Giá trị lý luận mang tính lịch sử của "Văn minh tân học sách"


…Nước không kể lớn nhỏ, hễ có nước là có sử… Nhớ đến tổ tông ta là để lo cho con cháu… Bỏ chỗ gần mà chuyện rong ruổi nơi xa, ấy là sở học mất gốc; khinh nhà mình mà trọng người khác, thì chung quy là nô lệ.

                          (Lời Bạt tập Cải lương nông học quốc sử giáo khoa thư)

Văn minh tân học sách (1) được khởi thảo vào khoảng năm 1904. Nguyên văn bằng chữ Hán do Đặng Thai Mai dịch. Không thấy ghi tên tác giả (2). Có thể xem đó là một công trình tập thể của các sỹ phu yêu nước giàu tâm huyết và giàu trí tuệ mà dân tộc ta đã có cơ may sinh ra vào những năm đầu tiên của thế kỷ XX nhằm đáp ứng những nhu cầu tinh thần cấp thiết ngàn năm có một của lịch sử. Càng đi sâu tìm hiểu tác phẩm hiếm hoi này ta càng có điều kiện nhận thấy đây quả là một áng văn nghị luận bao quát, chặt chẽ, thấu lý mà đạt tình hiếm hoi. Ấy là bởi các tác giả đã xuất phát từ tầm nhìn xa rộng mà thời cuộc cho phép, lại biết gắn chặt với thực tế nước nhà, trước đó cũng như đương thời. Đặc biệt là nhờ sự đối chiếu thuyết phục với văn minh phương Tây trong tinh thần khai phóng có thể xem là sáng suốt, quả cảm và quyết liệt.

 Mở đầu văn bản giải thích thế nào là văn minh? Đó “là một danh từ tốt đẹp”, thực chất, “không phải do sự hào nhoáng mầu mỡ” bên ngoài làm nên. Văn minh giàu có về nghĩa, do nhiều “môn học” tạo thành, nhưng đều là “những phúc tốt lành” cho con người và xã hội. Để tạo nên nền văn minh phải dày công kiên tâm và kiên quyết trau dồi dài lâu, “không phải chuyện một sớm, một chiều”. Cái quyết định “làm nên và lấy được” văn minh cao quý, lớn lao đó là “nhờ có một chủ nghĩa lớn”. Đó là chủ nghĩa nào? “Ấy là chủ nghĩa mở khôn cho nhân dân”. Nói khác đi là vấn đề “dân trí”. Nó cực kỳ quan trọng, vì: “Kể các nước trên mặt địa cầu này”, nước này là “dã man”, “bán khai” hay “văn minh”  đều tùy thuộc ở “dân trí” nước ấy ở trạng thái “thông hay tắc”’ ở trình độ “nhiều hay ít”, và ở nhịp độ trau dồi “chóng hay chậm”. Như vậy các tác giả đã nhìn văn minh gắn với quốc dân, nhất là gắn với văn hóa của quốc dân, một thứ văn hóa mang tầm cao nhân loại. Không hề thấy phảng phất thái độ cục bộ, hẹp hòi ở những người dễ bị xem là hủ nho.

Đặc biệt là ở sự cảm nhận được tính phức tạp tất yếu của con đường trao dồi một nền văn minh lý tưởng. Các tác giả chủ động dẫn ra câu nói của một học giả phương Tây để thể hiện lối tư duy biện chứng không mấy quen thuộc với người Á Đông khi đó: “Văn minh không phải là có thể mua bằng giá trị mà thôi, mà còn phải mua bằng đau khổ nữa”. Tác giả hiểu “giá trị” tức là “tư tưởng” (nhận thức) và “đau khổ” nghĩa là “cạnh tranh” (hành động), rồi nhấn mạnh một nguyên lý như một chân lý không phải ai cũng có thể hiểu, nhất là thấu hiểu, kể cả vào thời đại của chúng ta hôm nay, nghĩa là chừng một thế kỷ sau: “Càng tư tưởng thì càng cạnh tranh, càng cạnh tranh thì càng tư tưởng”. Để có tư tưởng, nhất là những tư tưởng lớn lao, đặc sắc càng khó khăn, nói cách khác lại càng nhiều “cạnh tranh” nghĩa là càng nhiều “đau khổ”.

