Một nền văn học nghệ thuật giàu hương sắc

Cụm từ giàu hương sắc trong đầu đề bản tham luận, tôi chủ ý dùng lại, với ít nhiều ý nghĩa khác biệt, tên tiểu luận đồng thời là tên chung của một tập sách giá trị ấn hành cách đây gần 35 năm - tập Một vườn hoa nhiều hương sắc của nhà văn hóa, nhà thơ lớn Nông Quốc Chấn. Như đã thấy, đều nhằm thể hiện sự nhìn nhận về bản chất của nền văn học nghệ thuật hiện đại Việt Nam, vào thời điểm năm 1977, Nông Quốc Chấn chỉ có thể dùng từ nhiều, trong khi vào năm 2011 này, tôi đã có thể dùng từ giàu. Đây hẳn không phải là chuyện từ ngữ, nặng về dụng ngôn chữ nghĩa. Một nền văn học nghệ thuật giàu hương sắc đã thể hiện rõ được tính đa dạng trong sự thống nhất hài hòa, làm nên hồn cốt lan tỏa tới từng yếu tố, từng bộ phận, vốn dĩ không còn là mong ước mà đã hiển hiện thành thực thể sống động bằng xương bằng thịt trên thực tế. Một sự đổi thay sâu thẳm tự bên trong thể hiện rỡ ràng ra bên ngoài, chỉ trong một thời gian trên ba thập kỷ, lại gắn với sự chuyển biến của cả nền văn học nghệ thuật dân tộc, ôi, những người giàu óc tưởng tưởng nhất cũng khó lòng mà hình dung ra nổi. Thế nhưng, đó lại là một thực tế hiển nhiên đấy, thưa các anh, các chị. Không phải chứng minh dài dòng đâu! Chỉ cần lướt nhìn vào đội ngũ văn nghệ sỹ hùng hậu thuộc các dân tộc ít người khắp Bắc Trung Nam cũng đủ rõ. Rất nhiều tên tuổi chói sáng. Họ đã lao động nghệ thuật không biết mệt mỏi, tạo nên biết bao thành tựu đáng tự hào, góp phần xứng đáng vào việc dựng nên tầm vóc cùng dáng vẻ mới của nền văn học nghệ thuật đa dân tộc Việt Nam trong những năm đầu của thiên niên kỷ thứ ba.

Trong lời mở đầu, tôi vừa chủ tâm nhắc tới cái tên thân thuộc Nông Quốc Chấn. Thời gian càng lùi xa, chắc không chỉ trong cảm nhận của riêng tôi, tên ông tự nhiên càng lấp lánh một ý nghĩa thật là đặc biệt. Đã đành, tôi đánh giá cao sự nghiệp thi ca của ông như nhiều người khác đã từng khẳng định và chắc sẽ còn tiếp tục khẳng định. Nhà văn Nguyễn Đình Thi cho rằng: “Những bài Bộ đội ông cụ, Dọn về làng là những bài thơ có giá trị lâu bền, đưa thơ Tày đến một giai đoạn mới, đóng góp một phần không thể xóa nhòa vào thơ hiện đại Việt Nam” (1, tr.6). Đó chỉ là một đánh giá có tính điển hình. Tuy nhiên, còn hơn thế nữa, với nhiều người, cái tên Nông Quốc Chấn khi nào cũng mang tính biểu trưng. Vẫn nói như nhà văn lớn Nguyễn Đình Thi, Nông Quốc Chấn “trở thành một con chim đầu đàn trong nền văn học nghệ thuật mới của các dân tộc thiểu số ở nước ta”, chủ yếu là bởi ông “đã dành không biết bao công sức, tâm huyết để xây dựng đội ngũ văn nghệ sỹ các dân tộc thiểu số từ Việt Bắc, Tây Bắc đến Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Nam Bộ” (1, tr.6). Điều này, thật dễ hiểu, đã được nhiều nghệ sỹ tiêu biểu thuộc các dân tộc ít người lên tiếng thừa nhận từ lâu. Nhà thơ dân tộc Giáy Lò Ngân Sủn phía Bắc xem Nông Quốc Chấn là “cây đại thụ văn học dân tộc thiểu số” (1, tr.11). Còn nhà văn dân tộc Êđê Linh Nga Niêk Đăm phía Nam, hơn thế, coi ông là “nhà văn hóa lớn của các dân tộc thiểu số Việt Nam” (1, tr.13).

