Những vần thơ chảy hoài trong ký ức...

Tôi viết những dòng này về thơ Trần Quý Phúc đúng vào dịp Tết truyền thống Canh Dần của dân tộc. Người bạn văn của tôi chắc giờ cũng đang nôn nao chào đón xuân mới ở một phương trời xa xôi nơi xứ người lạnh lẽo. Tự nhiên tôi nhớ tới bài thơ Phút giao thừa được anh viết vào năm 1984 tại đất Thuận Châu - nơi chúng tôi từng có chung bao kỷ niệm buồn vui mà dầu cho tình người có đổi thay đến đâu thì cũng chẳng thể nào nguôi quên được. Bài thơ ngắn thôi, gồm hai khổ 4 câu quen thuộc:

                   Lắng nghe bước chuyển của thời gian

                   Im lặng, ngập ngừng, phút Đất – Trời giao cảm

                   Êm như tay em, rạo rực từng huyết quản

                   Nút không giờ: Quá khứ gặp Tương lai

 

                   Bao mùa xuân đón đợi phút giây này

                   Vẫn bồi hồi, háo hức như con trẻ

                   Một tích tắc ngỡ ngàng, chợt bùng lên pháo nổ

                   Đi suốt đời chưa cảm hết Mùa xuân

Thấm thía hơn cả có lẽ là ý tưởng nằm ở câu cuối. Đúng như anh viết: Đi suốt đời chưa cảm hết Mùa xuân. Hình như tuổi càng cao lại càng có dịp trải nghiệm những cảm nghĩ bình dị mà sâu lắng như thế. Tác giả chủ tâm viết hoa từ Mùa xuân. Chẳng phải vô cớ đâu. Chắc anh liên tưởng tới sự giao hòa diệu kỳ giữa sức xuân và sức trẻ luôn cháy lên những khát vọng lớn lao đó mà! Lại ngay giữa núi rừng Tây Bắc thơ mộng mà khắc nghiệt. Vào những năm tháng chồng chất gian khó mà luôn nồng ấm tình người...

Ngày ấy, vào thập niên 1960 - 1970, lớp lớp thanh niên trí thức tuổi đôi mươi vừa rời ghế trường đại học chúng tôi hăm hở lên Miền Tây, trong lòng chất chứa những ước vọng dời non lấp bể. Trần Quý Phúc lên sau tôi đâu chừng bốn năm. Coi như là cùng một thế hệ. Thế nhưng anh đến với văn chương, hơn nữa, lại có thành tựu về văn chương, sớm hơn tôi. Dạo ấy, từ sáng sớm tới đêm khuya, hầu như tôi chỉ biết chúi đầu vào sách vở, chăm chắm lo đầu tư cho những trang giao án còn quá mỏng mảnh, sao cho những giờ dạy văn trên lớp đem lại cho giáo sinh một chút ít nghĩa lý nào đấy, những mong được họ xem là vốn liếng tinh thần quý giá cho cuộc sống và công việc quá nhiều gian nan trắc trở ở vùng sâu vùng xa sau này. Phúc có phần hơi khác tôi. Ngoài công việc giảng dạy mà bất cứ thầy giáo trẻ nào thời ấy đều rất quan tâm ra, anh còn say sưa với văn chương. Mà không, đúng hơn phải nói là anh mê đắm với nó. Thậm chí, dẫu chưa một lần nói ra thành lời, song chắc trong thẳm sâu tâm trí, anh còn coi văn chương như là cái nghiệp lớn  đời mình phải gắng đeo đuổi nữa. Do vậy, tôi chẳng lấy làm ngạc nhiên nếu  những năm về sau anh dứt khoát rời bỏ nghề dạy học để thi vào Trường Viết văn Nguyễn Du, rồi được chuyển tiếp sang học tại Học viện Văn học mang tên văn hào M. Gorki. Tốt nghiệp năm 1994, anh quyết định ở lại sinh sống tại Liên bang Nga, để chỉ biết một lòng một dạ gắn bó với các hoạt động báo chí và văn chương rất nhiều hứng khởi nhưng không ít gieo neo của cộng đồng hải ngoại. Anh hiện là Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam tại Liên bang Nga, Tổng biên tập các tạp chí Người bạn đường  Tao đàn. Tôi cũng không lạ khi vào năm 2000, Tạp chí Tài hoa trẻ đã trao Tặng thưởng thơ cho anh với bút danh dần dà trở nên quen thuộc: Châu Hồng Thủy. Đến giờ, anh đã có trong tay tập thơ trĩu nặng tâm tư Những bông tuyết mùa hè (Nxb Sáng Tạo, M. 2004), và đang chuẩn bị cho ra đời tập thơ mới mang tên Hai mươi mùa tuyết trắng.                                                     