Rõ ràng, trong cái nhìn biện chứng, “văn minh với dân trí, hai đằng cùng làm nhân quả lẫn nhau”, có điều, đúng như tác giả xác định “muốn mở dân trí trước hết phải tìm cho thấy bế tắc ở chỗ nào”, tức là hiện trạng và nhất là nguyên nhân của hiện trạng. Từ đó mới tìm ra cách thức và con đường nhắm tới “sự phát đạt bắt đầu từ đâu”, nghĩa việc giải quyết hiệu quả những khúc mắc ở trên. Ngày nay đọc lại, ta thấm thía giá trị thiết thực của những đề xuất mang tính bao quát có thể bao trùm lên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội đến mức rộng rãi nhất.

Về hiện trạng của đất được trong sự đối chiếu với những yêu cầu rất cao của nền văn minh đã nêu ở trên, các tác giả thẳng thắn, mà không rơi vào cực đoan khi khẳng định - như nhiều bậc thức giả có ý thức tự hào dân tộc khác từng khẳng định - những giá trị tinh thần từ thời thời thượng cổ đến lúc đó: “Nước Đại Nam ta vốn là một nước lớn văn minh” được “các nước trong ngoài đều khen là nước thanh danh, văn vật”. Tác giả hạ một lời nhận xét ẩn sâu nỗi lòng tự hào chính đáng: “Cái đó đã đành rồi”. Vấn đề là ở chỗ: “Nhưng nay thì sao?” Một câu hỏi lớn nhức nhối và cấp bách, rất cần lời giải đáp một cách trung thực và sát đúng. Các tác giả trả lời ngắn gọn: đó chỉ là nền văn minh có đặc tính “luôn luôn tĩnh”, trong khi so sánh với nền văn minh tiến bộ của phương Tây thì ngược lại, “luôn luôn động”. Nên lưu ý tới trục đối sánh với phương Tây trên nhiều mặt (hàng hóa, nông nghiệp, thương chính, công nghiệp - toàn những phương diện quan yếu) và bằng một đánh giá được nhấn đi nhấn lại nhiều lần: “Còn ta thì vẫn như cũ”. Thật xúc động khi tác giả hạ bút viết: “Tài của nhân dân như thế” mà thực tế như thế thì “thật đáng hãi hùng”. Suy cho cùng chỉ tại đầu óc cổ hủ của chính con người, nhất là kẻ sỹ, bởi “quốc gia hưng vong, sỹ phu hữu trách”. Trong khi, đáng buồn thay, lời khuyên sau đây cứ nghe vang lên đâu đấy quanh ta: “Các thầy muốn ra làm quan, thì phải cẩn thận, chớ có đọc sách mới, xem báo mới”, mà hướng tới canh tân. Sức cản ngăn lớn lao và thường trực. Vẫn biết cuộc xung đột mới cũ ở đâu và thời nào cũng vậy: rất gay gắt và cam go. Nhưng có lẽ với xã hội thực dân nửa phong kiến như nước ta lại vào đầu thế kỷ, khi các cuộc kháng Pháp theo ngọn cờ Cần vương đều lần lượt bị chìm trong thất bại, thì muôn phần thách thức bởi muôn ngàn khó khăn hơn nhiều. Ta hiểu vì sao một lời cảm thán được buông ra một cách vô cùng tự nhiên: “Ôi, nếu không biết đến sách báo mới thì thôi, chứ đã biết đến mà bưng bít che lấp đi, làm như không nghe, không thấy chuyện gì, để tự mình lại củng cố trong mình một căn tính nô lệ, nhân cách như thế, thật nên lấy làm đau đớn”. Những lời văn như rút ruột nên dễ quặn thắt lòng người.

Để tăng tính thuyết phục, các tác giả đi sâu vào tìm sự lý giải: “Vì sao lại như thế?”. Vẫn một cách thức: đối chiếu với phương Tây. Nhằm nêu lên sự khác biệt trong sự cách biệt đến đối lập, nói theo các tác giả là sự “ảnh hưởng tương phản”. 