Xin được nhấn mạnh, tôi đánh giá Nông Quốc Chấn cao hơn trong tư cách của một ngọn cờ. Tên ông có sức tập hợp, gắn kết bền bỉ, sâu xa mọi nguồn lực tinh thần và ý chí sáng tạo của hết thẩy văn nghệ sỹ các dân tộc thiểu số trên khắp Tổ quốc Việt Nam yêu dấu của chúng ta. Chỉ xin được nêu ra một dẫn chứng. Chính ông, lúc sinh thời, với tư cách là Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Các dân tộc thiểu số Việt Nam đầu tiên, đã đứng ra chịu tránh nhiệm cho sự ra đời tuyển tập Tagalau số 1 dành cho văn hóa, văn học dân tộc Chăm vào mùa Katê năm 2000. Ngay sau đó, trên Tagalau số 2, Nông Quốc Chấn còn nồng nhiệt đón chào tuyển tập này bằng những lời động viên chí tình và lời chỉ dẫn chí lý khi trả lời phỏng vấn như sau: “Sau ngày thành công của cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, các dân tộc thiểu số ở phía Nam cùng với các dân tộc cả nước, đã có điều kiện bảo tồn, phát huy, sáng tạo mới về giá trị văn hóa, văn học, nghệ thuật của mình. Dẫu sự phát triển không đồng đều giữa 53 dân tộc thiểu số, chúng ta đã có thể tự tin, tự hào về giá trị truyền thống và khả năng sáng tạo mới… Những người đọc Tagalau1 thấy đây là một nơi hội tụ của các cây bút người Chăm”.

Đấy là những cái thuộc về phong trào bề nổi và bề rộng. Trong sự trưởng thành của từng văn nghệ sỹ cũng nhất quán một tâm huyết như vậy ở Nông Quốc Chấn. Chính Inrasara trong Lời cám ơn muộn màng đã trân trọng ghi nhận: “Tôi làm thơ từ năm 15 tuổi, nhưng chưa bao giờ có ý định đăng báo hay in tập cho đến khi gặp Nông Quốc Chấn” (1, tr.9). Khi được ông chọn 5 bài với dung lượng khá nhiều cho Tuyển tập văn học dân tộc thiểu số Việt Nam do Nxb Văn học ấn hành năm 1995, anh xúc động nhớ lại: “Mới trình làng mà rình ràng thế, tôi nghĩ Nông Quốc Chấn đã ưu ái đặc biệt tôi” (1, tr.9). Hơn thế, về sau, chính Nông Quốc Chấn đã nhận đỡ đầu cho tập thơ Tháp nắng của Inrasara vốn đắp chiếu nằm chờ giấy phép gần 2 năm trời được sớm chào đời, lại không quên viết lời Tựa cho tập thơ, rồi còn chủ động giới thiệu đứa con đầu lòng này của Inrasara tham dự giải thưởng thường niên của Hội Nhà văn Việt Nam. “Tôi cám ơn Nông Quốc Chấn ở tấm lòng - Inrasara chân tình viết tiếp -: biết khích lệ và đỡ đần các tài năng, tạo điều kiện cho các mầm non văn chương đâm chồi, nở hoa, kết trái. Cả ở tầm nhìn: biết định hướng nghiên cứu - sáng tác cho giới trẻ đi vào văn hóa dân tộc, ruốt tỉa tinh hoa của nó, từ đó mang nó cống hiến cho nền văn hóa đa dân tộc Việt Nam” (1, tr.9). Những dòng chữ ấy đến giờ vẫn còn tươi rói. Không phải vô tình mà bản thân nhà thơ người Chăm này từng cảm kích xem Nông Quốc Chấn là “một nhà thơ đầu đàn dân tộc thiểu số” (1, tr.9).

Rõ ràng, không thể khác thế, Nông Quốc Chấn đã là một nhân vật lịch sử. Tên tuổi ông thuộc về lịch sử, theo nghĩa, lịch sử đã tạo ra ông, và về phần mình, ông đã góp phần tích cực thúc đẩy lịch sự vận động theo tinh thần cách mạng đích thực gắn với tiến bộ của con người và cộng đồng. Bởi vậy, tôi không chỉ hoàn toàn tán đồng mà còn thật sự xúc động khi được tin Ban Thường vụ Hội Văn học Nghệ thuật Các dân tộc thiểu số Việt Nam tại kỳ họp ngày 10/08/2011 đã đi tới thống nhất thành lập Giải thưởng Văn học Nghệ thuật mang tên Nông Quốc Chấn, định kỳ 5 năm một lần. Đó không chỉ là một sáng kiến giàu ý nghĩa nhân văn mà còn là một động thái văn hóa tích cực, tạo ra những nguồn lực tinh thần sâu xa và mạnh mẽ, góp phần mau chóng đưa nền văn nghệ các dân tộc thiểu số chúng ta đi nhanh và đúng hướng về phía trước, đáp ứng nỗi trông chờ ngày một da diết của đồng bào khắp cả nước.

