Đối thoại cùng Inrasara

Cuộc đời của chúng ta bắt đầu kết thúc khi chúng ta im lặng về những điều lẽ ra phải lên tiếng 

                                                                                                       - Martin Luther King

            Với tôi, cái tên Inrasara - Phú Trạm vốn chẳng xa lạ gì. Chúng tôi cùng dự Trại viết vào mùa hè năm 1996 do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức dành riêng cho các cây bút Dân tộc và Miền núi thuộc các tỉnh phía Nam. Ấn tượng hơn cả khi ấy là những cái tên đi cùng với những biệt danh dần dà trở nên thân thuộc: “Công chúa Êđê” - Linh Nga, “Gấu rừng Lạng sơn” - Lương Định và “Ngọn tháp Chàm cổ” - Inrasara. Năm sau - 1997, Linh Nga, Lương Định và tôi được kết nạp vào Hội, rồi vào năm 1998 đến lượt Inrasara. Kể từ đó, tôi rất quan tâm tới bạn văn trẻ dân tộc Chăm bởi lúc đó tôi nghĩ anh rất giàu nghị lực và khát vọng văn chương. Bằng cớ là ngay sau đấy tôi đã nồng nhiệt viết một bài phê bình tâm huyết về thơ anh có tên Thơ Inrasara - Phú Trạm, đến từ quan niệm. Bài viết cùng một lúc đăng tải trên nhiều tạp chí chuyên về văn chương khắp trong Nam ngoài Bắc. Lời kết ẩn chứa sự lý giải cùng nỗi kỳ vọng của tôi đặt nơi người bạn văn người Chăm: “Cái quí là ở chỗ, anh biết lọc lựa, nhất là biết thâu nhận để biến cái hay của người thành cái hay thấm vào tim óc của chính bản thân mình. Được vậy là nhờ sự gắng gỏi của bản thân. Được vậy còn là nhờ ánh sáng tinh khôi của thời đại mới. Chắc anh và đông đảo bạn đọc cũng đều nghĩ như thế”. Từ đó tới nay, 15 năm trôi qua rất nhanh, biết bao vật đã đổi sao đã rời, và lòng người cùng sự nghiệp con người cũng đổi rời theo. Bởi vậy, tôi thường xuyên phấp phỏng dõi theo sự nghiệp của Inrasara - Phú Trạm để rồi không ít buồn vui cùng nó. Và, đến lúc này, trong tay tôi là một bài viết mới mang tên anh trên Tạp chí Nhà văn số 5/2011 có cái tựa đề không hề đặc biệt nhưng lại ẩn chứa những ý tưởng “đặc biệt”: Lặn sâu vào dân tộc để sáng tạo cái mới. Từ “đặc biệt” sau tôi chủ ý đặt trong ngoặc kép vì đó là những ý tưởng quyết định lối diễn giải và lối diễn đạt rất “khác” (từ tác giả ưa dùng trong bài viết, như: “Vấn đề là cái KHÁC” - viết in trong nguyên bản) so với phần đông những người “khác” trong đó có tôi.

            Bởi vậy, tôi đã đọc và nghĩ khá kỹ về bài viết của nhà thơ Inrasara. Tôi đã nhận ra những gì? Không phải không có trong đó những lời luận bàn về bản sắc dân tộc trong văn hóa, văn chương đúng đắn và đứng đắn đâu. Nhưng nếu ngẫm đi ngẫm lại thì lại thấy thật ra không có gì mới mẻ cả. Đoạn văn dài sau đây là một dẫn dụ: Nếu chỉ gom góp để bảo tồn, họ sẽ làm kẻ giữ kho của cha ông, không hơn. Tiếp thu và sáng tạo. Tiếp thu mình và thiên hạ để làm ra cái mới. Vẫn còn là chưa đủ, khi ta nhìn truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc như là bất di bất dịch. Vì ngay bản sắc cũng là các sáng tạo trầm tích qua nhiều thế hệ. Có thể nói đấy là tiếp thu và sáng tạo được ông cha ta chia ở thì quá khứ - (Chỗ này khá trừu tượng đến mức mù mờ! - PQT). Thế hệ đến sau sẽ gọi là bản sắc điều họ đang dốc sức sáng tạo hôm nay. Bản sắc không chịu dừng lại ở những gì đã có, không cứ mãi vuốt ve lòng kiêu hãnh qua bảo vật cha ông để lại mà phải dám làm ra sản phẩm mới, có đóng góp mới”. Xin được lọc lựa ra những ý chính trong sự lập luận đôi khi quanh co và khó hiểu của người viết. Và thấy không có gì mới ở đây cả, vì nhiều người trước Inrasara đã bàn rồi, sâu sắc và thuyết phục hơn nhiều kia. Nghĩa là cái cây đã đẵn đổ từ lâu, cứ nâng lên đặt xuống hoài rất dễ gây ra cảm giác “nhàm” và “nhảm” như lời của chính tác giả.