(1) Trước tiên, lạ lùng làm sao, là “điều ta trái với người về giới tư tưởng”, quyết định tới sự khác biệt trong con mắt nhìn và lối tư duy. Những tên tuổi cùng những công trình chung đúc tư tưởng hiện đại của Tây phương có lẽ lần đầu tiên được dẫn ra: Montesquieu (1689-1755) với Vạn pháp tinh lý,  J. Rousseau (1712-1778) với Dân ước luận, H. Spencer (1820-1903) với Tiến hóa luận… Rất nhất quán trước sau, các tác giả luôn nghĩ suy trong sự đối sánh: “Nước ta thì sao?”. Ấn tượng hơn cả là những đoạn văn sau: “Làm văn sách thì chỉ sợ phạm húy, dâng thư cho người trên thì chỉ e phạm tội vượt phận nói leo, chỉ chứng đó là đã khác hẳn với (các nước) không cấm bàn bạc. Huống chi nào chuyện chích quái, nào chuyện truyền kỳ, thơ bao nhiêu quyển, văn bao nhiêu tập, văn hoa lòe loẹt thì có, còn  nói về mở mang trí khôn cho dân thì không hề có gì!”

(2) Tiếp sau là về “giới giáo dục”. Rất khác với nền giáo dục tiên tiến của phương Tây: “Người phương Tây đặt giáo dục chia làm ba bậc… Khi vào học, lấy những môn văn tự nước nhà ngày nay, cổ văn La Mã, văn tự, tiếng nói ngoại quốc, toán học, địa dư làm những môn học đầu tiên… Học thành tài rồi sau mới dùng, dùng làm có được việc thì sau mới thăng chức”. Trong khi ở ta thì: “Những môn ta học và nhớ ấy chỉ là sách Tàu (tức hướng ngoại), những bài ta chú thích ấy chỉ là lời của cổ nhân (tức sùng thượng, sùng cổ), những thứ ta thi ấy chỉ là kinh nghĩa, thơ ngũ ngôn, biền ngẫu tứ lục (nghĩa là vu khoát, sách vở)”.

(3) Về chính trị (trong văn bản gọi là “giới kinh tế”), ở phương Tây, “tổ chức chính quyền trong nước có chính thể lập hiến, có chính thể quân dân (nghĩa là dân chủ) cộng hòa… Hễ bàn đến một việc gì, thì trước phải khai hội: kẻ bàn, người nói, sớm sửa đi, chiều sửa lại, cốt làm sao cho đúng với chân lý, hợp với tình hình”. Trong khi: “Nước ta có thế không?”. Trái ngược. “Hành chính thì cấm thay đổi, sửa sang; dùng người thì quy im lìm lặng lẽ; chiếu theo lệ cũ nhưng lệ không nhất định; luật cũng có ban bố đấy, nhưng dân gian không được đọc luật”.

(4) Về “giới tính tình”, “người Âu cho nước và dân có quan hệ mật thiết với nhau”, cho nên “có chính thể cộng hòa mà quốc thể tức là gia thể”, “có tục thượng võ, mà quốc hồn tức là gia hồn”… Nước ta thì hoàn toàn trái lại: “Ngoài văn chương, không có gì là quý; ngoài áp chế, không có gì là tôn chỉ; ngoài phục tòng không có gì là nghĩ xa”.

(5) Về “giới phong tục”, “người Âu trọng du lịch, xem thường hiểm trở gian nan”. Nên “như đi thám hiểm Bắc dương, đi vòng quanh địa cầu, đều là những việc thường thấy”. Nước ta thì sao? “Thị trường tiêu thụ hàng hóa, ta chưa hề đi tìm. Lìa nhà mươi dặm đã bùi ngùi những mưa gió hoa vàng? Ở lữ thứ vài năm đã than thở quan hà bạc đầu…”.