Bây giờ, tôi xin phép được trở lại với tinh thần tiểu luận Một vườn hoa nhiều hương sắc được Nông Quốc Chấn viết vào tháng 9/1975, nghĩa là chỉ sau khi đất nước  thống nhất mới chừng 4 tháng. Mở đầu bài viết, ông trân trọng ghi lại nhận xét của nhà văn Vũ Hạnh với tư cách là thành viên Đoàn đại biểu nhân dân Sài Gòn - Gia Định khi về thăm tỉnh Hòa Bình kết nghĩa. Tác giả Người Việt cao quý hướng thẳng tới “sự đổi mới trong cuộc sống xã hội, con người và văn hóa của các dân tộc ít người ở một vùng của Tổ quốc Việt Nam” để không kìm nén được lòng mình mà nói rằng: “Các bạn đã thể hiện được vẻ đẹp của từng dân tộc mà mình tiêu biểu, các bạn thật sự là một người Thái hay một người Mường, nhưng dù chuyên nghiệp hay nghiệp dư, các bạn cũng đã trình diễn với nhiệt tình sâu xa về nỗi vui mừng được thấy nước nhà thống nhất, được thấy trong một nay mai gần đây, Tổ quốc chúng ta nhất định phú cường” (2, tr.366 & tr.367). Cảm quan của người nghệ sỹ thường rất tinh nhạy. Trong câu nói của nhà văn Vũ Hạnh, tôi nhận ra cái nhìn đúng đắn về sự hài hòa giữa “vẻ đẹp của từng dân tộc mà mình tiêu biểu” với “nhiệt tình sâu xa về nỗi vui mừng được thấy nước nhà thống nhất” hiển hiện qua từng gương mặt các văn nghệ sỹ thuộc nhiều dân tộc anh em. Tôi thầm cảm phục Nông Quốc Chấn, vì để thể hiện ý tưởng trung tâm của bài viết, ông đã chọn một điểm tựa đích đáng, có thể nói không thể điển hình và chắc chắn hơn được nữa. Ý tưởng này sau đó được ông nhất quán triển khai trong tiểu luận của mình: “Các dân tộc ít người đang phát triển thành dân tộc xã hội chủ nghĩa trong một nước Việt Nam thống nhất” (2, tr.374). Nói khác đi, “tinh thần của từng địa phương, từng dân tộc được nâng lên dần thành hệ tư tưởng chung sống trong một quốc gia - một đại gia đình các dân tộc Việt Nam” (2, tr.368).

Ở đây, tồn tại hai mặt căn bản, gắn bó hữu cơ đến mức quyện hòa làm một là cái chung và cái riêng, cái phổ biến và cái đặc thù, nhằm đảm bảo nền văn học nghệ thuật mà chúng ta mong muốn phấn đấu xây dựng thật sự thống nhất trong đa dạng. Trước nhất, cần gắng sức đào sâu, bền bỉ bồi đắp cái riêng, cái đặc thù của từng dân tộc. Có thể xem việc sáng tác bằng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình là một trong những vấn đề hệ trọng bậc nhất ấy. Một lần, nhà văn Nguyễn Đình Thi cùng đi xuống cơ sở với nhà thơ Nông Quốc Chấn. Ông không quên ghi nhận một câu chuyện rất có ý nghĩa này: “Sau đó, ông (tức Nông Quốc Chấn) bắt đầu đọc thơ bằng tiếng Tày. Và tôi thấy tất cả mọi người nghe ông bỗng im bặt, rồi từng lúc dào lên, có lúc lại reo ồ lên, trên mọi gương mặt chăm chú, những con mắt sáng lên long lanh, những nụ cười đón từng câu thơ. Và có lúc một cụ già bỗng kêu to mấy tiếng. Buổi chiều hôm ấy, tôi mới nhìn rõ thơ Nông Quốc Chấn là thế nào đối với đồng bào Tày” (1, tr.7). Linh Nga Niêk Đăm trong bài Nhớ nhà thơ Nông Quốc Chấn thì hồi tưởng: “Có lần ông hỏi tôi: ‘Người Tây Nguyên có viết văn bằng tiếng dân tộc của mình không?’. Tôi nói: ‘Khó lắm chú ơi, vì từ nhiều năm nay tiếng dân tộc không còn được dạy ở Tây Nguyên nữa. Học sinh Tây Nguyên còn không nắm vững được cái hay cái đẹp của ngôn ngữ mẹ đẻ, thì làm sao viết văn bằng chữ mình thưa chú!’. Ông buồn hẳn và cứ trầm ngâm nghĩ ngợi mãi” (1, tr.13).