Vậy là, trong bài viết của Inrasara, nếu có cái đúng thì không thật mới, còn cái mới nếu có thì lại rất dễ gây ra sự nghi ngại, hơn thế, sự phản ứng tự nhiên nơi người đọc. Nói thẳng ra, rất nhiều vần đề tôi nghĩ khác với người viết, từ những cái chung, bao quát đến những cái riêng, cụ thể. Ngay đoạn mở đầu cũng đã khiến tôi, và chắc không chỉ riêng tôi, băn khoăn, thậm chí hoài nghi. Bằng một nhận xét thẳng thắn, quả quyết và có thể nói rất độc lập, rất độc đáo đến mức khác lạ, khác thường, nhà thơ dân tộc Chăm của chúng ta đã viết thế này: “Truyền thống và hiện đại, tiếp thu và sáng tạo, tiếp nhận tinh hoa thế giới,... là (Hình như ở đây thiếu từ “những” thì phải - PQT) cụm từ xuất hiện thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng, khi đề cập đến văn hóa - hai thập niên qua. Lặp đi lặp lại đến thành nhàm. Nhàm và nhảm. Nhất là trong sáng tác văn học… Tất cả”. Theo tôi, đây là ý kiến trực tiếp bàn về một vấn đề hệ trọng liên quan tới việc định hướng văn hóa, văn chương dân tộc, nhưng lại được viết ra với một nhận thức khá “mơ hồ”, từ đó nảy sinh không ít “ngộ nhận” - xin dùng lại những lời tiếp theo của tác giả. Lẽ nào, trong chừng mươi năm trở lại đây, Inrasara không hề biết tới cuộc Hội thảo Bản sắc dân tộc trong văn hóa văn nghệ do Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam cùng Trung tâm Nghiên cứu Quốc học tổ chức vào tháng 1/2001 tại TP. Hồ Chí Minh - nơi anh đang sinh sống. Gần hơn là cuộc Hội thảo do Hội đồng Lý luận phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương tổ chức tại TP. Hội An nằm cách di tích cổ Mỹ Sơn không xa vào tháng 8/2009 với chủ đề Tính dân tộc và tính hiện đại trong văn học nghệ thuật Việt Nam hiện nay. Còn muốn nói riêng về bản sắc văn hóa, văn chương dân tộc thiểu số thì lẽ nào tác giả lại không từng đọc và ngẫm hai tập sách chất chứa nhiều ý nghĩa mang tính nền tảng của nhà thơ Nông Quốc Chấn - người mà anh phải hàm ơn là Một vườn hoa nhiều hương sắc (1977) và Dân tộc và  văn hóa (1985). Có thể, nhiều vấn đề phức tạp và mới nảy sinh chung quanh bản sắc văn hóa - văn chương còn chưa được giải quyết rốt ráo và thấu đáo, nhưng bảo tất cả những ý kiến bàn luận trước nay về chủ đề này đều “nhàm và nhảm” thì thật là không phải. Mà sao Inrasara lại ưa lối nhận xét ấy thế nhỉ? Bởi, tôi từng bắt gặp trong những bài viết khác nhau của anh cùng một ý tứ thậm chí cùng một lối diễn đạt như vậy hoặc tương tự như vậy. Không phải một lần đâu. Ví như, trong bài Thơ Dân tộc thiểu số, từ một hướng nhìn động, anh nhận xét về lối viết của một tác giả thế này: “Ông liệt kê tuần tự các thao tác hầu như khá nhảm, và tầm thường đến nhàm chán”. Và đây nữa, một nhận định với một tác giả khác trong một bài viết khác: “Chỉ là những ý kiến tùy tiện và nhảm nhí”  (Thế nào là phê bình lập biên bản)…   

Xin được lưu ý, cái điều mà Inrasara nặng lời chê trách, rằng “ta hiểu mơ hồ và làm mơ hồ”, “từ đó xảy ra bao ngộ nhận” về bản sắc văn hóa - văn chương các dân tộc thiểu số trước nay vẫn có ngoại lệ, và là một ngoại lệ duy nhất: đó là dân tộc Chăm của anh. Không hề có ý định úp mở, vòng vo, Inrasara đưa ra lời giải thích: “Bởi, gần nửa thế kỉ trôi qua từ khi đất nước làm một, đâu là công trình khoa học thật nền tảng về toàn cảnh văn học cổ điển Nùng, Dao, Êđê, Bana, Mông, Thái... - PQT lưu ý, được trình làng, để thế hệ sáng tác hôm nay có thể ‘tiếp thu và sáng tạo’? Không hiểu mình, ta hổng chân và mất đất đứng; không nhận ra mình ở đâu để khởi đi từ đâu, ta dễ làm lang thang lạc lõng; không biết người thiên hạ đã đi đến đâu, hoặc ta đóng cửa ngồi lại với bản sắc hoặc ta hoang mang, mất tự tin”. Hệ quả tất yếu theo anh là việc đòi hỏi sự thấm nhuần bản sắc dân tộc ở các cây bút hiện đại thuộc các dân tộc ấy là hoàn toàn vô vọng đến mức thành không tưởng. Do vậy mà “bộ phận thơ kia (cố nhiên trừ dân tộc Chăm của anh) thi thoảng lộ ra vài cái đẹp riêng đáng trân trọng” nhưng nhìn chung thì “từ ngữ cứ quẩn quanh với các thể thơ truyền thống cho đến cảm thức mãi nằm lại ở hệ mĩ học nông nghiệp, từ nhịp điệu thơ sang thi ảnh, từ đề tài cho đến ngôn từ sử dụng, tất tần tật”. Hơn thế, “vẫn các đề tài ấy và vài thể thơ ấy, quanh đi quẩn lại vẫn số lượng từ vựng ấy với các thủ pháp nghệ thuật ấy”, “lặp đi lặp lại”, “không khác, không dám thử bước chệch khỏi quỹ đạo đã vạch sẵn - dù chỉ một lần”. Để rồi: “Chúng ta cứ thế mà ‘đậm đà bản sắc dân tộc’”. Inrasara viết với giọng điệu giễu nhại rất hậu hiện đại - thứ lý thuyết anh vốn tôn sùng.

