Cách thức xử lý tài liệu lịch sử đặc sắc của tiểu thuyết gia Hoàng Yến

           Nhiều người biết nhà văn Hoàng Yến (1922 - 2012) tên thật Lê Hoàng Yến tham gia cách mạng rồi kháng chiến từ rất sớm. Ông từng vinh dự chiến đấu cùng Đại đoàn 304 qua nhiều chiến dịch lớn trong đó có chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Đặc biệt, ông từng làm Thư ký tòa soạn Báo Khu 4 và là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam năm 1957. Tuy  nhiên, ít người biết trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông đã học hết Thành chung, có thời gian dạy học tại trường Ecpic Phan Thiết. Có thể nói, chính nhờ vốn liếng văn hóa, văn chương Pháp mà sáng tạo của ông sau này luôn đậm đà chất văn và lấp lánh quan niệm hiện đại. Dưới nhiều bút hiệu khác như Thạch Tiễn, Hoàng Lan, Hoàng Đức Anh, nhà văn Hoàng Yến đã để lại nhiều công trình nghệ thuật ấn tượng, bao gồm cả thơ, dịch thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, lẫn kịch bản sân khấu. Bộ sách Hoàng Yến Tuyển tập gồm ba cuốn, ngót 1400 trang, đã chứng tỏ sức lao động bền bỉ, giàu tính tự giác và tính sáng tạo của ông.

Nhìn lại cuộc đời lao động nghệ thuật không ít sóng gió qua nhiều giai đoạn của Hoàng Yến, nhiều người thường nhắc tới những huy chương vàng và huy chương bạc dành cho các tác phẩm sân khấu của ông. Cố nhiên, những đóng góp của Hoàng Yến trong lĩnh vực nghệ thuật này là lớn và quý, nhất là khi ngành nghệ thuật sân khấu ở nước ta vào thời ấy chưa có nhiều kinh nghiệm mà cũng chưa thu được những thành tựu đáng nể trọng như sau này. Nhưng có lẽ sự nghiệp lớn nhất, lấy của ông nhiều tâm huyết nhất lại chính là văn chương. Không ít người còn nhớ tới tập thơ trữ tình với nhiều cảm xúc khác lạ so với cảm hứng chung của thi ca cùng thời được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm vào 1957 - tập Tình người soi dặm đường. Riêng tôi thì nhớ nhiều hơn tới bài phê bình Tập thơ “Việt Bắc” có hiện thực không? của Hoàng Yến vốn khai mào cho một cuộc tranh luận văn chương cởi mở đầu tiên ngay khi hòa bình mới lập lại năm 1954 trên miền Bắc. Bài viết mới đầu đăng trên báo Văn nghệ số 65 ra ngày 11/03/1955. Trên cơ sở bài này, tác giả đã mở rộng và đào sâu thêm để in thành ba kỳ trên báo Nhân dân, số ra ngày 3, 4, 5 tháng 04 năm 1955, với tên Đọc thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu. Thời gian khá dài sau tôi mới được trực tiếp đọc những ấn phẩm mang tính sự kiện nói trên của ông. Và mãi đến khi ba tập Hoàng Yến Tuyển tập gần đây ra đời, tôi mới có dịp thưởng ngoạn những tuyệt phẩm khác của ông như các cuốn tiểu thuyết Câu thơ yên ngựa, Chân mây khép mở, Người học trò áo xanh… Theo tôi, chính những cuốn tiểu thuyết gắn với lịch sử này mới giúp các thế hệ bạn đọc hôm nay và mai sau nhận diện rồi đi tới lý giải con đường cũng như sức sáng tạo nghệ thuật riêng biệt của nhà văn.

