Lời giới thiệu tập sách của Thu Bình

                                              

Nhà cách mạng đồng thời là nhà thơ Hoàng Đức Triều (1900- 1986) từng kiêu hãnh viết về miền quê yêu dấu Cao Bằng của mình như sau: Ba mặt tam giang trôi cuộn cuộn/ Bốn bề tứ trụ đứng chon von. Địa linh tất sinh ra nhân kiệt. Núi non thiêng liêng, hùng vĩ và nên thơ ấy bao đời nay âm thầm tích tụ hào khí để làm nên những tên tuổi chói sáng từ lâu đã trở thành niềm tự hào chung không chỉ cho một vùng đất. Nói riêng về văn chương thời hiện đại, ta có thể nhắc ngay tới nhà thơ dân tộc Dao Bàn Tài Đoàn. Cùng với Nông Quốc Chấn, ông được xem là hai đại diện ưu tú nhất của nền thi ca cách mạng thuộc các dân tộc ít người Việt Nam. Tiếp sau ông là những cái tên quen thuộc khác như Triều Ân, Y Phương về thơ và Cao Duy Sơn, Hữu Tiến về văn. Đấy là chưa kể tới những Hoàng Quảng Uyên, Triệu Lam Châu, Trần Hùng cùng nhiều tên tuổi văn chương trẻ trung mà lấp lánh triển vọng khác nữa. Có thể từ đó mà cả quyết rằng, Cao Bằng là một trong những trung tâm văn chương lớn ở vùng phên dậu phía Bắc của nước nhà.

Có điều, hoa đẹp và thơm đến đâu muốn hương sắc quý được lan xa toả rộng thì không thể thiếu sự lưu truyền, phổ biến. Nói khác đi, rất cần phải trưng ra cho nhiều người thuộc các miền đất và dân tộc khác cùng thưởng lãm. Điều này có phần thuộc về may mắn, nhưng trước hết là tuỳ thuộc vào ý thức của từng người viết, rộng ra là của cả cộng đồng sáng tạo. Mà phải trở thành ý thức thường trực kia. Nếu không thì sẽ giống như mỹ nhân ẩn trong rừng sâu ấy, ai biết sắc đẹp ra sao và sức quyến rũ đến mức nào? Tiếc lắm thay! Mà cũng buồn lắm thay! Vậy nên, tôi rất mừng và có đôi chút ngỡ ngàng khi cầm trên tay bản thảo tập phê bình văn chương đầu lòng của một người viết có nghề, lại là một cây bút nữ người dân tộc Tày lớn lên từ địa tầng văn hoá phì nhiêu Cao Bằng - Bắc Kạn.

Vâng, trước hết, phải được học nghề để hành nghề một cách tự giác. Bởi, đây không phải là sáng tác mà là nghiên cứu, phê bình. Người ta có thể viết văn từ năng khiếu, nhưng không thể viết phê bình chỉ bằng cái bẩm sinh. Nếu không học hành bài bản đến nơi đến chốn, nếu không thường xuyên mài sắc tư duy văn học và bồi đắp vốn liếng văn chương thì chớ nghĩ tới việc đeo đẳng cái nghề phê bình nặng nhọc này, nói gì tới những đóng góp thực thụ được nhiều người ghi nhận. Cô giáo văn học Thu Bình có được điểm xuất phát căn cơ ấy. Chị lại là người dân tộc Tày. Tôi muốn nhấn mạnh điểm này. Quý lắm đấy! Vì, nói gì thì nói, phê bình văn chương bao giờ cũng là chuyện đồng điệu, chuyện sẻ chia. Trên cơ sở hiểu biết, cố nhiên là thế. Chung hoàn cảnh, nhất là chung tiếng nói, thì dễ chung tâm tình, chung mạch điệu trong cảm nhận và xét đoán văn chương.

Xin nhắc tới trường hợp Bàn Tài Đoàn. Ông chủ yếu sáng tác bằng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, tạo ra sức tác động xã hội sâu rộng đối với đồng bào thân thuộc của ông mà người thuộc dân tộc khác khó lòng hình dung được hết. Tiếc là việc dịch thơ ra tiếng Việt đã làm mất mát đi khá nhiều về ý tứ, nhất là về âm điệu, nên nhiều người không cảm nhận được hết cái hay dễ lan truyền trong môi trường riêng ẩn tàng trong đó. Văn chương vốn là nghệ thuật ngôn từ kia mà! Rất khó đánh giá cho thấu đáo giá trị thơ ông cũng như nhiều nhà thơ sáng tác bằng chữ viết dân tộc ít người là vì thế. Thu Bình có được điểm tựa này. Đôi lúc chị còn đằm mình trong sáng tác nữa. Rất dễ hiểu vì sao chị lại có khả năng hoá thân đến như nhập làm một vào thế giới nghệ thuật của các nhà thơ, nhà văn dân tộc và miền núi hơn nhiều người khác. Bởi vậy, nhiều dòng nhiều trang trong cuốn sách, dẫu viết về một tác giả hay cả phong trào, dẫu đánh giá về văn hay thơ, dẫu luận bàn về một tác phẩm hay cả tập sách, hầu như khi nào tác giả cũng hết mực đề cao một chữ Tình. Với quê hương, đất nước. Với đồng tộc, giống nòi. Mà trên hết và trước hết là giữa con người với nhau. Trong muôn trùng gian khó và thách thức. Ý nghĩa văn hoá chợt bừng sáng, góp phần soi tỏ thiên nhiên cùng mọi mối quan hệ xã hội muôn màu muôn vẻ của một vùng đất. Từ đấy, người đọc dễ bổi hổi bồi hồi theo từng con chữ có hồn cùng dòng cảm xúc thường ngập tràn của người viết.

Dẫu với một cảm tình như thế, tôi vẫn không nghĩ những trang phê bình của cây bút nữ mới vào nghề này chỉ toàn những cái hay, cái đẹp. “Mỹ trung” ở đây hẳn là còn không ít “bất túc”. Tôi chỉ mong Thu Bình giữ mãi nỗi đam mê với nghề viết, rồi dần dà vươn cánh tay ra xa hơn để hái những những giá trị văn chương đặc sắc thuộc các vùng đất và dân tộc khác nữa. Như Tây Bắc, Tây Nguyên, và Tây Nam Bộ... chẳng hạn. Khi ấy, chắc cái tầm của một nhà phê bình sẽ được tôn cao hơn nhiều. Riêng với tập sách này, tôi hy vọng các bạn hãy bằng những tấm lòng ấm áp để đáp lại một tấm lòng ấm áp. Cầm cuốn sách lên, rồi trân trọng lần giở từng trang, chắc các bạn sẽ ít nhiều đồng cảm với những suy nghĩ ấy của tôi.

Xin chúc tác giả và bạn đọc gặp nhiều cơ may trên hành trình văn chương rất giàu ý nghĩa mà cũng thật giàu ý thức của chính mình.

                      

                                                                                                                         Đà Lạt, 31/05/2012

                                                                                                                   PGS-TS. Phạm Quang Trung