Tôi nghĩ, hình như ở đây, Inrasara đang đo tài sản tinh thần của người khác bằng vốn hiểu biết quá nghèo nàn của chính mình thì phải? Bởi, tôi xin phép nêu ra hai dẫn chứng về các công trình khoa học anh gọi là “thật nền tảng về toàn cảnh văn học cổ điển” của hai dân tộc thiểu số tiêu biểu cho hai vùng miền thôi. Một là, trường hợp nhà nghiên cứu - nhà thơ danh tiếng người Tày Triều Ân. Một số công trình quý giá mà ông đã âm thầm cống hiến không chỉ cho dân tộc mình, để qua chúng, ta có điều kiện tìm hiểu sâu hơn bản sắc văn hóa - thơ văn dân tộc Tày, gồm: Ca dao Tày Nùng - 1994, Truyện thơ Nôm Tày - 1994, Tục cưới xin người Tày (Chủ biên) - 1995, Từ điển thành ngữ tục ngữ dân tộc Tày (Chủ biên) - 1996, Lễ hội Hằng Nga - 1997, Then Tày những khúc hát (Chủ biên) - 2000, Từ điển chữ Nôm Tày (Chủ biên) - 2002, Chữ Nôm Tày và truyện thơ - 2003. Đấy là chưa kể tập khảo cứu Ba áng thơ Nôm Tày và thể loại đã được biên soạn xong nhưng chưa có điều kiện ra mắt bạn đọc. Và hai là, việc nghiên cứu với quy mô lớn văn hóa truyền thống Tây Nguyên - nơi các nhà văn, nhất là các nhà thơ nhiều dân tộc miền đất này đã đằm mình trong sáng tạo từ bao năm nay. Xin không nhắc tới hàng trăm bài báo, luận văn, luận án nghiên cứu sử thi, truyện cổ Êđê, Bana, M’Nông… đã được tiến hành thường xuyên và hiệu quả. Chỉ nói riêng những công trình khảo cứu đã xuất bản thành sách dầy dặn vào những năm gần đây mà tôi được biết vì tác giả là những đồng nghiệp cùng trường với tôi. Đó là các tập Nhóm sử thi dân tộc Bahnar (2006) của PGS - TS. Phan Thị Hồng và Tìm hiểu truyện cổ Tây Nguyên - trường hợp Mạ và K’ho (2005) của TS. Lê Hồng Phong. Còn sự nghiệp được kết tinh từ tâm huyết và năng lực của hai nhà nghiên cứu văn hóa - văn chương dân gian Tây Nguyên ở Đắc Lắc mà từ lâu tôi có mối quan hệ nghề nghiệp khá mật thiết là Trương Bi và Linh Nga thì có lẽ bất cứ ai quan tâm tới vùng đất này đều biết cả.

Không khó nhận ra chủ trương nhất quán của Inrasara. Đó là: muốn gìn giữ và tiếp nối truyền thống dân tộc thì điều kiện tiên quyết là phải tìm hiểu thật rõ ràng, đầy đủ và có hệ thống bản sắc dân tộc mình bằng cách đẩy mạnh công việc nghiên cứu văn hóa, văn chương, rồi công bố trên những tạp chí riêng của từng dân tộc. Do vậy mà anh lấy làm tiếc (?!) cho các dân tộc thiểu số khắp Bắc Trung Nam khác, vì ở những phương diện này, xem ra họ không có được nhiều may mắn như dân tộc Chăm của anh. Bằng chứng ư? Về các công trình khảo cứu, thì đây: bộ sách Văn học Chăm, khái luận - văn tuyển ba tập của chính Inrasara. Đấy là chưa kể tới tập tiểu luận Văn hóa - xã hội Chăm, nghiên cứu & đối thoại. Còn tạp chí ư? Thì đây: “đặc san Tagalau”, Tuyển tập sáng tác - sưu tầm - nghiên cứu Chăm do chính anh làm chủ biên (*). Anh khẳng quyết: “Đó là nền đất họ (tức các cây bút trẻ người Chăm) đã đứng, đứng để có thể tự tin bước đi”.