Vậy “nguyên nhân khởi điểm ở đâu?”. Theo các tác giả có 4 điểm chính trong cách nghĩ ăn sâu vào đầu óc: “Một là khởi ở cái điểm ‘nội hạ ngoại di’ (Gần gũi với người trong nước, trong khi khinh bỉ người ngoài )”; “Hai là khởi ở cái điểm quý đạo vương, khinh đạo bá, không thèm giảng đến cái học phú cường cơ sảo của nước ngoài”; “Ba là khởi ở cái điểm cho xưa là phải nay là quấy, không chịu xem xét kiến thức và những lời suy nghĩ và biện luận của người sau”; Và, cưới cùng, “bốn là khởi ở cái điểm trọng quan mà khinh dân, nên không thèm kể đến tình hình hay dở ở chốn hương thôn”. Thật là cái nhìn vừa thực tế mà lại vừa xa rộng! Trong suy nghĩ của những người viết, bốn điểm này không hề rời rạc, đứt đoạn đã đành mà còn nằm trong mối tương quan nội tại kết dính với năm giới ở trên: “Bốn điểm chính này là mở đầu cho năm giới, năm giới ấy cũng tức là kết quả của bốn điểm. Thành thử mấy nghìn năm nay, văn minh tiến hóa của ta mới có cái tính tĩnh mãi, mà không có tính động mãi” như ở Tây phương. Tác giả lại không quên buông ra lời than để tỏ rõ thái độ, tăng sức cảm hoá lòng người: “Thật cũng là đáng ngậm ngùi buồn bã vậy!”.

 Trên cơ sở đó, tác giả lại trở về với ý trung tâm then chốt gợi ra từ đầu tác phẩm: “Vậy thì sống ở đời nay mà muốn cầu cho văn minh không thể không lo mở mang dân trí”. Tuy nhiên, “tai mắt chưa thấy qua thì chưa thể phát triển; hình thức có cái còn thiếu thì không biết bắt chước vào đâu; vốn liếng chưa dồi dào thì chưa thể làm nên được”. Sáng suốt hơn còn ở chỗ nhận thức được vai trò của người đi đầu, trước hết là những bậc thức giả: “Vậy không nhờ người đại biểu để mở mang cho thì quyết là không thể được”. Rất tự nhiên, điều này dẫn tới nội dung có thể xem là trọng yếu nhất: con đường cần đi để vươn tới nền văn minh của thời hiện đại vốn được bộc lộ rõ rệt ở các nước phương Tây vốn đi đầu trong công cuộc hiện đại hóa thành công được nhân loại tiến bộ thừa nhận rộng rãi. Đoạn này được viết đầy nhiệt huyết nên vừa thấm nhuần thứ minh triết sâu sắc lại vừa có sức cuốn hút lạ lùng: “Nay đã từng ngửng đầu trông lên, cúi đầu nhìn xuống, trầm ngâm suy nghĩ cho cùng, để tìm kế mở mang dân trí giữa nghìn muôn khó khăn…”. Rồi sáu hướng giải quyết trên con đường giải phóng, giải thoát vừa bao quát vừa thiết thực, sát hợp đã được đưa ra:

Một là dùng văn tự nước nhà”, bởi “các nước trên địa cầu, nước nào chẳng vậy”. Chữ quốc ngữ “lấy 26 chữ cái châu Âu phối hợp với 6 âm, 11 vần theo lối hài thanh mà đọc ra tiếng ta, rất là giản dị nhanh chóng” được khuyến khích tin dùng. Những đòi hỏi rất sát đúng được đưa ra: “Phàm người trong nước đi học nên lấy chữ quốc ngữ làm phương tiện đầu tiên, để cho trong thời gian vài tháng đàn bà trẻ con cũng đều biết chữ; và người ta có thể dùng quốc ngữ để ghi việc đời xưa, chép việc đời nay, và thư từ có thể chuốt lời và đạt ý. Đó thực là bước đầu tiên trong việc mở mang trí không vậy”.