Tuy nhiên, dầu viết bằng chữ phổ thông hay chữ dân tộc thì bản sắc riêng thường bộc lộ chủ yếu qua lối cảm nếp nghĩ riêng thể hiện tâm thế cùng khát vọng riêng của từng dân tộc. Có thể coi bài thơ Châu Ro ta là ai? (3, tr.27) của Prêkimalamak là tiêu biểu hơn cả về phương diện này. Bài thơ đậm chất sử thi hay ở chiều sâu suy tưởng, thể hiện qua lối cấu trúc được ghép bằng những câu hỏi liên tiếp, bộc bạch nỗi suy tư triền miên trong lịch sử của cả một dân tộc. Trước hết là nỗi hoài nghi về sự tồn tại của những di tích vật thể biểu hiện trầm tích văn hóa ẩn chứa sức sống bền lâu: Không để lại/ Những lâu đài, cung điện/ Những thành quách nguy nga/ Những đình chùa, miếu mạo/ Những tháp cổ kiêu sa/ Những lăng tẩm, mộ phần, bia đa…/ Ta là ai? Châu Ro? Tiếp theo là sự hoài nghi về nguồn gốc giống nòi: Châu Ro, ta là ai?/ Từ đâu đến/ Từ Cửu Long giang cổ quàng phù sa đỏ?/ Từ biển biếc xa mờ sóng vờn lưng cát nhỏ?/ Từ Lang Bian sương mù thác khóc mòn mi đá…?. Sau cùng là nỗi trăn trở về sự vắng mặt của những di tích văn hóa phi vật thể: Ta là ai, Châu Ro?/ Đâu, những điệu Ta Vinh thịt ông xương bà/ Đâu, những bản tình ca hồn cha vía mẹ/ Đâu, Những lễ tục ngày mùa rượi đổ lụt tràn sân…?. Toàn những câu hỏi quan thiết, can hệ đến lẽ tồn vong của một tộc người, nhưng tiếc thay, cho tới giờ vẫn chưa tìm được lời giải đáp giàu sức thuyết phục. Rất dễ hiểu, bài thơ kết thúc trong sự quặn thắt của con tim thể hiện nỗi trăn trở khôn nguôi của khối óc: Lục trong mông lung hư không ta kiếm/ Bới dưới tầng sâu cát bụi ta tìm/ Thấy gì đâu! Thấy gì đâu! Ắng lặng/ Chỉ thấy DẤU CHÂN NGHÈO hằn trên thớ đá khô.

 Đọc xong bài thơ, tôi chợt thấy lắng xuống tận sâu thẳm nơi tâm hồn mình một nổi thảng thốt khó tả. Và thật khó tan. Từ trước tới giờ, liên quan tới chủ đề này, ta hay nhắc tới những câu thơ vượt thời gian như được vọng lên từ bi kịch tồn vong của dân tộc Pa Dí vô cùng ít người vốn ngàn đời sinh trưởng ở vùng núi đá hẻo lánh Tây Bắc xa xôi: Dân tôi chỉ có hai ngàn người/ Như cái cây hai ngàn chiếc lá. Đó là những câu thơ của Pờ Sảo Mìn - nhà thơ khẳng định tên tuổi mình bằng việc khẳng định tâm thế dân tộc mình. Tôi nghĩ, khát vọng dân tộc ẩn trong những câu thơ của Prêkimalamak da diết không kém! Lại nhớ tới lời của già làng Y Điêng. Ý kiến nhỏ  tham luận của nhà văn người Êđê trong Hội thảo Xây dựng phát triển văn học nghệ thuật các dân tộc Tây Nguyên - Nam Trung bộ tổ chức tại Đà Lạt tháng 3/2010. Ông bảo: “Con em các dân tộc đi học từ mẫu giáo đến đại học bằng tiếng phổ thông, họ biệt lập hẳn với tiếng nói chữ viết của dân tộc mình. Đó là sự hạn chế về nhiều mặt. Rồi các em đó học cao hơn thì toàn học tiếng nước ngoài. Họ lại càng xa hơn với dân tộc mình. Có người không biết không nhớ tâm lý tình cảm tốt đẹp của dân tộc mình… Còn về văn học, đội ngũ này ở các dân tộc Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh Trung Bộ rất nhỏ bé, ít ỏi quá. Thậm chí có nhiều tỉnh không hề có một tác giả người dân tộc sáng tác văn học nào”. Nên nhớ, đây là lời nói gan ruột của một nhà văn từng gắn bó máu thịt theo nghĩa đen với dân tộc mình, bản làng mình.