Cái “tôi” của người viết từ đây bắt đầu lộ diện, ngày một lớn hơn, rõ hơn để rồi dường như lấn lướt tất cả cùng với truyền thống đáng tự hào của dân tộc Chăm mà anh tự xem là một đại diện, hơn thế một kết tinh. Nói thế, chắc nhiều người có thể không tin. Nhưng con chữ trong bài viết cứ lồ lộ cả ra đấy, có không muốn tin cũng chẳng được. Đây, tác giả chủ động lồng thơ mình vào lời dẫn giải: “[t]rong hướng vọng chiếm lĩnh đỉnh cao “tử số” [mọi sức rướn đang ngoi tìm tử số/ ngậm tiếng hát riêng lẻ - thơ Inrasara]...”. Và đây nữa, tác giả tự tán dương mình trong sự đối sánh hơn thua với các nhà thơ dân tộc ít người phía Bắc: “Khác với Y Phương, Dương Thuấn, Inrasara tìm đến lối so sánh phức hợp, đa tầng. Vế so sánh được làm rõ, biểu cảm bằng nhiều những phương trình so sánh khác: Cây xương rồng như nhà sư khất thực theo vết chân gió trái mùa lang thang/ Lạc bước qua triền đồi quê tôi để bị chịu cầm tù trong cát.../ Như ẩn sĩ cô đơn - yêu thương mà không cần nước mắt/ Sẵn lòng cho nụ cười khinh bạc của lùm cỏ dại hay cụm mây hoang (Sinh nhật cây xương rồng, 1997)”. Cũng có khi tế nhị hơn, người viết dẫn lời đánh giá của người khác về mình - chỉ đáng buồn là được lấy ra từ một luận văn thạc sỹ: “Vế so sánh và vế được so sánh lần lượt được mở rộng, đối chiếu với nhau, soi sáng nhau, biểu đạt giá trị của nhau. Thơ tự do, với việc mở rộng tối đa hình thức của nó đã giúp Inrasara tạo ra những vế so sánh với cấu trúc toàn vẹn, nhiều tầng bậc hình ảnh, gợi ra cái đa dạng, bề bộn, sinh động vốn có của cuộc đời, khơi dậy cả trầm tích của văn hóa Chăm”. Nhiều hơn cả là Inrasara công khai trút bỏ sự tế nhị cần có, tự lấy mình để chú giải chính mình. Xin bạn đọc hãy cùng chứng kiến: 12 chú thích trong bài báo thì có tới 5 tự chú: Xem Inrasara, Song thoại với cái mới, Nxb Hội Nhà văn, 2008, tr. 121-171 - Chú thích 1; Xem Inrasara, Văn học Chăm I, Khái luận - văn tuyển, NXB Văn hóa Dân tộc, 1994; Văn học Chăm II, - Trường ca, Nxb Văn hóa Dân tộc, 1995; Văn học dân gian Chăm - Tục ngữ, Thành ngữ, Câu đố, Nxb Văn hóa Dân tộc và Đại học Tổng hợp TP.HCM, 1995 - Chú thích 3; Xem: Inrasara – “Về hai cách nói”, tạp chí Tia sáng, 20-1-2010” - Chú thích 4; “Xem Inrasara, Văn học Chăm I, Khái luận - Văn tuyển, Nxb Văn hóa Dân tộc, 1994” - Chú thích 7; Và: Tôi đã tiếp nhận ‘truyền thống’ này để làm ra Bài thơ không viết” (Sinh nhật cây xương rồng, Nxb Văn hóa Dân tộc, 1997) - Chú thích 10. Ấy là tôi chưa kể tới những chú giải khác ít nhiều có liên quan tới Inrasara. Thật là một hiện tượng hy hữu. Có thể tự giới thiệu mình, thậm chí tự tán dương mình, nhưng tự mình nghiên cứu mình thì hầu như xưa nay chưa từng có. Có thể xem đây là một điển hình của thói narcissism (tự khen mình) trong giới văn chương xưa nay chăng? Mà tôi nghĩ chắc không chỉ riêng đối với xứ ta thôi đâu! Ở đây, có lẽ anh nên thấm nhuần tinh thần giải thoát khỏi tên tuổi vô cùng sang cả của dân tộc Chăm. Để Inrasara có thể giữ được thái độ an nhiên trước  “công” (sự nghiệp) và “danh” (tên tuổi) mà có lần anh cho rằng “có cái nỗi chi mà to thế chứ. Mèng ôi!” (Xem Tinh thần triết học và vấn đề xã hội Chăm hiện nay - Ủng hộ chuyên đề: Người Chăm có thông minh không?). Chỉ khi ấy, Inrasara mới mong noi theo nhà thơ Hoelderlin mà nghĩ được rằng: Đầy tràn trong công danh sự nghiệp/ Nhưng con người sống một cách thơ mộng trên mặt đất này.

Bây giờ tôi xin đi vào những lời bàn luận trực tiếp của Inrasara đối với các cây bút trẻ dân tộc thiểu số mà trọng tâm là người Chăm. Ai cũng biết, việc phát hiện, đào tạo và bồi dưỡng các nhà văn, nhà thơ trẻ đã được đặt ra từ lâu và bao giờ cũng thu hút sự quan tâm của những thế hệ đi trước đặc biệt là với những ai luôn trăn trở với nền văn chương mai hậu của dân tộc. Điều này càng khẩn thiết và bức thiết hơn đối với bộ phận văn chương, rộng ra là bộ phận nghệ thuật các dân tộc thiểu số nước ta. Là nhà thơ người Chăm, Inrasara dành sự quan tâm đặc biệt cho các tác giả trẻ đồng tộc như Bá Minh Trí, Diễm Sơn, Jalau Anưk, Sonputra, Đồng Chuông Tử, Tuệ Nguyên... Không sao cả! Và để làm bật nổi sự khác biệt trong thi ca giữa các tộc người, anh chủ động đối chiếu với các cây bút trẻ người dân tộc khác như Bùi Tuyết Mai (Mường), Hoàng Chiến Thắng (Tày), Hoàng Thanh Hương (Mường), H'Trem Knul (Êđê)... cũng là hợp lẽ. Vấn đề là mục đích rồi thái độ và cách thức so sánh ra sao mà thôi. Riêng ở điểm then chốt này, có ít nhất hai điểm tôi không giống Inrasara.