Hai là hiệu đính sách vở”. Vì sao vậy? “Nước ta từ xưa tới giờ, các nhà viết văn kể cũng khá nhiều… đều đủ để cung cấp tài liệu về sơn xuyên, phong tục, văn vật, điển chương và để cho người sau mượn đó làm gương nữa. Vậy mà người mình, một khi đi học là đọc ngay sách Tàu, bỏ sách nước ta không nhìn đến! ‘Tịch Đàm vong tổ’, thật đáng thương thay!”. Trong khi sách Tàu ngoài việc “không quan hệ gì với ta cho lắm”, những lời bàn luận lại thường mâu thuẫn, “lục đúc bác bẻ lẫn nhau, bịa ra câu hỏi, rồi lại bịa ra lời đáp, chỉ tổ làm rối tai mắt người ta và nhọc nhằn cho kẻ học…”. Cái nhìn can đảm: nê nhớ sách vở Trung Hoa vốn chế ngự lên đầu óc dân Việt tới hàng nghìn năm. Đáng nói nhất là thái độ với Kinh Sử - nghĩa là những trước tác được xem là nền tảng về tư tưởng và trí tuệ thời trước. Cá tác giả nêu một vài dẫn dụ giúp người đọc “thử nghĩ” lại, như: “Xuân vương chính nguyệt chỉ là một lời chép trong Xuân Thu, thế mà người thì bảo theo tháng giêng lịch nhà Hạ, kẻ thì cho theo tháng giêng lịch nhà Chu, châu mỏ vào mà cãi vã rút cục hàng trăm hàng nghìn năm nay, bàn luận vẫn không ngã ngũ ra sao cả”. Thật đáng chú ý lời nhận xét buông ra ngay sau đó: “Ôi! Giá thử có gọi thánh hiền từ âm phủ về được để chỉ rõ cho ta, cũng chẳng có ích gì, huống hồ uổng công tìm tòi mà chẳng được nào! Kinh, sử còn thế, đủ biết sách khác thì thế nào!”. Từ đó, các tác giả mạnh dạn đề nghị: “Tưởng nên đặt ra một toàn soạn sách: pho nào nên đọc, pho nào không nên, đặt thành cái chương trình học để theo từng cấp mà học cho hết”, rồi “lại dịch ra chữ quốc ngữ” để truyền bá rộng rãi tới toàn dân. “Kinh truyện thì chỉ chọn lấy chính văn…”, nghĩa là những bài cái. Không quên “lấy Nam sử làm phần chính, rồi định nghĩa lại… Sử Tàu thì chỉ đọc qua cho biết đại lược…”. Sử Tây cũng phải soát xét lại, “cần phải bỏ bớt những chỗ rườm rà để cho người đọc dễ hiểu là được rồi”. Tính chủ động và tự chủ được quán triệt.

Ba là việc sửa đổi phép thi. Đây là dịp cá tác giả bộc lộ rõ thái độ với các môn thi trường ốc xưa:  “Mực thước đến thế kể cũng đã hết chỗ nói. Nhưng chẳng qua chỉ làm cho người ta bó buộc cái tính tự do, suy sút tinh thần hăng hái, để chăm vào cái học vấn rất vô dụng mà thôi”. Các tác giả đề nghị: “Giờ đây, dẫu chưa thể theo lối Thái Tây mà đặt ra khoa chuyên môn, thì trong khi căn cứ vào văn chương để kén người, có thể tạm dùng luận và văn sách cũng còn có lý đôi chút”, vì với những môn thi này, “đặt ra để hỏi, cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà, không cần thể cách gì hết”. Phương pháp học thi ở đây đã thật sự thấm nhuần tinh thần hiện đại: không một chiều, không áp đặt. Tuy nhiên, như thế vẫn chưa đủ mà cần thêm vào “mấy bài về toán pháp, về chữ quốc ngữ, để cho cái mà học sinh học và thi không trái ngược với công việc thực tế mà họ phải làm”. Lại thêm coi trọng thực hành thực tế nữa.

Bốn là việc cổ võ nhân tài. Rất thích hợp, các tác giả đưa một câu trong bài tựa Cường học hội, một hội do nhóm Khang Hữu Vi tổ chức ở Bắc Kinh dưới thời Quang Tự, cuối thế kỷ XIX nhằm tuyên truyền cho tư tưởng duy tân: “Dục khai dân trí, tiên khai thân trí” (Muốn mở dân trí trước hết phải mở trí của phái thân sỹ), cùng với nhận xét: “Đó là một lời nói rất phải, khám phá được tận gốc”. Các tác giả mở rộng bàn luận thấu lý thêm: “Vì dân chúng thì bắt chước bọn nhà nho, hậu sinh thì trông gương bậc tiền bối, tai mắt vẫn có quan hệ với nhau”. Tuy mới nói tới chuyện “tai mắt” mà chưa đi xa hơn coi đây là mối quan hệ giữa đầu não với các cơ quan khác, nhưng như vậy cũng đã rất tiến bộ so với nhận thức đương thời trong việc đánh giá vai trò soi sáng dẫn đường của giới trí thức. Tuy nhiên, việc bồi dưỡng nhân tài ra sao lại cần hết sức chú ý. Nội dung giảng dạy ở Nhà Giám không “có quan hệ gì với thực tế”, nên những gì dạy dỗ và học tập đều rất cần bổ sung “văn chương của thời đại” gần gũi và thiết thực. Đi liền với việc đào tạo là chính sách trọng dụng người thực tài, bởi: “Có học mà không dùng được thì ai theo đuổi làm gì?”. Có điều, việc “dụng nhân” cần coi trọng thực chất. Và cần phù hợp với cựu giới, quen học theo truyền thống Hán, từ đó khuyến khích dần dần sang tân học. Chớ quá nôn nóng. Một biện pháp rõ ràng đảm bảo tính thực tế, không viển vông và vu khoát.

