Cái chết của Ngoạn Thiềm trong "Chân mây khép mở" của Hoàng Yến

           Người ta không thể chọn sự sinh. Bởi rất dễ hiểu rằng một người sinh ra khi nào và ở đâu bao giờ cũng là một lẽ nhiệm mầu đầy bí ẩn. Có lẽ chỉ có Tạo hoá mới biết rõ mà thôi! Riêng sự chết thì không hẳn thế. Nếu không có gì thật bất thường, ta có thể ít nhiều dự đoán trước cách ra đi của một con người. Ý nghĩa nhân sinh lạ kỳ của sự chết nằm ở chỗ đó chăng! Nói chung nhất thì cách sống sẽ quyết định cách chết. Đó là lý do chính lý giải mối quan tâm đặc biệt của các nhà văn tới sự rời bỏ cuộc sống của những đứa con tinh thần mà họ đã dứt ruột sinh hạ trong một tâm thế sáng tạo vô cùng đặc thù.

            Đọc tiểu thuyết Chân mây khép mở (*) của nhà văn Hoàng Yến, tôi để tâm tới sự ra đi của ba nhân vật. Trước tiên là Lý Huệ Tôn. Nhà vua chờ đợi cái chết ép uổng khi đã tắm gội sạch sẽ, thay quần áo tươm tất, thơm tho. Tác giả không tả, cũng không kể, chỉ đưa ra những suy tư: “Ai cũng ham kéo dài ngày sống. Và khi cái chết đến ai cũng cho rằng nó đến quá sớm hoặc đến chưa đúng lúc. Vì vậy ai cũng sợ chết. Chỉ cần biết… chết là số lớn của trời đất… Cái chết đến đúng lúc là một sự giải thoát. Nó đến lâng lâng như một sự hoàn tất. Lúc ấy ta biết yêu cái chết cũng như ta biết yêu cái sống” . Cái chết này gợi nhiều dư vị đắng chát về số phận bi thảm của một kiếp người. Sau đó là sự ra đi của Trần Tự Khánh - người mang hoài bão xã hội tốt đẹp của nhà văn về mẫu chính khách lý tưởng có thể có trong quá khứ và cả trong hiện tại: “Ông nhắm mắt, trao ánh mắt và chút hơi ấm tàn cho mặt trời, thở hắt ra trả hơi thở cuối cùng cho bầu thinh không và giữ lại cái xác lạnh cho đất. Trong cái chết, nét mặt ông tìm được vẻ thanh thản đến hồn nhiên, sự thanh thản mà ông không tìm thấy trong cuộc đời”. Cái chết của ông rõ ràng gợi nhiều ý tưởng thanh cao. Cuối cùng, và đặc biệt là cái chết của nàng Ngoạn Thiềm. Hãy nhớ lại lời trăn trối của người tình trong mộng của Trần Kồ: “Em ra đi trước chàng và được gặp chàng trước lúc ra đi. Ôi! Cái chết ngọt ngào… Giọng nàng bây giờ như hơi sương nhạt lơ lửng giữa trời cao… Em xuống dưới ấy lo chuẩn bị đàng hoàng để chờ chàng. Dưới ấy không còn gì có thể chia cắt được chúng mình… tuổi tác… chức phận… thứ bậc… cả miệng lưỡi thị phi của trần thế”. Cái chết này thật sự gợi những suy tư nhiều phần lãng mạn. Như hư mà cũng như thật. Nó có sức thôi thúc ta hướng tới những vẻ đẹp toàn bích. Không hẳn trong đời thực mà nhiều hơn trong tâm tưởng. Nhưng sao nó cứ ám ảnh ta hoài?

            Muốn hiểu nàng không thể không hiểu nhân vật Trần Kồ vốn được nhà văn tạo dựng với nhiều dụng công nhằm gửi gắm biết bao tâm sự. Thường là những tâm sự rất khó nói trực tiếp bằng lời. Cần nói bằng văn chương thôi! Mà phải là thứ văn chương ám gợi: rất nhiều ý nghĩa trong từng chi tiết cũng như trong mỗi lời kể. Xét riêng trong tình yêu, Trần Kồ có ba mối tình đậm nhạt khác nhau. Với Đào Nga, Ả Kắm và Ngoạn Thiềm. Họ có những số phận không giống nhau: Đào Nga hiện sống yên vui với chồng con; Ả Kắm thì đã nằm yên dưới ba tấc đất; Còn Ngoạn Thiềm thì không thôi trăn trở dưới mồ. Nhất là sự khác biệt trong cách chết: Đào Nga chắc sẽ chết già; Ả Kắm chết trong chờ đợi; Còn Ngoạn Thiềm - nhân vật ấn tượng hơn cả thì “chết trong ngọt ngào”. Mối tình giữa Trần Kồ và Ngoạn Thiềm được phủ bởi một sắc màu lãng mạn hơn cả, đến mức nếu có tồn tại thì phần nhiều chỉ có thể tồn tại trong sách vở mà thôi! Cho dầu chính nhà văn Hoàng Yến đã có lúc xem mối tình giữa Trần Kồ với Đào Nga “là một kỳ tình trong lệ sử” bởi “người ta có thể giữ được tình đẹp đời đời” bằng cách “xa nhau mãi mãi”.