 Một là, trong khi đối chiếu, Inrasara chỉ mới thấy sự khác biệt mà không nhận ra sự đồng nhất giữa các cây bút cùng là dân tộc ít người, theo tôi, là không thật thuyết phục đâu. Anh viết: “Sống xen cư và cộng cư với người Kinh, tiếp nhận thơ dân tộc Việt ngay từ thuở bập bẹ abc, nhưng Chăm có lối nghĩ khác – PQT nhấn mạnh. Sống dọc bờ biển Duyên hải Nam Trung Bộ, khác với các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc hay Tây Nguyên, các thi sĩ trẻ Chăm viết khác – PQT lưu ý”. Anh nghĩ, phẩm chất “đặc Chăm” tập trung ở chỗ “không người Chăm trẻ tuổi nào khi cầm bút viết văn làm thơ mà không ý thức đến văn hóa dân tộc”, thậm chí cả những nỗi “ưu tư về văn hóa dân tộc luôn đặt lên hàng đầu” vẫn “tiếp tục đặt ra” với “tất cả”, “không khác” và không loại trừ một ai giữa lúc này. Tôi nghĩ, chẳng lẽ phẩm chất đặc biệt quan thiết này đối với người cầm bút lại không đặt ra trong việc trao dồi đối với tất cả các cây bút trẻ dân tộc thiểu số sống trên dải đất thân thương hình chữ S này. Bá Minh Trí sáng tạo ra những vần thơ gần gũi được Inrasara dẫn ra khiến tôi thành thực trân trọng mặc dầu chất thơ cũng vừa phải thôi, như: Phan Rang/ nắng, gió và cát/ biển xanh mênh mông hát/ Hoa Tagalau tím nở đồi hoang/ vin bóng những tháp Chàm/ Tôi sinh ra nơi ấy!/ Lớn lên cùng cây lúa, con mương/ Đánh đổi tuổi thơ với khó nhọc/ Để rồi chẳng ngâm được Ariya/ chẳng viết được một chữ K/ như lạ xa với dòng máu Chăm. Chỉ có điều, tôi không thấy sự khác biệt nào trong mối liên hệ với hình ảnh dân tộc thân thuộc như trong thơ của Hoàng Chiến Thắng: Câu then ngủ quên/ Mắt ngày rực xém nỗi đau/ Câu then ru vào đêm sâu/ Khúc đại ngàn/ Cho người về nhặt lá/ Ta lên rừng hái quả/ Câu then cựa mình/ Đắng hoa mùa mật ngọt/ Ta cõng ngày lên nương/ Người địu ngày xuống suối/ Câu then ngái ngủ/ Ru phía ngược chiều. Riêng tôi, nếu được hỏi về hứng thú thẩm mỹ, tôi sẽ không ngần ngại dành ưu tiên cho những câu thơ sau hơn những câu thơ trước. Có thể nói, “các liên tưởng gần, giản đơn, mộc mạc” (lời Inrasara) cũng như nhau. Ngay cả những vần thơ sau của Jalau Anưk nữa: Mùa đã thức/ Ginơng đã vang/ Xaranai đã véo von từ cõi xa xăm gọi bừng mặt trời ngái ngủ/ Gọi lùi bước Yang toan đi/ Gọi giật hồn tha ma lảng vảng/ Gọi ầm ầm tapuk bhaw/ Gọi phụt mạch nước ngầm trên mảnh vườn bén liếc gót chân thô. Nào có khác gì mấy so với cách liên tưởng trong những vần thơ sau của Hoàng Thanh Hương đâu: Từ ban mai/ bầy trẻ ríu ran túa ra/ từ những bậc thang già/ sương đầm gót nâu.// Ama đặt vào gùi bầu nước/ lùa bầy dê đi/ amí dắt lại cạp váy/ địu em lên rẫy.// Từ ban mai/ những bàn tay hát/ hạt mầm nhú lên/ từ những vạt đồi khô nứt/ thơm tho gọi nắng xuân về. Xin chớ đào sâu đến thành ngăn cách giữa đội ngũ những người cầm bút các dân tộc ít người trẻ trung vốn ít ỏi, đang gắng chắm chút bồi đắp cái riêng trong sự hòa điệu với cái chung này. Ngay sự so sánh nhằm dẫn tới sự đối lập trong cảm nhận về phố giữa Bùi Tuyết Mai với Jalau Anưk được Inrasara chủ ý nhấn mạnh cũng không thật rõ rệt cho lắm. Anh cho rằng, “xuống phố” với nhà thơ trẻ người Mường “nhẹ nhàng ‘mùi hoa sữa’, ‘bóng chim xanh’, ‘bóng chú mèo’ yểu điệu cổ điển của một thời xa lơ lắc”. Trong khi với cây bút trẻ người Chăm thì “thôi thúc người cùng thế hệ dũng cảm bước tới, cũng là cách tự thôi thúc mình: phố cũng thích Xaranai/ phố cũng say đắm lòng tháp cổ/ phố cũng rộn ràng với Ginơng/ phố cũng trải lòng với điệu múa Apsara/ phố cũng hiểu Ariya/ phố cũng sụt sùi nghe chuyện ngày xưa bà kể.