Có điều, đa dạng cũng chỉ là một vế, dầu rất quan trọng, rất quyết định, của vấn đề thiết yếu nói trên. Vế sau quan trọng và quyết định không kém: sự thống nhất. Tôi hoàn toàn chia sẻ với ý kiến của TS. Lò Giàng Páo. Trong cuộc Hội thảo tại Đà lạt nêu trên, từ ánh sáng của đường lối chung, anh đã khẳng định một cách quả quyết: “Văn hóa, nghệ thuật các dân tộc thiểu số có tính chung và tính riêng… Mối quan hệ giữa tính riêng và tính chung này là mối quan hệ phát triển biện chứng”. Theo tinh thần ấy, tôi đã tìm đến bài Thăm con (4, tr.18) của nữ nhà thơ Hơ Vê. Nhân vật trữ tình kể rất thành thật câu chuyện xảy ra trong một lần “đến thăm con”  “trường sỹ quan đặc công” Cùng người con ruột “ùa ra” đón mình là các bạn học chung trường lớp với con. Không khí thật đầm ấm, cứ như trong một đại gia đình vậy: “Đứa cầm tay, đứa xách túi”, trong khi “miệng líu ríu chào thưa”. Tác giả để ý hơn cả tới cách gọi khác nhau của các dân tộc và vùng miền qua một đại từ duy nhất chỉ người sinh hạ ra mình: mẹ, má, u. Không kìm nén được nỗi xúc động: Tôi lia lịa gật gù - Ừ ngoan, các con ngoan”… Tại sao? Ấy là vì “tôi yêu hết” “các con tôi miền ngược, miền xuôi/ người Việt, người Lào/ về sum họp một nhà quân sự”. Sâu xa, thấm thía nằm ở chỗ: “Chẳng ai không có nỗi đau riêng”, nhưng “các con muốn đi tận cùng trời đất/ để tìm kiếm tình yêu đẹp nhất/ là bình yên - trong trắng - hòa bình”. Rồi cứ thế, người mẹ “thầm thì với các con trong nắng bình minh”, để tới khi tạm biệt con mình và bao đứa con giờ trở nên thân thương khác đã có thể“mang theo sắc màu áo lính/ màu áo lung linh sương bạc” theo “suốt dặm đường dài” của cuộc đời. Đọc hết bài thơ bình dị mà cao cả này, tự  nhiên trong tôi dâng lên một nỗi cảm phục rất khó diễn đạt thành lời. Chỉ biết rằng, từ đó trở đi, thơ của nữ tác giả người dân tộc H’Rê này như được nâng cao thêm trong đánh giá thường ít nhiều khe khắt của tôi.