Ngoạn Thiềm vốn là cô học trò yêu của Trần Kồ. Chuyện là thế này, khi còn chế ngự vùng biển, Trần Tự Khánh đã dự tính đến tương lai, nên đã buộc tất cả con em trong dòng tộc mình đều phải học hành. Cứ hai tháng một kỳ, bọn học trò họ Trần trong đó có Ngoạn Thiềm lại kéo đến Ấp Hải nghe Trần Kồ bình văn. Ông bắt đầu để ý, rồi quan tâm tới cô học trò duyên dáng này. Khó quên nhất với Trần Kồ là khi ông Trần Lý mất, dầu chỉ là con nuôi, nhưng nàng lại tỏ ra vô cùng đau xót vì tiếc thương. Nên nhớ, khi đó nàng chỉ là một cô bé chưa quá mười tuổi, nhưng đã ngất xỉu do đau buồn. “Qua làn khói vàng mã đốt bay mù mịt, dưới vành khăn tang trắng lộp, chàng trông rõ đôi mắt nó nhắm nghiền, dòng nước mắt bên khoé vẫn chảy dài xuống mang tai”. Trần Kồ bế con bé lên, và cảm thấy rất rõ là “dường như thân hình còm nhom của nó quá bé nhỏ không kham nổi niềm đau quá lớn”. Vậy mà chỉ vài năm sau, cô bé bỗng lớn vổng lên và thật sự trở thành một thiếu nữ xinh đẹp, khiến ông hết sức ngỡ ngàng: “Cái đập vào mắt trước tiên là sự trong trắng trinh nguyên như toát ra từ đường nét thanh tú trên người nàng. Làn tóc đen như bóng đêm ôm một khuôn trăng. Đôi mắt ướt buồn sườn sượt được cảm nhận như một nỗi đau của linh giác”. Bảo cô đẹp thì đúng rồi, nhưng là một vẻ đẹp trắng trong, tinh khiết đến siêu việt. Sức quyến rũ của nàng toát lên từ tâm hồn hơn là từ thân xác. Ông để ý tới thói quen sau của nàng: mỗi khi hái trầu đằng sau nhà bao giờ cô bé cũng trò chuyện thầm thì với cây trầu những mong an ủi nó vì “sợ làm đau” thân trầu. Lạ nhất là trong cảm nhận của nàng, trầu không khô héo mà đỡ đau thật, nên vẫn tươi tốt, trong khi “kẻ khác động tay vào là hôm sau nó xàu lá” ngay. Lạ hơn nữa là “giàn trầu bên kia xuống màu” thì giàn trầu bên này của nàng “cũng xuống màu theo”. Theo giải thích của chàng thì “mọi vật đều tương quan”. Nên: “Dường như những ý nghĩ tốt lành của con người truyền ra một luồng khí thiện khiến ngoại cảnh chung quanh hớn hở tươi vui. Ngược lại phải chăng mọi ý nghĩ độc ác làm ngột ngạt ô trọc bầu khí sống của thế gian này. Và đến cả sự thịnh suy của thời thế phải chăng cũng do những luồng khí thiện ác này tác động”.

Với tư chất như vậy, nàng dễ dàng tìm đến với thi ca. Chẳng phải người đời thường bảo thơ là tiếng nói giàu cảm xúc, là tiếng lòng da diết của con người là gì! Nhưng đột nhiên nàng quyết định không làm thơ nữa. Vì sao vậy? Trả lời nỗi băn khoăn của Trần Kồ, nàng bảo: “Dạ… cháu nghĩ… mình làm thơ dở, sợ làm đau thơ”. Cứ như trong huyền thoại vậy. Nếu trong cuộc đời mà có thế thì cũng thật là hiếm hoi. Nhưng nếu hiểu được bản tính dịu dàng giàu cảm thông với muôn vật muôn loài của nàng thì ta có thể cảm thông được phần nào. Chẳng phải, với nàng, “thơ cũng có linh hồn” đó sao! Nên không lạ, trong mắt của chàng “bước chân cô gái nhẹ tênh như đi trong cõi không”, còn “con đường nhỏ bên bờ ao bỗng biến thành dải lụa bạch mà chân nàng không hề làm nhàu nát”. Những bước đi khoan thai nhưng vô cùng  cẩn trọng. Nàng “như sợ dẫm phải một sinh vật nào trên đất”. Đúng hơn là nàng “sợ làm đau đất”. Viết đến đây, như không kìm nổi lòng mình, tác giả chợt thốt lên: “Ôi! Một sinh vật chỉ với vũ khí duy nhất là tâm hồn sợ làm đau người đau vật làm sao bước qua khỏi đoạn đường thời buổi tao loạn hiện nay, đầy giặc cướp, đầy chém giết, đầy bạo lực phũ phàng”. Nỗi lo ngại có thực này, suy tới cùng, nào của riêng ai?

