Cảnh vật trong cảm thức Thiền tông

                                                                                                          (Đọc tập Thi vân Yên Tử *)

                                                                   

Khi nảy ra ý định viết bài này, tôi đã lên mạng tìm đọc một tư liệu phải được xem là quan yếu. Đó là bài báo đăng nhiều kỳ có tên Yên Tử ký sự của một nhà báo rất tận tâm với nghề là Phạm Ngọc Dương. Người viết vừa dẫn giải bằng lời vừa chọn ảnh minh hoạ khá sinh động và kỳ thú. Giữa bao câu chuyện hư hư thực thực xưa nay về Yên Tử nghe anh kể lại, có một “sự kiện” nhiều người biết được gọi là “hiện tượng thơ Hoàng Quang Thuận”. Chả là, vị GS-TS, Viện trưởng Viện Công nghệ thông tin thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam này trước nay vốn chỉ chăm chắm với khoa học. Thế mà, sau chỉ vài đêm “ngủ cùng gió sương” trên đỉnh Yên Tử, ông bỗng trở thành “người thơ” đúng nghĩa. Ba đêm liền không hề chợp mắt bởi bao cảm xúc dâng trào, ông đã viết liên tục tới 63 bài thơ trọn vẹn. Số lượng rõ ràng là không nhỏ. Lại chỉ về một địa danh duy nhất. Ông tâm sự rằng những bài thơ đến một cách tự nhiên, cứ như có ai đó đọc thầm cho nghe, và ông chỉ còn làm một công việc quá ư đơn giản là ghi chép lại! Những bài thơ khá là đặc biệt này sau đó được thâu gộp lại thành tập Thi vân Yên Tử do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành 1998. Bài báo viết vậy, không biết có đến 100% sự thật không, nhưng tôi tin. Cũng như tôi tin vào những câu chuyện lạ lùng đã và sẽ còn nảy sinh ra từ vùng đất thiêng nổi tiếng khắp cả nước này… Chợt nhớ tới bài thơ Chùa Một Mái của ông cũng chỉ gồm bốn câu như phần lớn các bài thơ trong tập sách vừa nhắc tới: “Một mái chùa xưa giữa trần ai/ Chênh vênh lưng núi nửa trong ngoài/ Hoa bưởi trước chùa đơm trắng xóa/ Bạch Vân triền núi một cành mai”. Bài thơ được in nổi trên vách đá cạnh con đường dẫn vào ngôi chùa có một không hai trên vùng núi linh thiêng. Thêm một bằng cớ củng cố niềm tin của tôi. Nghỉ lại ở chùa Hoa Yên khiến “tâm hồn nhập cảnh và muôn điệu” để “đêm say giấc mộng hết ưu phiền”. Rồi, cái gì phải đến đã đến. Ông chợt cảm thấy: “Trời mây gió nói cõi hư không”. Và, những bài thơ lần lượt ra đời. Cứ như một phép lạ. Bởi thế, tôi xin phép được chia sẻ với người làm thơ trên một tinh thần mang tính “sự kiện” như vậy.