Không loại trừ cả giọng thơ trẻ người Chăm giàu cá tính khác là Đồng Chuông Tử. Inrasara bảo: “Anh đi, dự tưởng một giấc mơ mới, giấc mơ sinh thành từ cái nhìn phóng chiếu về phía thế giới rộng lớn hơn, thuộc giai độ địa cầu (Xin thú thật nghĩ mãi mà tôi mới hiểu mang máng cụm từ này của anh - PQT): trong giấc mơ xanh tươi của bầu trời tôi/ trái đất đã cạn khô nước mắt từ những tiếng kêu nơi lịch sử tội tình trổ nụ/ nhiều đời mây tí tách hiến thân vào nghi lễ cầu nguyện muộn màng/ thế hệ bị doạ nạt cấp tính khát khan vòm vọng”. Đúng là cây bút thơ này, nói theo cách của Inrasara, đã có ý thức dứt áo ra đi”.  Vì tác giả ý thức rằng “nếu chỉ khám phá mình như là mình thì đã đủ chưa?”, nên rất cần “không từ chối vận dụng mọi thủ pháp học được từ bên ngoài” để rồi “chọn lối thơ tự do không vần và nhịp chỏi, hoặc thể thơ xuôi khả năng chuyển tải tâm thế giới trẻ trong thế giới hiện tại phồn tạp”. Nhưng liệu đây có phải là đặc sản độc quyền của riêng Đồng Chuông Tử? Không rõ Inrasara đã đọc bài thơ Nhật ký Hà Nội của Bùi Tuyết Mai chưa nhỉ? Nhà thơ trẻ người Mường rõ ràng đã biết thủ đắc một thứ thi pháp rất hiện đại: Chiếc điện thoại của tôi gừ gừ/ như con mèo bị người khác dọa lấy con chuốt nó vừa vồ được/ Máy vi tính của tôi đã lách cách nhiều giờ như tiếng thoi dệt của bà tôi/ Hà Nội tôi ở Mường Trời tầng chín và đi cầu thang máy/ Mèo và thoi lên xuống làm sao? Giấc mơ mười bảy của tôi biết đội bông từ đâu?... Hàng loạt những ưu tư nóng hổi mà không hề rời xa truyền thống cổ điển. Tôi hiểu được cái lý nằm sâu trong khổ kết của bài thơ không thể bảo là không cách tân này: Với chiếc nậm bầu khô đựng rượi/ Tay tôi chạm vào khoảng không/ Chẳng lẽ tôi đã đánh mất là bùa khiến người say tôi? (Tạp chí Văn hóa các dân tộc – số 10/2010).  Ngay cả H'Trem Knul vốn hiền lành và chân chất là thế nhưng đôi khi cũng cựa mình trong khát vọng sáng tạo không ngưng nghỉ. Chẳng hạn, ai có thể bảo đoạn thơ có thể còn giản đơn trong bài thơ Chị và em gái sau đây không ẩn chứa những yếu tố mới mẻ trong cách viết: Tiếng ve đấy, em có nghe thấy không/ Em đừng khóc khi mẹ đi gặt lúa. Bông lúa sẽ chẳng chịu theo mẹ về tới nhà ta đâu! Cái thang nhà ta khó trèo, mẹ sẽ vấp phải thang mà té xuống nếu em cứ khóc.

Bây giờ, tôi xin dừng lại ở sự khác biệt trong cách xuất hiện của các cây bút trẻ người Chăm mà Inrasara có ý đề cao. Anh bảo: “Thế giới mở, văn hóa internet ra đời tạo không gian mênh mông cho giới trẻ thể hiện. Có thể in photocopy như Tuệ Nguyên hay in chính thống như Đồng Chuông Tử, hoặc chỉ chọn Tagalau đặc san riêng Chăm để kí gởi sáng tác của mình như nhiều cây bút mới khác. Chưa vội ra mắt, hoặc nếu có thì chỉ chọn mạng internet để đăng tác phẩm mình, như Jalau Anưk. Trình diễn thơ, bạn trẻ Chăm cũng không chừa. Nghĩa là tất tần tật”. Thực tế quả đúng như anh nói. Trong các cây bút trẻ Inrasara nhắc tới chỉ có Đồng Chuông Tử in được hai tập thơ là Thèm ăn (Nxb Thanh niên - 2007), Mùi thơm của im lặng (Nxb Hội Nhà văn - 2009) và Tuệ Nguyên in được một tập - Những giấc mơ đa chiều (Nxb Hội Nhà văn - 2009). Còn tất cả các cây bút khác xuất hiện hoặc dưới dạng samizdat (tự in) như Khúc tấu rối bù - 2007 và Ch[tr]ào & Những vết bẩn - 2008 của Tuệ Nguyên, hoặc trên các mạng văn chương cá nhân và ngoài nước như Tuệ Nguyên, Bá Minh Trí, Diễm Sơn, Jalau Anưk, Sonputra… (Các website Damau.org, Tienve.org, Inrasara.com… ) nhất là tuyển tập Tagalau. Nhưng lẽ nào sự xuất hiện kiểu ấy chỉ đơn thuần chứng tỏ nét ưu thế của các cây bút trẻ Chăm so với các cây bút trẻ dân tộc ít người khác? Tôi không nghĩ vậy. Hẳn nhiên internet có nhiều cái hay, như sự nhanh nhạy, kịp thời trong sự tương tác kỳ lạ giữa người viết và người đọc… Nhưng mạng, nhất là các mạng cá nhân, cũng không ít cái dở. Trách nhiệm xã hội không phải với ai và lúc nào cũng cao. Đặc biệt, sự truyền bá ở vùng dân tộc thường còn hẻo lánh và lạc hậu thì không thể rộng rãi. Trong khi, ai cũng biết, đây mới là địa bàn ảnh hưởng chính của văn thơ dân tộc thiểu số.