 Khi con đường hoạn lộ mở rộng ra phía trước với dòng họ Trần thì quận chúa Ngoạn Thiềm lại nảy ra ý định bỏ về quê với ý muốn làm ni cô. Để thoát tục ư? Không hẳn: “Dạ thưa, người sinh ra vốn đã tục. Cõi đời là cõi tục. Chỉ có chết mới thoát tục”. Trong khi nàng chưa hề muốn chết. Hay đi tìm sự “vĩnh cửu”? Cũng không hẳn: “Vĩnh cửu là cái có trước” khi con người sinh, và “cũng lại có sau” khi con người chết. Trong khi với nàng ngày ấy vẫn chưa đến. Trần Kồ sững sờ vì chưa thật hiểu sự “kén chọn” của nàng: “Thơ… một tâm hồn thơ… cháu đã lấy thơ làm chồng”. Quyết định gắn bó số mệnh mình với văn chương ư? Người đời khó hiểu là phải. Không loại trừ cả Trần Kồ  khi đó. Chỉ khi nàng uống thuộc độc vì phẫn chí, chàng mới dần hiểu ra mọi sự. Nàng nói trong tuyệt vọng: “Thầy không hiểu được là từ lâu em xa lánh bụi đời nhẫn nhục mặc chiếc áo sương phụ để chờ… thầy”. Đúng là nàng đã yêu chàng - một mối tình câm lặng, có lẽ “chỉ có các vì sao trên dòng Ngân kia biết”. Khi đưa thi thể nàng trở về Ấp Hải với bao kỷ niệm thân thuộc, thì đột nhiên: “Có cái gì đã khuấy đảo sâu xa trong người chàng. Một tiếng động khác thường, một ý thức đang ngủ yên sực tỉnh, một cánh cửa hé ra, một tấm màn vén lên, một chân mây chợt mở”. Chàng kịp ngộ ra: “Đúng là chàng yêu Ngoạn Thiềm”. Nhưng cho tới lúc ấy người tình nhân tội nghiệp này vẫn không sao lý giải nổi. Ngay cả cái điều căn cốt nhất: tình yêu này thuộc về “tâm tư hay xác thịt”? Rồi chàng quả quyết: nó thuộc “về linh hồn”. Đúng vậy! Chàng đâu yêu một khuôn mặt, một dáng hình, một giọng nói cụ thể. Chàng yêu một cái gì “ở sau mọi thứ ấy”, như “một ảo ảnh đuổi bắt đời đời từ kiếp này qua kiếp khác”. Đúng hơn nữa là chàng yêu “cái bí ẩn của tình yêu” nghĩa là yêu “chính cái bí ẩn của linh hồn mình”. Bởi vậy, không có gì là khó hiểu nếu “chính nàng trong tình yêu dám dấn đến những chân mây mà người đời tới đó sẽ mất thăng bằng trượt ngã, còn nàng thì bay bổng tiến tới những biên giới không ngờ để chàng nối bước theo chân”. Chợt nhớ tới những giọt nước mắt chia ly của đôi lứa. “Dòng lệ rơi vì tình như mưa rơi không cần ai thông dịch” - Hoàng yến đã viết như vậy.

Thực tế đã xác minh cái điều nhà văn dự cảm. Sau vụ Cửu Liên, mọi người trong gia tộc được hưởng nhiều lợi quyền, danh vọng. Riêng Ngoạn Thiềm khi thành quận chúa lại nghĩ tới việc bỏ về quê muốn làm ni cô thoát tục để truy tìm “cái vĩnh viễn”. Chớ quên tới việc nàng đã trân trọng ra sao khi dâng những vần thơ “vụng dại” của mình cho Trần Kồ. Trước sự giãi bày của Ngoạn Thiềm - “món nợ của em chính là món nợ với văn thơ”, Trần Kồ đi tới một phán quyết nghiêm khắc với mình: “Mi đã cảm thấy… đã làm những việc phù phiếm tội lỗi so với cái việc mi cần phải hoàn thành ngay trong đời”. Bởi lẽ: “Mỗi người có một chân mây, mi đã tự khép chân mây của mình”. Lúc ấy, ông còn nhắc tới “Toà án sám hối” - một thứ toà án cao nhất đồng thời công minh nhất trong quan niệm của mình. Rất kịp thời, câu nói của người xưa vang lên: “Tri quá cận hồ dũng” (Biết lỗi là đã gần cái dũng). Thế là ông đi tới sự dứt khoát cho một cuộc chọn lựa. Khi đó “có cái gì mát lạnh làm chàng tỉnh lại”. Nhìn ra xa: “Hoàng hôn đang thay nhanh màu áo”. Ngẩng đầu lên: “Chợt thấy vầng trăng tái nhợt trên nền trời”. Chính nàng ở nơi cao vợi xa xăm kia để chờ chàng. “Không sao đâu, chỉ chốc nữa thôi, chàng sẽ được gặp lại màu trăng bạc của một đêm trăng thượng huyền”.