Tôi nghĩ, cần truyền tinh thần ấy tới các văn nghệ sỹ trẻ vốn là chủ nhân tương lai của nền văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số chúng ta. Nhà thơ Pờ Sảo Mìn trong tham luận Lời thì thầm về thế hệ nhà văn, và… cũng tại Hội thảo tháng 3/2010 tại Đà Lạt đã chân tình bộc bạch: “Cha mẹ tôi thường dạy: ‘Dỉu lê ỏn, sơn lê chề’, tạm dịch là ‘Sống thì trẻ, tính kỹ thì già’. Nay tính lại: mình đâu còn trẻ nữa, đã cập kề 70 tuổi hoa rồi. Như một giấc mơ! Mới ngày nào còn trần truồng tắm suối mát với các bạn gái. Nay rờ lên cằm, râu đã tua tủa như cái chổi quét nhà…”… Thế rồi nhà thơ kể lại một lần trả lời phỏng vấn. Trước câu hỏi “Bác là nhà văn, nhà thơ duy nhất của một dân tộc. Đó là dân tộc Pa Dí ở Mường Khương, Lào Cai. Vậy sau bác sẽ là ai? Tên họ gì? Và ở đâu?”, ông bình tĩnh tâm sự: “Thưa chị, trước tôi, dân tộc tôi không có ai theo nghiệp văn chương cả. Tôi là duy nhất. Sau tôi có ai không? Làm sao tôi biết được. Có lẽ trời đất cũng chịu. Nhà trường có thể đào tạo được kỹ sư, bác sỹ, phó giáo sư, tiến sỹ. Nhà trường không thể nặn ra nhà văn, nhà thơ. Đó là trời cho mới có, mới được”. Có vẻ như chị nhà báo trẻ kia cũng đồng cảm với suy nghĩ của nhà thơ. Cuối tham luận, ông đề nghị một cách thấu đáo: “Cần quan tâm, đầu tư hơn nữa đối với các tác giả có khả năng, tài năng phát triển”. Đúng vậy, không ai có thể tạo ra tài năng nghệ thuật, nhưng chúng ta lại có thể chung tay góp sức tạo mọi điều kiện tốt nhất có thể cho những tài năng mới phát lộ được phát triển! Mà trên hết và trước hết là ở tấm lòng. Phải thật hết mình. Mà cũng phải thật đúng hướng kia!

 Để tập trung, xin phép bàn về các cây bút thơ trẻ người dân tộc Êđê vùng Tây Nguyên mà tôi có điều kiện nắm vững hơn cả. Mới đây tôi được biết hai gương mặt trẻ người Êđê được tuyển vào lớp Đại học Viết văn nhờ sự phối hợp của Hội Nhà văn Việt Nam và Trường Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội. Đó là cây bút văn xuôi H’Phi La Niê và cây bút thơ H’Wê Ra Ê Ban. Tôi chưa thể nói gì nhiều về bạn thơ rất trẻ H’Wê Ra Ê Ban vì mới được đọc một bài duy nhất đăng trên Văn hóa các dân tộc, số 9/2009 cùng với sự xuất hiện lần đầu của Thùy Linh (người Xê Đăng) với bài Mẹ là, và Hoàng Nhật Rlayang (người M’Nông) với bài Lòng mẹ. Đấy là bài thơ tình Bùa ngải. Bài có tứ, biết dựa vào thực tế dân tộc, nhưng ý tình còn nhẹ, nên chưa gây được nhiều ấn tượng. Phía trước, cây bút thơ ấy có lẽ còn chịu không ít thử thách khốc liệt, nên tôi không thể dự cảm được nhiều về H’Wê Ra Ê Ban. Riêng trường hợp cây bút thơ trẻ người Êđê K’Triem K’Nul thì đáng để ta hy vọng, mà là niềm hy vọng khá chắc chắn vì có nhiều chỉ dấu đáng tin cậy đã hiện ra.

Tạp chí Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam trong số 8/2011 có đăng một chùm thơ 5 bài của em. Trong khi, trước đó chừng 5 năm, Tạp chí Văn hóa Các dân tộc số 9/2006 cũng đã công bố một chùm thơ 4 bài của K’Triem K’Nul kèm theo lời giới thiệu khá ưu ái của nhà thơ Mai Liễu. Thật ra, K’Triem K’Nul đã được những người có trách nhiệm với phong trào sáng tác dân tộc thiểu số ở địa phương phát hiện ra từ khá sớm. Em sinh năm 1983, là cô giáo trường phổ thông cơ sở xã Ea K’Nuêk, huyện Krông Pak, cách thành phố Buôn Ma Thuột chừng 30 km. Còn nhớ, ngay từ năm 2005, nhà thơ Phạm Doanh khi đó là Tổng biên tập Tạp chí văn nghệ Chư Yang Sin đã không ngớt lời khen ngợi thơ em. Nào: “Đây mới thật là thơ Tây Nguyên, cứ như tự trong hồn cô ấy nhả ra, hát lên tựa sử thi vậy”. Nào: “Đọc thơ cô ấy cứ như sờ mó được cả Tây Nguyên”. Hoặc như: “Nhiều người làm thơ muốn cảm như cô ấy mà không được” (Theo nhà văn Linh Nga Niêk Đăm - Thơ từ buôn làng).