Năm là việc chấn hưng công nghệ. Có bài học quen thuộc trong lịch sử Trung Quốc rồi: “Ngày xưa chỉ một mình Tạ An mặc chiếc áo lụa mịn, mà rồi các quan trong triều mọi người đều thích, thế là của dùng trong nước được dồi dào”. Nhưng chủ yếu vẫn là những bài học lấy từ phương Tây với ý thức “bên Thái Tây” thế nọ thế kia, thật là hùng hồn! Nhận thức mới được vận dụng: “Công nghệ rất có quan hệ với quốc gia. Ta không hơn người thì người bỏ rơi ta”. Cùng những đề nghị rất mới mẻ: “Tưởng nên đón thầy giỏi, mua đồ mẫu, chọn người khéo tay nhanh trí khôn để cho vào học”. Thêm nữa: “Lại hạ lệnh khắp nước hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới, thì theo lối Âu châu cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp cho học bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để bảo vệ quyền lợi của họ”. Đọc mà cứ nghĩ như những đề xuất của thời nay vậy! Hơn thế, trong lối nhìn nhận mà nay không phải ai cũng có được: “Những ai giỏi về các khoa cách trí, khí học, hóa học, thì làm cho họ được vẻ vang sang trọng hơn cả những người đỗ đại khoa”. Nói như ta thời nay là coi trọng giá trị thực hành. Rồi đi tới tóm bắt thật tài tình: “Như thế mà không có người chịu trổ tài, đua khéo…, thì có lẽ nào!”. Lòng tự tin cao độ. Người khác được truyền cho lòng tin vững vàng ấy cũng phải lẽ.

Sáu là việc mở tòa soạn báo. Đây là một yêu cầu hoàn toàn mới, nên rất cần lấy trực tiếp từ những tấm gương của nền văn minh phương Tây: “Phàm việc trong việc ngoài, sáng chế mới, tình hình thương mại, cho đến nhà pháp luật, nhà ý học, nhà nông, thợ thuyền, thương gia, chẳng giới nào là không có báo”. Báo chí lại hết sức đa dạng về chuyên mục: chính trị, tin tức, thời sự, quảng cáo… với định kỳ khác nhau. Trong khi ở nước ta, “chỉ có Sài Gòn và Hải Phòng có báo viết bằng chữ Tây, người đọc không được mấy”. “Báo viết bằng chữ Hán chỉ có tờ Đồng Văn thôi” (Cố nhiên chỉ khuôn ở Bắc Kỳ). Cần làm ngay là đặt ra nhiều tòa soạn báo nhằm: “Bao nhiêu phép tốt, ý hay, nghề lạ, ngón khéo ở Âu Mỹ, cùng là những việc xưa nay ở nước ta” vốn thiết thực và bổ ích thì “đều được đăng lên báo cho mọi người cùng biết”. Ích lợi của báo chí nào có nhỏ. Rất rành rọt mà nhất quan với chủ đích chung, các tác giả cả quyết: “Dân trí sở dĩ được mở mang là chính nhờ đó”. Cũng còn có những ích lợi quan trọng khác báo chí mang lại không khó nhận ra, ở chỗ “nhờ báo chương rồi sẽ phá tan được cái giới câu nệ, tối tăm”.