Một quyết định hoàn toàn xa lạ với mong muốn của bao người tưởng là thân thiết bao quanh chàng. Đây, lời nhắc nhở đầy ân tình trước khi rời dinh thư nhà mình của bà Dung, giờ đã là phu nhân của Thái sư quyền uy Trần Thủ Độ: “Anh Kồ thích rượi ngon và bạn hiền. Nay anh Khánh không còn nữa. Ông phải thay anh Khánh mà tiếp đãi anh ấy”. Bà cũng không quên dò hỏi: “Thế nào, ông đã nghĩ nên phong chức quan gì cho anh ấy chưa?”. Trong đầu Thái sư đã có một loạt chức tước quan trọng như Tham tri chính sự, Đại phu Trung thư, hoặc Quốc viện sử… dành cho Trần Kồ. Tuy nhiên, đúng như Trần Thủ Độ nghĩ: “Cả bà và tôi không ai muốn được cả. Còn tuỳ anh ấy có muốn không”. Thực tế đã diễn ra đúng như phán đoán của Trần Thủ Độ. Lúc bước chân qua khỏi cổng phủ Thái sư, tâm trạng Trần kồ cảm thấy “lâng lâng”, như vừa “bước qua mọi ràng buộc” của tục luỵ. Đó là “một cảm giác thoắt lên mây nhẹ tênh tênh giống như khoảnh khắc ý thơ của chàng đột phát thoát khỏi lồng giam từ ngữ”. Hình như ai đó trên cao đang nhìn ông. “Chàng ngửa đầu nhìn lên, bắt gặp mặt trăng tròn nụ cười ánh bạc”. Một ý nghĩ ập đến tràn ngập trong ông: “Ngoạn Thiềm! Chính em đã thức tỉnh ta ra khỏi cơn mê trần thế. Chính em đã nhắc ta đừng quên thiên chức của mình. Chỉ có em mới giúp ta lay đổ nổi cây cổ thụ từ ngữ nghìn xưa rễ sâu bền gốc. Chỉ có em mới chắp cánh ta bay qua cái hữu hạn văn chương của cõi - bụi để đặt chân lên cõi - chưa - biết của thi ca”. Kết thúc tác phẩm ngập tràn ý nghĩ bay bổng: “Cái ngày xa lơ xa lắc ấy bao giờ đến nhỉ?”. Một câu hỏi buông ra: “Hay đó là giấc mơ của dã tràng xe cát”? Vì vẫn chưa hết những nỗi day dứt: “Nhưng đã chót sinh làm kiếp dã tràng thì hãy cam tâm xe cát biển đông”. Tưởng là vô lý và vô vọng. Không đâu! Cuộc sống có khi nào không tồn tại dưới dạng thức chưa hoàn kết đâu! Chính vì thế mới cần đến những con người quả cảm giàu trí lự, luôn tìm cách xông lên phá bỏ mọi rào cản hữu hình và vô hình nhằm hướng tới một mục đích duy nhất không gì so sánh nổi: Tự do.

            Có thể nói, chính mối tình da diết với thơ, với Trần Kồ trong sự vươn dậy một cách vô vọng nhằm vượt thoát mọi ràng buộc đôi khi vô tình vô lý của xã hội đã giải thích cái chết có phần diệu vợi của Ngoạn Thiềm. Nhà văn thành công trong việc huyền thoại nhân vật đáng yêu này. Để cho nàng cái cơ may sống mãi trong tâm tưởng của bạn đọc hôm nay và mai hậu…

                                                                                                                     Đà Lạt, Ngày Quốc tế Phụ nữ - 2013

                          ………………………………………………………………………………………

* Hoàng Yến - Tuyển tập (Tập II), Nxb Hội Nhà văn - Hà Nội, 2007. Tất cả những đoạn trích trong bài viết đều rút ra từ bộ sách này.