Để tập trung, tôi chỉ chọn một điểm xuyên thấm suốt cả tập thơ là cảnh vật thiên nhiên trong cảm thức Thiền mà xem xét. Vì sao vậy? Không phải ngẫu nhiên khi ca từ trong bài hát nổi tiếng Trên đỉnh Phù Vân của Nhạc sỹ Phó Đức Phương lại được vang lên thế này: “Mênh mênh mang mang Phù Vân Yên Tử/ Vi vi vu vu Trúc Lâm thiền tự…./ Lên đỉnh núi cao cách trời ba thước/ Xuống đáy thung sâu thăm thẳm sông dài/ Vào rừng trúc mai véo von con sáo sậu”. Ta thấy hiện lên trong sâu thẳm tâm tưởng một vùng đất có một không hai Trúc Lâm Yên Tử với những đỉnh núi cao, những dòng sông sâu xen trong rừng trúc, rừng mai và tiếng hót véo von của chim chóc suốt ngày… Có sự đồng điệu tới mức lạ lùng giữa cảnh và tình, giữa vật và người. Trong quá vãng cũng như trong hiện thời. Hãy nghe lời giải thích tên một danh thắng của sư Thích Đạt Ma Trí Thông - đó là Hồ Thiên: “Người đời vẫn tưởng Hồ Thiên có nghĩa là ‘hồ nước trên trời’, nhưng thực ra, chữ ‘hồ’ ở đây không phải ao hồ, mà là ‘quần tụ’. Hồ Thiên chính là nơi ‘quần tụ của chư Thiên’”. Cũng xin nhớ lại cái thế nằm của Phật hoàng Trần Nhân Tông tại am Ngoạ Vân lúc ngài băng hà. Có nhiều thuyết kể lại sự ra đi của ngài, nhưng phổ biến hơn cả là nói rằng ngài băng theo thế sư tử ngọa trong rừng. Khi các đệ tử phát hiện ra thì một cây trúc đã mọc xuyên qua đùi ngài. Có gì kỳ bí liên hệ tự thẳm sâu bên trong giữa cây trúc tưởng vô can, vô tình kia với thế giới tâm tưởng mà suốt đời ngài trau dồi để chỉ chờ một khoảnh khắc thăng hoa? Chẳng thế mà sử sách còn chép lại những dòng sau: Khi còn trẻ, trong một lần cùng vua cha mình là Trần Thánh Tông về thăm Yên Tử, Trần Nhân Tông đã cảm thấy say đắm phong cảnh hữu tình của nơi đây và muốn xin vua cha cho ở lại tu hành, nhưng đã không được chấp thuận. Lúc đó ngài mới 21 tuổi. Hình như có cơ duyên âm thầm mà sâu xa nào đó ẩn trong những câu chuyện tưởng rất tình cờ! Và nếu một ai vẫn chưa thật tin thì xin hãy cùng đọc thật chậm rãi bài thơ chúa Trịnh Cương được trân trọng khắc trên bia đá ngợi ca cảnh đẹp của một trong những ngôi chùa ở đó: ''Miền đông đều xinh đẹp/ Riêng một cảnh Hồ Thiên/ La liệt ngàn núi thẳm/ Vời vợi muôn vẻ huyền/ Thượng thừa khai cảnh Phật…/ Đầm vực nối đất liền/ Châu báu xây cổ tháp/ Ngọc vàng rạng mọi miền/ Đạo lớn thâm hưng chấn/ Công quả được mãn viên”… Có thể dẫn ra sự trùng hợp lạ kỳ giữa cảnh trí và con người ở đây qua nhiều, rất nhiều những bằng cớ khác nữa.

Từ đó, thật khó quên một câu thơ giàu sức khái quát trong bài Hạnh Thiên Trường hành cung của chính Trần Nhân Tông: Nguyệt  sự chiếu nhân  sự”. Có thể dễ nhận thấy, khi con người (nhân) và thiên nhiên (nguyệt) đều ở trong trạng thái tĩnh tại an nhiên vô sự thì tất nảy ra sự hoà điệu. Vẻ bí ẩn tưởng khó hình dung và giải thích có dịp phát lộ. Bởi, một khi tâm của một người đã bình lặng, nghĩa là đã cởi bỏ hết những mê kiến, vọng niệm theo quan niệm nhà Phật, thì người đó sẽ có cơ hội phát hiện ra những vẻ đẹp hằng thường nơi cảnh giới. Bởi thế, trước sự dung hợp đến hài hoà giữa cảnh và tình nơi Yên Tử, nhà báo Phạm Ngọc Dương đã không kìm được sự xúc động trong liên tưởng: “Tôi trộm nghĩ, những cây vả khổng lồ, lúc lỉu quả kia, là một thứ di sản sống đậm chất thiền trên dãy Yên Tử, mà chúng ta cần phải bảo vệ. Nhìn cây vả ấy, tôi cứ mường tượng rõ ràng hình ảnh của một cõi tiên, nơi chỉ có những vị chân tu đắc đạo ẩn mình”. Còn tôi thì thấy vang lên trong tâm trí một châm ngôn Thiền: “Thế giới vốn không thuộc về anh, vì thế anh không cần vứt bỏ, cái cần vứt bỏ chính là những tánh cố chấp”. Và, một danh ngôn Thiền khác nữa: “Bởi chúng ta không thể thay đổi được thế giới xung quanh, nên chúng ta đành phải sửa đổi chính mình, đối diện với tất cả bằng lòng từ bi và tâm trí huệ”. Xin đọc thêm bài thơ Nguyệt của Trần Nhân Tông để nhận rõ thêm điều đó: “Bán song đăng ảnh mãn sàng thư,/ Lộ trích thu đình dạ khí hư./ Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ,/ Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ”. (Tạm dịch: “Bóng đèn soi nửa cửa sổ, sách đầy giường - Móc rơi trên sân thu, hơi trống không -  Tỉnh giấc tiếng chày nện không còn nghe thấy - Trên chùm hoa quế, trăng vừa mọc”). Mọi thứ đều mơ hồ và im ắng, từ trong nhà ra ngoài thinh không bao la. Ngay đến “tiếng chày nện” hiện hữu đấy mà cũng không hề làm lay động giấc ngủ, đến nỗi “tỉnh giấc” rồi mà “tiếng chày nện không còn nghe thấy”, như chưa từng âm vang trước đó. Giải thích theo minh sư Tuệ Sỹ thì: “Tĩnh cho nên thâu tóm hết mọi vọng động; không cho nên bao hàm vạn cảnh”. Từ đó mới nảy ra ý thơ thần tình của thi sĩ Thiền Bùi Giáng:

                         Trong linh hồn một bông hoa
                             Hình như có cõi người ta đàng hoàng

Còn đây là cảm nhận của chính tác giả trong tập thơ: “Sạch bụi trần ai, ánh trăng rằm” một khi “ưu phiền trần tục thảy tiêu tan”.    

                                                                                                                          *                                           

Bây giờ, tôi đi sâu phân tích những biểu hiện khác nhau của mối giao cảm lạ lùng giữa người và cảnh đậm chất Thiền trong tập thơ. Như nhiều người đều biết, thiên nhiên trong thi ca bao giờ cũng được thẩm mỹ hoá, nghĩa là luôn thấm đẫm chất người, cũng có nghĩa là mang chất văn hoá được hình thành và bồi đắp dần dà bởi con người xã hội - con người lịch sử. Tôi nghĩ, tác giả Thi vân Yên Tử đã biết phát hiện ra những gì cần phát hiện. Nương theo Tâm mình, cố nhiên. Rất cần có con mắt tinh đời và một trái tim đa cảm. Cũng còn phải có một sự trải nghiệm nghệ thuật thực sự. Chẳng phải ở đỉnh núi này, vào một ngày đẹp trời, ta có thể phóng tầm mắt đi thật xa đó sao! “Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ” chợt hiện ra. Một bức tranh toàn cảnh tuyệt vời hiển hiện rõ mồn một qua những câu thơ như có hồn của Hoàng Quang Thuận: “Trên non Yên Tử ngày trời quang/ Bức tranh thuỷ mặc dưới nắng vàng/ Nhấp nhô như sóng triền đồi núi/ Xa xa một dài Bạch Đằng Giang”. Không ai nghĩ sự xuất hiện địa danh sông Bạch Đằng hào hùng một thuở là vô tình cả. Theo chiều ngược lại, nếu từ xa mà nhìn, ta có thể thấy thế núi của Yên Tử trong sự nối kết với non sông gấm vóc của đất Đại Việt. Rất dễ nương theo lối hình dung này của tác giả: “Vòng cung uốn lượn tựa mình rồng/ Vươn mình thế núi hướng biển Đông/ Ẩn sâu khúc lượn trong lòng đất/ Đầu rồng ngoảnh lại đất Thăng Long”. Bức tranh tổng thể trong cái nhìn nhất quán. Thế rồng lượn từ biển vào sâu đất liền. Dằng dặc liền một dải. Không hề đứt mạch. Trong khi, như không thể khác: “Đầu rồng ngoảnh lại đất Thăng Long”. Còn đây là một góc nhìn khác cùng một lối suy ngẫm khác trong bài Núi Phụ Tử. Theo truyền thuyết còn lưu truyền cho tới tận ngày nay thì Yên Phụ là “núi cha” còn Yên Tử là “núi con”. Cha sinh hạ ra con. Tuy nhiên trên thực tế, “núi con” lại cao hơn “núi cha”. Vậy nên tác giả mới tinh nhạy và ý tứ khi hạ bút viết rằng “Phúc địa ngàn xưa gọi núi thiêng”, theo nghĩa thâm thuý từng thấm vào nếp nghĩ của bao thế hệ người Việt - “Con hơn cha là nhà có phúc”. Và đây, xin hãy nhìn cận cảnh hơn: Núi voi. Khi vào gần Linh Sơn, núi Yên Tử trông tựa một con voi nằm trong thế phủ phục. Tác giả như nhẹ nhàng đưa tay ra để nắm bắt được ý thơ này: “Núi voi án ngữ nồm nam thổi/ Sương phủ thành mây trắng quanh năm”. Rồi đây nữa, một cảnh tượng thi vị không kém: Đường tùng. Cảnh rất thực: “Tùng, đa ôm quấn quýt bên nhau”. Nhưng cái chính là để nói tới vẻ đẹp tinh thần linh diệu của con người - “Tình yêu muôn thuở chẳng phai màu”, cho dầu đã “trải bao sương gió” của cuộc đời vốn không mấy khi yên ả. Nhưng ấn tượng hơn cả có lẽ là tượng đá An Kỳ Sinh. Tương truyền, ông là một đạo sỹ người Trung Hoa tu tiên đắc pháp, qua nước Nam truy tìm thuốc trường sinh bất tử. Khi dừng chân ở núi Yên Tử, ông chợt nhận ra: “Khí thiêng phun toả cả thinh không”, nên đã: “Hoảng kinh chết đứng thành tượng đá”. Toát lên từ bức tượng không biết nói kia là thứ triết lý nhân sinh thế sự sâu xa không phải ai cũng có cơ may chứng ngộ để thêm một lần thấm thía.