Tôi mừng vì sớm nhận ra nhiều bài thơ của K’Triem K’Nul thật sự chạm vào những vấn đề lớn lao can hệ tới sự tồn vong của toàn dân tộc, thậm chí toàn nhân loại, trong hiện tại và cả trong tương lai nữa, như việc bảo vệ môi trường chẳng hạn, nhưng lại được thể hiện rất hồn nhiên bằng lối nói bình dị, nhẹ nhàng mà có sức lan tỏa. Chẳng hạn bài thơ Những điều vô tình cảm nhận. Nói là “vô tình” nhưng không một ai đọc xong bài thơ lại nghĩ là “vô tình”, hơn thế, còn nhận thấy ở đây một ý thức nặng sâu mà thường trực và kéo dài. Quả là ta chỉ bắt gặp trong thơ K’Triem K’Nul những điều thường, như lời khan, tiếng chiêng, tiệc rượu, ánh mặt trời… hay tình mẹ con, chị em cùng những tình cảm trẻ thơ trong trẻo khác… như ta quen gặp đây đó trong đời sống hàng ngày ở cao nguyên. Khác chăng chỉ là ở chỗ chúng mau chóng lưu lại trong tâm hồn trong trẻo mà tha thiết của em, để rồi đến một ngày kia hóa thành những gốc cây pơlang với “thân đầy gai”, “thẳng chắc” thế nhưng “hoa nở rực” nhiều khi đến ngỡ ngàng.

Mà thơ của K’Triem K’Nul như hoa nở rực thật. Đây, những câu thơ nằng nặng ý tứ trong bài Tiếng chiêng dài: “Gió cuốn đi/ Những tiếng chiêng không lạc nhau/ Kết khối âm thanh… Tiếng chiêng nhẹ hơn gió/ Nên gió thổi đi/ Tiếng chiêng mạnh hơn mưa/ Nên mưa không thể xóa mờ”. Đặc sắc mà sâu lắng nhất có lẽ là hai câu cuối: “Nhờ linh hồn cha ông/ Chiêng thoát tiếng/ Không bao giờ mệt mỏi”. Không quên, tiếng chiêng Tây Nguyên đã rất nhiều lần đi vào thơ của không chỉ các cây bút người dân tộc thiểu số giàu tài năng. Khẳng định được tiếng chiêng riêng trong thơ mình, đâu có dễ. Chẳng những thế, K’Triem K’Nul còn có Tiệc rượu bằng thơ của riêng mình nữa: “Hai mùa một năm/ Có một mùa dành bẩy ngày để uống rượi cần… Bẩy ngày để kể hết một bài ca/ Ngọn lửa trong bếp không có khoảng lụi tắt/ Nhiều con mắt hướng về một nơi”. Không còn là những lời “duê” có vần có điệu. Đó thật sự là những câu thơ bay bổng và vang xa. Tôi dám chắc sẽ không ít lời đồng vọng sau đó… Bài Tiếng gọi mặt trời rồi cũng sẽ tìm được chỗ đứng của mình: “Này con chim Ktia/ Hãy bay về phía đông bên kia chân núi/ Đánh thức mặt trời/ Vì sương mù giăng giăng/ Nên chớ bay một mình/ Mà gọi thêm bầu bạn của chim/ Bay về phía đó/ Với đôi cánh và tiếng hót…”. Ý tứ nối liền ý tứ, như núi đồi chập chùng của quê hương em… Chưa hết: Nắng Mặt trời/ Nhân từ/ Rộng lượng/ Và cả cánh rừng che chở chúng tôi. Tâm hồn người làm thơ như hòa vào những cánh rừng bất tận kia. Rồi gió cao nguyên sẽ mang tiếng thơ - tiếng rừng ấy đi xa mãi. Bài Chú bé chăn bò gợi nhiều nghĩ ngợi nơi người đọc không kém, bởi mặc dầu em như chú bé chăn bò “đi chân đất”, nhưng đã biết mở con đường “tìm đồng cỏ xanh” để “thả đàn bò chăn tự do” trong không gian dường như mở đến vô cùng: “Nơi đồng cỏ có nhiều vũng nước nhỏ/ Chứa cả mặt trời trên cao/ Chú chạy khắp nơi/ Nhặt mặt trời/ Bỏ vào túi vải/ Hay chú chỉ thích ngắm nhìn/ Quen mái nhà rông nhỏ bé/ Giam hãm miền hoang vu?”. Đọc xong câu kết, những trẻ em có ý thức sống khắp vùng Tây Nguyên không thể yên lòng. Một điều gì đó thức dậy tự sâu thẳm tâm can, có sức dằn vặt con người thật lớn lao. Bởi vậy, nghĩ đến thơ  K’Triem K’Nul, tôi tự nhiên nhớ tới nhận xét của nhà văn người Êđê Niê Thanh Mai về ưu thế của các cây bút trẻ người dân tộc thiểu số, ở “nguồn vốn dồi dào không dễ có” mặc dầu có thể “ngôn ngữ còn vụng về, chưa được trau chuốt”, và còn ở “cái nhìn về con người và cuộc sống rất trong trẻo, hồn nhiên, ngây thơ đậm chất buôn làng” nữa (Công tác phát triển văn học nghệ thuật dân tộc thiểu số Tây Nguyên, những điều băn khoăn và trăn trở - Tham luận tại Hội thảo Đà Lạt, 3/2010).

