, D. Goleman đi sâu hơn trong việc giải thích thế nào là trí tuệ cảm xúc. Nó biểu hiện ở hai phương diện chính yếu có liên quan mật thiết với nhau gồm: Năng lực làm chủ cảm xúc  Năng lực thông cảm với người khác. Tôi đặc biệt thấm thía với dạng năng lực sau. Theo Hoàng Ngọc Hiến thì Năng lực thông cảm với người khác còn gọi là “năng lực nhập cảm” (empathy), “tức là đặt mình vào địa vị, hoàn cảnh của người khác, nhìn sự việc và cảm nghĩ từ góc nhìn, chỗ đứng của họ”. Muốn thế, phải từ mình để hiểu người, rồi mới nói đến chuyện từ mình mà đến với người. Tôi nhớ tới nhận xét thấu lý của nhà văn Nguyễn Đình Thi: Nếu không cảm thông được với nhau, trên cơ sở hiểu biết sâu rộng ấy, thì ngay cả vợ chồng cũng không thể gần nhau được tới một phút, nói gì tới sống với nhau cả cuộc đời! Trong những biểu hiện của năng lực quý giá này, tôi lưu ý tới biểu hiện đầu tiên: “Đọc được tâm lý người khác”. Cố nhiên, việc này vô cùng quyết định - “Những gì cốt yếu nhất thường không thấy được bằng mắt” (Saint Exupéry). Mà cũng vô cùng khó khăn - “90% cảm xúc biểu hiện ở dạng ngoài ngôn ngữ”, nên phải phát triển khả năng “đọc thầm”.

Như vậy, nói như Aristote: “Ai cũng có thể tức giận - việc này dễ thôi. Nhưng tức giận đúng người, đúng mức độ, đúng lúc, đúng mục đích, đúng cách - điều này chẳng phải dễ” (Đạo đức học để tặng Nicomancơ). Cái mà nhà mỹ học Hy Lạp vĩ đại nhắc tới từ hơn hai ngàn năm trước không gì khác mà chính là trí tuệ cảm xúc. Văn chương, nghệ thuật có vai trò đặc biệt trong việc duy trì, truyền đạt thứ trí tuệ quý báu này trong xã hội loài người - vậy thì làm sao trên đời có gì thay thế nó cho được! Trong khi chỉ với phạm trù người khác, văn học mới soi tỏ được cơ chế hoạt động của trí tuệ cảm xúc - vậy thì làm sao các nhà văn học không chú ý cho được! Với việc thấm nhuần và quán triệt phạm trù này, mối quan hệ giữa ý nghĩa chủ quan và ý nghĩa khách quan của tác phẩm có điều kiện sáng rõ hơn. Và, ý thức về trách nhiệm nghề nghiệp đi cùng trách nhiệm xã hội của nhà văn, nhà phê bình càng được gia tăng hơn nữa. 

                                                                                                                                      Đà Lạt, 9/5/2013