Đọc tập thơ, ta không thể quên đây là cảnh vật của vùng rừng núi Yên Tử - nơi khởi phát của dòng Thiền mang đậm chất Đại Việt. Bởi thế, văn hoá ấy là văn hoá Thiền, tư tưởng chi phối nó cũng chính là tư tưởng Thiền. Bài Áo Phật có thể xem là tiêu biểu: “Phong cảnh nơi đây đẹp mê hồn/ Con người hoà hợp với nước non/ Dải áo Phật đài màu xanh thẳm/ Trung trinh cung nữ tấm lòng son”. Ta thấy những cảnh tượng có sức bao quát như ở bài Xúc cảm non thiêng mở đầu cho cả tập thơ. Nhưng phần nhiều và phần chính là những hình ảnh rất cụ thể. Như: “Núi lượn trong mây, mây vờn núi”. Rồi: “Đàn bướm tung bay trong nắng trưa”. Chớ quên đây là cõi thiền,  đất Phật cõi thiêng đầy bí ẩn. Cho nên: “Núi cao nước biếc Hoa Yên Tử/ Hoa đại trắng dài mỗi bước chân”. Màu trắng tinh khiết của hoa đại thật giàu sức gợi. Những am tháp, chùa chiền cũng nhiều ý vị không kém: “Am tháp mọc lên thành đất Phật/ Mây ngủ trong mây với chùa chiền”. Ở cả bề cao - “Thấp thoáng trời cao những mái chùa”, lẫn bề xa - “Thấp thoáng xa xa những bóng đền”. Chỉ có thể thốt lên nhiều lần như chính người viết: Quả là chốn bồng lai tiên cảnh! Mà là đệ nhất tiên cảnh kia. Đây là dòng suối mát trong giữa trưa mùa hè nóng nực phía bên ngoài: “Trưa hè oi ả tiếng suối reo/ Chim ca lảnh lót giữa lưng đèo/ Hoa rừng hương sắc hương theo gió/ Đàn cá xuôi dòng nước trong veo”. Con suối này khi xưa vua Trần từng tắm để trôi hết mọi thứ bụi trần ai đó mà. Hồ Yên Trung thì trong xanh “vắt vẻo ngang lưng núi”, khiến cho “cả rừng thông xao động”. Cảm thấy như chưa đủ, cảnh tượng hồ Yên Trung còn được tác giả gia công thêm trong một bài thơ khác phảng phất phong vị thu san: “Mặt hồ yên ả gió heo may/ Bốn bề yên ắng phủ sương dầy/ Lăn tăn gợn sóng làn thu thuỷ/ Tiếng gà xao xác cả tầng mây”. Ta cũng không thể quên được những đàn vẹt rừng Yên Tử sau cơn mưa và ánh nắng vàng bất chợt bừng sáng: “Mẹ bế bồng con phơi nắng sớm/ Tháp đá điểm xanh áo vẹt phơi”. Như đã thấy, cảnh vật trong tập thơ thường được nhìn bằng cái nhìn động: “Chân tháp lơ thơ vài khóm trúc/ Gió đưa nghiêng ngả tựa người say”. Thậm chí, thiên nhiên biến đổi theo từng sát na đúng với lẽ vô thường của nhà Phật: “Một khắc mây tan giống đầu rồng/ Trập trùng uốn lược giữa hư không”. Ngày là thế mà đêm cũng thế. Đây là hồ Yên Tử khi bóng đêm buông phủ: “Cát vàng thoai thoải sóng lao xao”. Nhất là cảnh: “Le te xanh biếc đùa tung cánh/ Chim gù trên núi cảnh tiêu dao”.