            Sau khi nêu ra những đề xuất chính một cách rành rọt, các tác giả khái quát: “Một đằng thì mất mấy năm trời để đi học một thứ chữ khác hẳn tiếng mình mà vẫn không có công hiệu; một đằng thì mất không tới sáu tháng là học ngay được văn tự của tiếng mình” - Ấy là lời luận giải cho con đường đầu tiên. Những con đường tiếp theo được biện luận cũng bao quát và rắn rỏi như thế: “Một đằng thì theo đuổi lối học đầu ngọn, ghi nhớ từ chương, rồi chung quy được có cái hư văn. Một đằng thì để tâm vào những điều giản dị, rõ ràng và thiết yếu. Thế thì sách vở không thể không hiệu chính, phép thi không thể không sửa đổi, nhân tài không thể không cổ võ, cũng là một việc hết sức dễ hiểu vậy”. Riêng hai con đường hoàn toàn mới mẻ mà cực kỳ bức thiết sau cùng thì được nhấn mạnh thành mục riêng: “Cái thuyết khinh rẻ công nghệ đã nổi lên, thì vàng, bạc, gỗ, đá chỉ là nguyên liệu để cho người nước ngoài dùng; dùng cái đạo khuyến kích công nghệ được thịnh hành, thì nước, lửa, gió, điện đều giúp ích cho sự cần dùng hàng ngày của dân ta”. Vậy thì việc chấn hưng công nghệ là điều tất nhiên. Cũng vậy, về sự hưng phát của hoạt động báo chí: “Khư khư ngồi giữ lấy xóm cùng làng hẻm, sao bằng thà lòng cho tinh thần bay nhảy ra cõi ngoài để cho tất cả vũ trụ đều có thể là nơi mình nằm chơi: dùi mài mấy tập giấy cũ, sao bằng xem báo mới mà trên giấy mực đều là thần trí”. Thế thì mở mang báo quán là “rõ ràng lắm”. Các tác giả lập luận toàn diện, bao quát và biện chứng.

Cuối cùng là việc xác định tinh thần đổi mới chung triệt để, không chấp nhận thái độ lừng khừng nửa vời. Bởi, “có người nói rằng: non sông nước Nam đã vạch sẵn trong thiên thư, văn hiến có từ lâu rồi… cần gì phải dùng đến tân thư? “Nếu làm như vậy thì chẳng hóa ra biến đổi hết nền nếp văn hiến ngàn xưa để bắt chước cái mới được ư?”. Thái độ của các tác giả rất rõ ràng: “Than ôi! Nếu quả như lời ấy, thì dân trí nước ta đến chìm lỉm tịt mù, không có bao giờ phát triển được nữa. Giả sử thời cục ‘tỏa quốc’ không biến thành thời cục ‘dây điện, cơ khí’ thì những cái gọi là ‘bốn điểm, năm giới’ trên kia sẽ còn lảng vảng mãi trong đầu óc nhà triết lý, nhà chính trị; gặp việc hư hỏng thì vá cho lành, chữa cho thẳng, tô điểm, phô trương, không phải không đủ gọi là văn minh, nhưng ngặt vì không thể thế được”. Tấm gương từ công cuộc canh tân của Trung Quốc ở đây kịp thời được đưa ra: “Nhà ở đã cũ hàng nghìn năm thì phải dỡ đi mà làm lại, rồi mới có thể ở được” (Ý của nhà cải cách Lương Khải Siêu). Nhất là câu chuyện Duy tân thành công ngoài sức tưởng tượng của thời Minh Trị bên Nhật. Rồi cả bên Xiêm - một quốc gia gần gũi với nước ta về nhiều phương diện nữa. “Người ta đã tỉnh rồi, ta còn mê ngủ” sao! “Người đã qua đò, ta còn cắm sào” sao! Những câu sau chất chứa khát khao canh tân đổi mới: “Thì làm sao đứng nổi trên đài múa văn minh tiến bộ lớn này? Huống chi, phong trào vô cùng, cuộc tiến hóa do đó mà cũng vô cùng”. Cho nên nói rằng: “Cùng thì biến, biến thì thông, thông thì lâu dài”. Lại nói: “Họa mà sửa sang, gọi là biến, suy ra mà làm, gọi là thông”. “Chí lý thay lời nói của ông Thánh”. Những câu nói được đúc kết thành chân lý ngàn đời lấy từ trong sách xưa đưa ra thật đúng lúc đúng chỗ. Không có gì xa lạ cả! Đáng phục hơn nếu xét từ động cơ cao rộng của người viết. Ấy là: “Chả biết hai mươi lăm triệu đồng bào ta rồi sẽ kết cục ra sao đây?” Công cuộc canh tân lớn lao can hệ tới toàn dân. Rồi: “Chả biết rồi đây người đời sau xem người đời nay, người đời nay xem người đời xưa sẽ đặt ta vào địa vị nào đây!” Công cuộc canh tân đặt dưới góc nhìn lịch đại dài lâu.