         Đến giờ, K’Triem K’Nul đã có hẳn một tập thơ in riêng Tiếng chiêng dài (Nxb Văn hóa Dân tộc, 2010). “Lời kể” của em sớm thành “bài ca” của núi rừng làng bản, thành “hoa ban sớm” dâng lên cuộc đời trong khi vẫn “không bớt bồi hồi”, thậm chí, càng kể “càng lúc càng say” (Bài Người kể khan). Phải thú thực là khi em “say lời kể”, thì chúng ta phần nào cũng đã“say lời em kể”. Thơ em chính là điệu nhạc “đầy tiếng cha ông” trong cái “nhịp tim thong thả” mà không hề thiếu mê đắm (Bài Nhạc trưa). Chúng ta thật lòng yêu quý và chăm chú lắng nghe điệu nhạc trong trẻo, thiết tha ấy! Có nhiều cái lạ, đôi khi khiến ta thảng thốt vì đường đột bất ngờ. Ví như: nhiều người nghe tiếng suối chỉ thấy “róc rách”, K’Triem K’Nul còn cảm thấy sự “mài mòn bao vách đá”, nhưng là để “xuôi về dòng sông”, từ đó có điều kiện hòa nhập vào biển lớn… Tôi chợt hiểu vì lẽ gì mà em dám hạ bút viết “Tay nắm chặt bàn tay/ Điệu vũ vòng tròn trái đất” khi cảm nhận về những vòng xoang đắm say lòng người ở vùng Tây Nguyên hùng vĩ quê mình. Tuy nhiên, thành thật mà nói, thơ em chưa kịp tích tụ làm nên cái giọng riêng cho thật dồi dào, vì thế mà chưa thật đậm đà, sâu lắng lắm đâu. Và, đó chính là lý do khiến những ai quan tâm tới K’Triem K’Nul, rồi đặt nhiều kỳ vọng nơi em, còn phải kiên tâm để chờ, để đợi…

        Khi viết những dòng cuối này, tâm trí tôi lại trở về với những bài học có được từ sự nghiệp của nhà thơ, nhà văn hóa lớn Nông Quốc Chấn. Y Phương đã viết những dòng thơ chí lý chí tình như sau khi Nông Quốc Chấn vừa qua đời: “Nhà thơ ơi/ Từ nay cánh rừng đại ngàn/ Đổ xuống một khoảng trời”. Dồn nén biết bao xót đau và tiếc thương trong đó! Có điều, tôi lại nghĩ, Nông Quốc Chấn dầu đã đi xa, rất xa, nhưng di sản tinh thần quý báu mà ông để lại sẽ còn sống mãi với thời gian. Ấy là bởi hết thảy chúng ta, những thế hệ hậu bối, luôn có ý thức tiếp nối những tư tưởng lớn mà ông đã bằng cả cuộc đời nhiều sóng gió và đầy vinh quang của mình để chứng nghiệm. Bởi vậy, chúng ta cũng xin nguyện tiếp nối những tư tưởng ấy bằng những hành động cụ thể và thiết thực, chứ tuyệt nhiên không phải và không thể bằng những lời nói suông…

                                                                                                                       Đà Lạt, 29/9/2011

                                                                                            

        …………………………………………………………………………....................................................................................................

 

                                                                                            TÀI LIỆU CHÚ THÍCH

  1. Tạp chí Văn hóa các dân tộc, Hội VHNT Các DTTS Việt Nam, số 3/2002.
  2. Tuyển tập Nông Quốc Chấn, Nxb Văn hóa Dân tộc, H., 1998.
  3. Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp Các hội VHNT Việt Nam, số 2/2010.
  4. Tạp chí Văn hóa các dân tộc, (Tài liệu đã dẫn), số 10/1999.