Vì là cảnh Thiền, nên không lấy làm ngạc nhiên khi thấy bật nổi hơn cả ở nơi đây chính là hình ảnh những bông sen: “Đài sen hoa nở vua lên ngự/ Toả sáng hào quang Bạch Yên Vân”. Và tất nhiên cả tiếng chuông chùa: “Ngân nga chuông vọng chiều xa vắng”. Tất cả như dồn tụ lại. Để không thể có cảm nhận nào khác hơn là: “Suối hát muôn đời khúc Thiền ca”. Tuy nhiên, đây không phải là cõi Thiền chung chung mà là xứ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử - “lối cũ đường xưa ngập cỏ cây” - gắn với vị Đệ nhất Sư tổ Trần Nhân Tông (1258-1308), cách thời đại chúng ta trên 700 năm. Do vậy, cảnh vật dường như luôn được bao phủ bởi sắc màu cổ xưa của thời gian. Nào là: “Cổ thụ vươn cao xoè tán rộng/ Rừng già nắng lọt đốm hoa rơi”. Rồi đến: “Tùng già, đại cổ chốn Hoa Yên”. Và nữa: “Xum xuê tán lá rợp vườn chùa/ Cây đa cổ thụ tự ngàn xưa”. Dường như toàn những thứ gợi nên sự tinh khiết như hoa đại. Và cả sự thanh khiết như hoa bòng - “Bòng thơm đại trắng một đời hoa”. Cũng không thiếu cái vẻ tưng bừng của những lễ hội diễn ra hàng năm ở miền đất tổ: “Hồng đỏ như trăm đèn lồng cầy”. Tập trung và hiện rõ hơn cả là cảnh Lăng Quy Đức - nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông quy tiên giác ngộ: “Hai cây đại cổ dáng hình rồng/ Đứng nép bên tường đã trổ bông/ Hương hoa thơm ngát vườn mộ tổ/ Ngày xưa Tam tổ đã vun trồng”.   