Từ đó, các tác giả đi vào lời kết, vừa tổng hợp lại những gì đã phân tích luận giải, trong sự kết gắn từng phần với toàn thể và soi sáng toàn thể với từng phần: “Nay không muốn mở dân trí thì thôi, ví bằng muốn mở dân trí thì không thể không tìm ra ảnh hưởng để xem cho biết cái cớ bởi đâu mà cuộc văn minh thành ra tĩnh mãi”. Ảnh hưởng thế nào? “Tức là năm giới như đã nói trên đây”. Không thể không xét đến nguyên nhân để biết cái sức ngăn trở văn minh bởi đâu mà ra. Nguyên nhân đó là gì? “Tức là bốn điểm kể trên đấy”. Cũng không thể không giữ vững chủ nghĩa để đi đến bước văn minh tấn tới. Chủ nghĩa là thế nào? “Tức là sáu đường như vừa nói trên đây vậy”. Lời kết lại có xu hướng mở ra trong sự hối thúc hành động quyết liệt: “Ôi, đã tìm rồi, đã xét rồi, đã nắm vững rồi, thì phải đổi mới, phải ném thân vào chỗ thế giới nước xoáy để mài xát nhiệt thành của mình, rồi đưa ra thời đại bay nhảy để cổ lệ cái nguyên động lực, làm sao cho người một nước nhân tư tưởng mà sinh cạnh tranh, nhân cạnh tranh mà sinh tư tưởng. Bấy giờ các môn học văn minh ngõ hầu mới có được. Công hiệu được thành, sẽ như cái đồng hồ báo thức, chỉ vặn dây cót mà cả bộ máy đều chạy. Hiệu quả thu được sẽ như ống hàn thử biểu lên xuống theo không khí mà không sai suyển mảy may. Là vì trình độ dân trí được đề cao dần thì sức bành trướng của văn minh cũng sẽ lớn lên, và nền tảng văn hiến cũng sẽ bền vững lâu dài vậy”.

Chúng ta thường nói tới vai trò quyết định của lý luận đối với thực tiễn, trong đó có thực tiễn văn chương kể cả sáng tác lẫn phê bình. Phải chăng công trình tập thể Văn minh tân học sách ra đời vào những năm đầu tiên của thế kỷ XX đã kết tinh những trăn trở của thế hệ các nhà Nho cấp tiến sống trong hoàn cảnh hoàn toàn mới trong tiếp xúc, giao lưu ngày một sâu rộng với tinh thần phương Tây chủ yếu qua ngả đường văn minh Pháp vốn giàu cơ hội mà cũng nhiều thách thức. Rồi những ai quan tâm tới những diễn biến tiếp theo của văn hoá, văn học Việt Nam trong tiến trình hiện đại hoá theo mẫu hình phương Tây sẽ còn được chứng thực tác động toàn diện, sâu sắc của áng luận văn đột khởi, chặt chẽ và sát hợp mang tính lịch sử sâu rộng này. Đó là một văn kiện thật sự quý giá về nhiều phương diện. Thời gian sẽ tiếp tục trôi đi. Nó có sức bào mòn tất cả. Nhưng nó đồng thời có sức lọc lựa tất cả. Vàng hay thau, ngọc hay đá đây? Sức tập hợp và khai sáng hiếm có của Văn minh tân học sách chắc chắn sẽ vượt qua mọi thách thức khắc nghiệt nhất của thời gian. Cũng có nghĩa là những thử thách ghê gớm nhất của lòng, nhất là trí người. Mà là con người Việt Nam trong tinh thần hiện đại trọn vẹn nhất.

                                                             

                                                                                                                                                            Đà Lạt, 12/2012

       

………………………………………………………………………….................................................................................................................

                                                     

 (1) Tổng tập văn học Việt Nam - Tập 21, Nxb Khoa học Xã hội, H. 1996, từ trang 439 đến trang 454.  

(2) Có ý kiến cho tác giả Văn minh tân học sách là Cụ Nghè Ngô Đức Kế.

 

Comments