Hai là, trong nhận định, Inrasara mới nêu mặt đáng khen mà không chỉ ra chỗ hạn chế của các cây bút trẻ người Chăm. Từ đó, trong nhìn nhận so sánh, Inrasara dường như chỉ thấy sự vượt trội của các cây bút trẻ này so với các cây bút trẻ thuộc các dân tộc ít người khác khắp Trung Nam Bắc. Anh đưa ra những đánh giá bao quát thế này: “Dù truyền thống kia bị đứt mạch hơn hai thế kỉ, khi hội đủ tố chất để thừa hưởng tinh túy kia, các cây bút trẻ Chăm vẫn có thể biết ‘tiếp nhận và sáng tạo’ từ kho tàng bản sắc văn học dân tộc. Những Bá Minh Trí, Diễm Sơn, Jalau Anưk, Sonputra, Đồng Chuông Tử, Tuệ Nguyên,... thời gian qua, phần nào đó đã làm nên tiếng thơ riêng biệt của thế hệ mình. Và, cho dù họ làm thơ bằng tiếng Việt không phải là tiếng mẹ đẻ, hơi thở truyền thống thơ ca Chăm cùng vài thủ pháp đặc trưng của cha ông vẫn được họ mang vào tác phẩm mới đầy sáng tạo”. Từng cây bút, anh cũng có lối nhận xét tương tự. Đặc biệt là với Tuệ Nguyên. Inrasara hào phóng khen rằng: “Ưu tư, tìm tòi và khám phá lại. Tuệ Nguyên đã dũng mãnh dấn bước trên con đường mù mờ đó”. Anh đồng thời dẫn ra những dòng thơ sau của Tuệ Nguyên với những đánh giá cao nhất có thể có đối với người viết trẻ: Thế giới thực là ở bên kia hiện thực đời sống ngày qua ngày (Câu này Inrasara viết khá mơ hồ! - PQT), một thế giới mới lạ nhiều cuốn hút đòi hỏi phương cách chinh phục lạ biệt: Tôi đang sống cùng thời đại với họ,/ nhưng khi họ cứ mải mê dò từng bước để đi thì tôi lại nằm một xó tập bay... Ở đó mọi thứ đã hết còn mang bộ mặt đồng bộ, đơn nhất: Tôi đi vào con đường không có bảng chỉ dẫn/ mỗi lần lầm lạc tôi bắt đầu đánh dấu. Và nữa: “Ở đó, Tuệ Nguyên vận dụng nhuần nhị thủ pháp phi tâm hóa thể loại, xóa bỏ ranh giới truyện rất ngắn và thơ”. Còn với Jalau Anưk? Inrasara đề cao cây bút trẻ sớm tự khẳng định này ở khả năng xáo trộn cả ba thứ tiếng Anh - Việt - Chăm trong cùng một bài thơ”, ở “lối ngắt câu, vắt dòng, dấu chéo, dấu gạch ngang được nhiều người tận dụng - triệt để”, và cuối cùng là ở “thứ ngôn từ thông tục, thô ráp của đời thường được sử dụng vô ngại bên cạnh những ngôn từ đẹp đầy tính ‘văn chương’”.

Thôi thì trên phương diện cách viết đề cao dẫu quá một chút cũng chẳng sao. Ái ngại hơn cả là những lời bàn luận của Inrasara về “cái tôi” theo “lối nghĩ khác”  PQT lưu ý, biểu hiện trong thơ trẻ người Chăm. Anh viết: “Không phải những cái tôi như thể cái tôi lãng mạn thơ mộng thuở nào, hay cái tôi sơ giản chân chất đậm đà bản sắc, mà là cái tôi đầy hỗn độn nhiều bất trắc đồng thời biết phản tỉnh và dám tự lật trái mình. Lật trái để cười cợt mình. Lại Jalau Anưk: Thuở ấy tôi đi/ với/ hào quang trước mắt/ ngỡ được tắm trong thế giới diệu kì/ ngỡ hái trọn bao trái cây mơ ước.// Thuở ấy tôi đi.../ mang nông nỗi thời trai trẻ/ bơm háo thắng qua vụn vặt kiến thức/ nuôi xảo quyệt cơm-áo-gạo-tiền phủ bẩn giấc mơ (Tạ lỗi). Tuệ Nguyên cụ thể và sát sườn hơn: Tôi: kẻ không là gì cả / cuộc sống ân sủng và tôi được sống / những thân phận trôi dạt nhấp môi nhại giễu cuộc đời nhau / tôi học được cách cười gượng // Trong địa hạt của tình yêu chân lý và cái chết / tôi chỉ làm kẻ hành khất đứng chôn chân ở ngưỡng cửa / ôm mang cả nỗi thống khổ lẫn niềm vui... hớ (Tôi: kẻ không là gì cả)”. Từ đó, tất dẫn tới lối phản biện xã hội của các cây bút trẻ Chăm mà theo Inrasara, “đa dạng và đa diện, sâu thẳm và dữ dội, đồng thời sâu cay và chua chát”, và cố nhiên, hơn hẳn các cây bút trẻ người dân tộc thiểu số ở những vùng miền khác. Để rồi, cũng theo anh, “bao nhiêu giấc mơ đa chiều và vô lượng chiều. Tuyệt vọng và hi vọng. Những đứa con hư hỏng nổi loạn và bất trị, những đứa con yêu cuồng dại tự do (Tuệ Nguyên), chối từ và ghì níu, ôm ấp nâng niu hay khinh miệt chối bỏ. Tất cả”. Có lẽ ở đây, Inrasara đã đi quá đà chăng? Chẳng lẽ trách nhiệm xã hội ở người cầm bút bị tiêu tan trong sự sáng tạo được coi là vô bờ? Nhất là đối với những nhà văn, nhà thơ trẻ?