Càng đi sâu vào tập thơ như càng đi sâu vào cõi Thiền, ta càng bắt gặp nhiều cảnh lạ. Trưa hè oi nồng ở nơi khác, trong khi ở đây thì: “Đang trưa không nhìn thấy mặt trời/ Mây tụ thành sương từng giọt rơi/ Văng vẳng gà rừng chiêm chiếp gọi/ Cành cao lay động chú sóc chơi”. Có thể nói Yên Tử lạ cả trong cái vẻ thường tình nhất của cảnh trí: “Mận chín trĩu cành lúc lỉu quả/ Trứng gà chiu chít cả trong mây”. Tuy nhiên, như ở bất cứ đâu, có lẽ vào những đêm trăng sáng ta mới cảm nhận hết được vẻ lung linh huyền ảo: “Trăng treo lơ lửng trên cành tùng/ Trăng rắc vàng lên cánh hoa nhung/ Sương đêm sực nức mùi hoa đại/ Mỗi bước trăng trôi giữa núi rừng”. Lạ ở cảnh, càng lạ hơn ở vẻ linh thiêng hiếm có. Đây là sữa mẹ chảy ra từ núm vú đá ở chùa Một Mái. Mỗi khi mỏi mệt, các thiền sư dùng bát nhỏ hứng uống thấy khoẻ hẳn ra. Rất khó hiểu là vì sao khi đầy bát nước thì núm đá lại thôi không nhỏ nữa. Điều này lập tức đi vào thơ Hoàng Quang Thuận: “Ngách núi đá núm vú con/ Sữa mẹ linh thiêng nhỏ giọt tròn/ Nhỏ dần từng giọt đêm đầy bát/ Nước đầy chỉ một bát con con”. Cũng không thể không nhắc tới những dược thảo quý, như Hồng Sương Ngọc, bao giờ cũng khiến trong ta nảy ra ý muốn tự nhiên: “Bái vọng thiền môn chẳng muốn đi”. Tôi lật giở những trang sử trong quá khứ xa xăm: “Tháng 7 năm 1294, Thượng hoàng Trần Nhân Tông quyết định xuất gia ở núi Vũ Lâm thuộc vùng Ninh Bình. Tháng 8 năm 1299, Thượng hoàng Trần Nhân Tông vào núi Yên Tử tu khổ hạnh, trước đó một tháng vào tháng 7, ngài đã cho dựng am Ngự Dược - xin nhấn mạnh - ở trên Yên Tử”. Tôi còn ghi được những dòng tư liệu hiếm hoi sau: “Theo sư bác Khai Hiếu người đã ở Yên Tử gần 15 năm nay thì sâm Nam là một dược liệu rất quý, trong năm thì mùa xuân đi đào sâm Nam là hợp lý nhất vì đất lúc đó gặp mưa nên bở, chỉ cần kéo mạnh là lấy được cả chùm những con sâm to hơn ngón tay cái, thơm ngang với cả sâm Triều Tiên; bên cạnh sâm Nam còn vô số các loại cây khác, nào là thứ cỏ gây tê, cây chữa đau lưng, những thuốc như trầu tiên, gừng gió ở đây không thiếu gì”. Đấy là những vẻ linh thiêng phát xuất từ thiên nhiên. Tôi muốn nói thêm tới vẻ linh thiêng gắn chặt với cõi tu Thiền chân chất: “Hổ phục bên hang giếng nước thiêng/ Sư chùa tụng Phật, hổ ngồi thiền”. Đặc biệt là cảnh này: “Mấy ông Rắn lớn nằm trên mái/ Náu mình tượng Phật ngắm giang san”. Thật rõ rồi: Yên Tử là một xứ lạ hiếm có giữa trần gian. Xứ tiên giữa cõi phàm ấy có phần lung linh hơn khi được thăng hoa trong thi ca nghệ thuật.

Xin cảm ơn anh Hoàng Quang Thuận đã biết sống trọn vẹn với cảnh vật thần tiên nơi đây trong nhiều chiều kích của không-thời gian và tâm tưởng, để viết nên không ít những vần thơ chân tình mà sâu lắng. Trước khi ngừng lời, tôi muốn nói rằng, chính vì chọn ngả đường nhập vào cảnh vật đất trời nơi Yên Tử nên, nhìn đại thể, tác giả đã tránh được một nguy cơ có thật là sa đà vào diễn tích Phật lan man, làm giảm đi ít nhiều chất văn chương cần có. Rất dễ rơi vào tình cảnh như thế! Có thể xem bài thơ Tổ Trúc Lâm là một bài học phản diện về mặt này. Tôi không nói bài thơ không hữu ích, nhưng nếu xuất phát từ những đòi hỏi thẩm mỹ khe khắt và nghiêm cẩn thì xem ra sự thiếu hút ở đây là khá lớn: “Minh quân Hoàng đế Trần Nhân Tông/ Đức vua hiển Phật đời nhà Trần/ Thắng giặc Nguyên - Mông tu cõi Phật/ Lưu đời đệ nhất Tổ Trúc Lâm”. Bài Vua Phật có lẽ cũng rơi vào tình cảnh tương tự.  Rất may là số lượng những bài như thế không nhiều.

Xin mừng cho tác giả.

Biết chọn con đường đi phù hợp phải chăng là một trong những bí quyết thành công ở đời. Và có lẽ ở cả trong thơ nữa…

                                                        

                                                                                                                    Đà Lạt, 15/07/2012

                                                                                                                     PQT.

……………………………………………………………………………………………………..............................................................................................

  (*) Thi vân Yên Tử - Nxb Giáo dục Việt Nam - 2010.