            Phải nói rằng, thơ Trần Quý Phúc ngay từ dạo ở Tây Bắc đã gieo vào lòng tôi những cảm nhận khá đặc biệt. Biết trời không phú cho mình cái tài làm thơ nên tôi thường rất trân trọng những sáng tác của bạn hữu quanh mình. Dầu có khi vẫn biết là những bài thơ ấy chưa thật mới mẻ về cách viết, nhưng bù lại, luôn chân thật và nồng ấm trong cảm nghĩ. Từ khi dấn thân vào nghề văn, tôi tự đề ra cho mình một phương châm ứng xử thế này: nếu không có của cải, tiền bạc cho bạn lúc nghèo túng thì hãy mở lòng mình ra để đáp lòng người. Chẳng lẽ là đồng nghiệp với nhau mà đến cái tình lại cũng thiếu! Bởi thế, tôi thuộc khá nhanh nhiều vần thơ của Nguyễn Anh Tuấn, Trần Quý Phúc…, coi đó như là tiếng nói tự đáy sâu của lòng mình may mắn nhờ bạn bè có năng khiếu văn chương giãi bày giùm cho vậy. Chẳng hạn, những câu thơ sau của Phúc:

                           Bỏ lại sau lưng dặm dài cát bụi

                           Bỏ lại sau lưng hoa lệ thị thành

                           Bỏ lại sau lưng hẹn hò chờ đợi

                           Sáng dậy giật mình nghe một tiếng chim

            Có quyến luyến quá khứ không? Có chứ! Nhưng thái độ quyết dứt áo ra đi ở đây là rõ rệt. Mà phần thưởng nhận được đâu có nhỏ! Lại là phần thưởng tinh thần cao quý, ở đời dễ gì có được:

                          Ôi tiếng chim

                          Tiếng chim hót nửa đời ta mới gặp

                          Bước chân trần trên lá mềm ẩm mục

                          Hương gỗ rừng, hương nấm bâng khuâng…

Tôi chợt hiểu vì sao trong một đoạn hồi ký viết tại nước Nga in trên Tạp chí Người bạn đường số 6 vào năm 1994, lại nóng hổi những dòng suy tư sâu xa mà cảm động như thế này của Phúc: “Biết bao kỉ niệm đẹp về mùa xuân Tây Bắc. Chạm đến ký ức như chạm đến mạch ngầm… Nhiều khi tôi bâng khuâng tự hỏi: nếu như thiếu đi quãng thời gian hơn mười năm Tây Bắc, cuộc đời mình liệu sẽ ra sao? Chắc sẽ nghèo đi nhiều lắm. Xứ sở hoa Ban đã tạo đà cho tôi cất cánh đến xứ sở của Bạch dương. Những bước chân đạp trên tuyết của tôi hôm nay trên đất Nga là sự tiếp nối những bước chân trên những nẻo đường mòn sông suối Tây Bắc tuổi thanh xuân”…

Thế là tôi lần theo những dấu chân của anh từng in trên những nẻo đường Tây Bắc chập chùng vào những năm tháng xa xôi ăm ắp những kỷ niệm đằm thắm thuở nào. Chợt nhận ra tiếng chim kia, giờ lại gợi ra bao liên tưởng mới lạ khác, nhưng rồi kết tụ ở nơi mắt em – đôi mắt trong trẻo đấy mà cũng rất dễ bị vương lưới lắm đấy:

                      Trong trẻo tiếng chim, trong trẻo suối nguồn

                      Bỗng bắt gặp mắt em trong vắt

                      Anh sững sờ không dám đi nửa bước

                      Khắp bốn bề, anh vương lưới mắt em

            Tình yêu tự tìm đến với anh, rồi găm giữ đôi chân ưa phiêu bạt của anh. Trần Quý Phúc quyết định dừng chân ở phố Thuận, chăm chút đắp xây tổ ấm của đời mình. Các con anh cùng các con tôi cất tiếng chào đời ở đấy. Nhiều năm về sau, tôi luôn xem bài Sắc cầu vồng đã tập trung thể hiện rõ nhất tâm trạng của anh khi đó. Vẫn cứ mộng mơ. Liệu khi nào mới hết mộng mơ trong cái kiếp thi sỹ đa mang, hỡi trời! Vậy nên, những cơn mưa Tây Bắc như được lọc qua hồn anh để giữa mãi cái mơn man, cái ảo huyền riêng có của nó:

          Mưa giăng giăng nhè nhẹ trên đầu

                      Mưa mỏng mảnh xa xa làm rèm che núi

Muôn cảnh vật trong thơ, bao giờ chẳng vậy, chỉ là cái cớ để người viết bộc bạch lòng mình:

                     Rừng Tây Bắc chiều mưa bỗng đổi màu

                     Núi xa xanh, núi ửng hồng rực rỡ

                     Núi sẫm tím đứng trầm tư hùng vĩ

                     Núi chợt sáng lên lấp lánh dát ánh vàng

            Không thấy vướng bận chút gì u ám, buồn nản ở đây cả, dầu cuộc đời quanh anh, quanh tôi nào đã hết khó khăn. Hơn thế, phải nói là còn chất chồng khó khăn nữa kia! Tuy nhiên, lạ không, núi và rừng như bừng lên sức sống - mới mẻ và dào dạt đến khó ngờ! Từ đó, những sắc cầu vồng đột ngột hiện lên trong bài thơ:

                    Trong thung lũng chợt hiện ra huyền ảo sắc cầu vồng

                    Một cánh cung bẩy màu nối liền hai dãy núi

                    Dây mềm mại hiền hòa – dòng Nặm Muội

                    Mưa cứ rơi làm nắng cũng dịu dàng

            Bức tranh có trời, có núi và có nước, luôn biến ảo mà lại thực đến khó tin. Tôi nhớ ra rồi: đó chính là dãy núi Khau Tú và Pu Luông đấy mà! Chúng gắn liền với câu chuyện cổ về “Nàng tiên áo trắng” nằm ngủ mơ màng dưới ánh trăng trên dải núi phía nam thung lũng mà bọn làm văn chương chúng tôi thời ấy có ai mà không từng được nghe kể. Do vậy, đoạn thơ sau đến một cách thật tự nhiên:

                   Ơi ánh nắng vàng ươm như mật ong

                   Những giọt nắng hòa tan trong giọt nước

                   Em hiện ra, mưa đọng trên mi mắt

                   Cả một vùng đẫm mát trong em

Anh và em, tình yêu nồng ấm giữa chúng ta hay là bài ca vọng mãi của tình đất, tình người miền Tây trước bao thử thách của cuộc đời! Tiếc là những dự cảm kết thúc bài thơ cứ làm lòng tôi, lòng bạn không yên, không thể yên cho được:

       Ơi bảy sắc cầu vồng như dự báo

       Những cơn mưa cơn lũ giữa lòng anh…

Cuộc đời vốn thế mà: luôn diễn ra theo lẽ vô thường. Có cái qua đi, qua đi vĩnh viễn. Thế nhưng tôi tin: tất có cái lắng lại, bất chấp mọi ngáng trở vô lý, vô lối trên đời… Ôi những sắc cầu vồng! Trong thơ và trong đời. Quyến rũ lắm! Mà cũng phù du lắm!

Thế nhưng, nói gì thì nói, những vần thơ ấm nóng một thời của Trần Quý Phúc vẫn không ngưng chảy trong ký ức không ít ngọt bùi mặn chát của đời tôi. Và có lẽ của tất thảy những người bạn thân thiết trong thời của tôi. Bất chấp mọi biến thiên dữ dội có thể có của kiếp người. Thêm hiểu vì nguyên cớ gì mà trước câu hỏi “Bằng cách nào con người của một triệu năm sau hiểu được đời sống của chúng ta bây giờ?”, nhà thơ gốc Nga nhận Giải Nobel Văn chương năm 1987 J. Brodski đã không do dự cho rằng: “Bằng những bài thơ của chúng ta, ngoài ra không còn gì nữa”. Từ một giác độ khác, nhà thơ Mỹ S. Simic lại nói: “Mục đích của bài thơ là cố gắng lưu giữ lại cho người đọc cái khoảnh khắc của đời sống mà họ không bao giờ tìm lại được nếu không có thơ” (Báo Văn nghệ, số 1+2/2010).

Xin được cảm ơn thi ca.

Xin cảm ơn nhà thơ Châu Hồng Thủy - Trần Quý Phúc của tôi.

                                                                                              

                                                                                             Đà Lạt, Xuân 2010