Tôi rất lấy làm lạ vì điều này, bởi khi đọc website inrasara.com thấy thái độ của Inrasara đối với các cây bút trẻ đồng tộc có phần không giống thế. Trong Thư Tagalau - 2004, anh đã nhận xét về đội ngũ công tác viên như sau: “Đa phần là Chăm, kiến thức vẫn còn hạn chế, cả cách diễn đạt ý tưởng cũng thế”. Còn đây là đánh giá của anh trong mục Thơ văn trẻ: “Họ là cây viết mới nên cần đăng để khuyến khích. Mở rộng người viết và người đọc”. Gần đây hơn, Inrasara có đánh giá chung về tập Tagalau số mới nhất thế này: “Vừa qua có vài bạn trẻ nhận định Tagalau 11 hơi yếu, nhiều bài còn mang tính phong trào… (Trà Vigia & Inrasara đối thoại xung quanh Tagalau).

Cũng lấy làm lạ khi biết trong những dịp khác, Inrasara xem xét các cây bút trẻ dân tộc thiểu số không phải là người Chăm trân trọng và bao dung hơn nhiều. Như trong bài Văn học Việt Nam: Cần một bứt phá về tư tưởng, anh viết: “Với các cây bút ở các tỉnh phía Nam, tôi đánh giá rất cao: Trà Vigia, Jalau Anưk (Chăm), Niê Thanh Mai và H’trem Knul (Êđê). Chỉ cần đọc qua mươi bài thơ hay dăm ba truyện ngắn của họ cũng đủ biết nó thuộc dòng khác. Khác và lạ… So với văn chương dân tộc thiểu số lẫn dòng chảy của văn chương Việt Nam nói chung”. Hay trong bài Cái đẹp của thơ dân tộc thiểu số, anh bảo: “Tây Nguyên có Niê Thanh Mai, H’trem Knul viết ít, nhưng có giọng thơ khá đặc sắc”.

Càng thấy lạ hơn khi được biết nhiều văn nghệ sỹ người Chăm mà tôi may mắn gặp gỡ và quen biết hầu như không nghĩ và viết về văn chương, nghệ thuật hiện đại của dân tộc mình như Inrasara đã thể hiện. Trà Vigia chẳng hạn. Trong bài Xây dựng và phát triển hay Từ câu chuyện Amư Nhân, Chế Kim Trung và “Làng Chăm ơn Bác”, tác giả khiêm nhường nhìn nhận: “Cộng đồng Chăm nhỏ bé, chưa có thành quả gì nhiều trong lĩnh vực sáng tác văn học nghệ thuật hiện đại...”. Và nữa: “Những tác gia Chăm có thể đếm trên đầu ngón tay, sân chơi còn quá rộng cho một tập thể bé xíu…”. Trà Vigia còn tự xác định: “Phải biết tôn trọng người khác để tự trọng mình, nói nôm na là biết kính trên nhường dưới để tương trợ lẫn nhau. Cứ “ngak tui hatai” làm theo ý mình thì có ngày “O thei ngak di drei o hai/ Tamuh di hatai drei ngak di drei” nghĩa là chẳng ai làm gì hại mình đâu, chỉ vì mình muốn gieo gió nên phải gặt bão”. Tôi tôn trọng và đánh giá cao lối nhìn như vậy.

Để kết thúc bài trao đổi có lẽ đã quá dài của mình, tôi xin được trích một đoạn trong Ghi chép tháng 8-2010 nhân Đại hội Nhà văn Việt Nam của Inrasara: “Ngồi cô độc, mình nhắn tin cho bạn thơ ở Ban Mê Thuột: - 5 nam qua tu khi lam phe binh minh da tu tao ra bao nhieu la ke thu… Chỉ còn lại là nỗi buồn, mênh mông buồn. Tối, tạt qua phòng nhà thơ TMH hỏi thăm tình hình anh…”. Nếu bạn đọc có dịp vào tên miền inrasara.com, nhìn tấm ảnh chụp Inrasara đang ngồi ưu tư viết lách giữa đông đảo đồng nghiệp thuộc nhiều thế hệ và nhiều dân tộc trong hội trường rộng lớn thì có lẽ còn cảm thấy ngậm ngùi và xa xót hơn nhiều. Với riêng anh ư? Còn với cả chúng ta nữa chứ! Phải chăng hình ảnh nhà thơ trẻ Inrasara - Phú Trạm ngày nào đang tự mờ đi trong con mắt của nhiều người từng yêu mến và quý trọng anh? Sự thờ ơ ghẻ lạnh còn tệ hơn sự ghét bỏ - Người đời thường bảo thế. Mà không đúng vậy sao? Rất mong bạn văn người Chăm của tôi tự tìm ra câu trả lời thuyết phục cho chính mình. Trong thời gian ngắn nhất. Hy vọng là vậy!

 

                                                                                                                       Đà lạt, cuối tháng 5/2011

                                                                                                                             PQT.

 

………………………………………………………………………….

(*) Một ẩn danh tự xưng là Mân trong website inrasara.com có ghi lại một đối thoại ngắn với một bạn thân ở Sài Gòn như sau:
– Mầy chớ tưởng mình ngon, Tagalau chẳng có gì là ghê gớm lắm đâu.
– Không có gì ghê gớm còn đỡ, mình thấy nó chả là gì cả.
– Chả gì cả à? Mầy nghĩ thế thật à?
– Ừ… thì mình có nghĩ hay nói giả bao giờ đâu!
– Tao không hiểu quái mầy cả! Chả là gì sao mầy bỏ công sức hay tiền bạc ra làm?
– Đấy, mâu thuẫn và phi lí vậy đó. Cứ sống trọn vẹn với sự phi lí ấy đi, thì sẽ hiểu!

………………………………………………………………………