Nghĩ tới các nhà văn viết về đề tài lịch sử trong đầu tôi thường hiện lên hai tên tuổi xuất hiện vào hai giai đoạn với dáng dấp và tầm vóc khác nhau. Đó Nguyễn Huy Tưởng và Hoàng Quốc Hải. Năm 2012 này, giới nhà văn và bạn đọc chúng ta kỷ niệm tròn 100 năm ngày sinh của Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960). Hội Nhà văn Việt Nam đã phối hợp với Nhà xuất bản Kim Đồng tổ chức cuộc hội thảo với chủ đề Nguyễn Huy Tưởng với đề tài lịch sử. Không thể quên được vở kịch Vũ Như Tô và truyện Lá cờ thêu sáu chữ vàng. Mục đích và tính chất của các tác phẩm này lộ lên khá rõ: phải văn chương hoá lịch sử. Không phải ngẫu nhiên mà nhà sử học Dương Trung Quốc có dịp tham dự đã lên tiếng khẳng định rằng Nguyễn Huy Tưởng cùng văn nghiệp của ông mang cốt cách một người viết sử. Các bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ của nhà văn Hoàng Quốc Hải có thể nói cũng đi theo một khuynh hướng xác định như vậy. Tôi muốn nhắc tới bộ tiểu thuyết “Tám triều vua Lý” (4 tập) và “Bão táp triều Trần” (6 tập) với chừng 6500 trang lấy mất 30 năm lao động nghệ thuật bền bỉ của nhà văn và thật sự trở thành một sự kiện văn chương lớn nhân cả nước nồng nhiệt kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội vào năm 2010. Khi trả lời phóng viên Báo Sài Gòn giải phóng ngày 04/10/2009, Hoàng Quốc Hải thẳng thắn mong mỏi: Chỉ khi nào nền văn học văn chương hóa được lịch sử - PQT lưu ý, thì người dân của dân tộc đó mới thấu hiểu được nhiều hơn về lịch sử, mới thấm được nhiều hơn khí phách dân tộc...”. Định hướng và tính chất sáng tạo tiểu thuyết lịch sử của nhà văn lộ rõ trong câu nói ấy.

Chủ trương của nhà văn Hoàng Yến khi xử lý chất liệu lịch sử trong sáng tạo tiểu thuyết có trường hợp giống mà cũng có trường hợp khác các nhà văn nói trên. Giống là khi ông viết cuốn Câu thơ yên ngựa từ cuối năm 1979 đến đầu năm 1983. Tương tự như đường hướng của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng trước ông và nhà văn Hoàng Quốc Hải sau ông, Hoàng Yến muốn tập trung bút lực nhằm giải mã bản tính và sức mạnh của các nhận vật lịch sử mà ở đây là danh nhân Lý Thường Kiệt. Một lần, khi trả lời phỏng vấn báo chí, nhà văn Hoàng Quốc Hải có nhắc tới tác phẩm vừa nêu của Hoàng Yến, xem như là một trong những mạch nguồn ảnh hưởng trực tiếp tới mình khi dụng bút. Nhưng đến tiểu thuyết Chân mây khép mở hoàn thành năm 1991 thì lại có phần khác. Ở đây, Hoàng Yến chủ động xem con người và sự kiện lịch sử như bất cứ chất liệu sáng tạo nào khác trong tay nhà văn. Cái chính là ý đồ nghệ thuật. Mọi thứ đến từ xưa hay nay, ngoài hay trong đều chỉ hướng tới phục vụ ý tưởng cụ thể, xác định nảy sinh từ chính đời sống. Có lẽ đấy là chỗ làm nên sự khác biệt căn bản giữa ông với các nhà văn Việt Nam viết về đề tài lịch sử từ trước đến nay chăng? Tính hiện đại của tác phẩm nhờ thế được gia tăng hơn. Bởi hiện giờ, nhiều người thường có xu hướng phân biệt giữa mô phỏng với tái hiện - một ý niệm mang đậm tinh thần cách tân. Ví như nhà nghiên cứu J. Baudrillard. Theo ông, tái hiện là mô phỏng cái đã được mô phỏng, do đó, hầu như cắt đứt hoàn toàn với vật mẫu đầu tiên được xem như là “hiện thực”. J. Baudrillard gọi sản phẩm sáng tạo này là “ngoại thực”, ở đó người viết tạo ra một tác phẩm hư cấu hầu như thuần tuý. Tái hiện khác hư cấu bình thường ở chỗ nó “không chỉ trình bầy một vắng mặt như đang hiện diện, một tưởng tượng như đang có thực, mà còn là làm xói mòn bất cứ mâu thuẫn nào với cái có thực, hấp thu cái thực vào bên trong chính nó”. Vì tái hiện, theo J. Baudrillard, có điều kiện xóa đi sự khác biệt giữa sự thực và tưởng tượng.

Tinh thần tái hiện như thế được bộc lộ qua những đoạn trữ tình ngoại đề của tiểu thuyết Người học trò áo xanh được nhà văn Hoàng Yến hoàn thành vào năm 1995. Nhân vật xưng “tôi” tâm tình: “Nghe đến ‘cổ’ là tôi đã háo hức cả người…”. Anh ta còn bảo: “Không hiểu sao cái quá khứ bí ẩn của thế giới xa xưa cuốn hút tôi, quyến rũ tôi như khuôn mặt người tình đã mất”. Cái “cổ” xa xăm gây nên cảm hứng thật là đặc biệt. Nó giúp những người có ý thức nhận chân ra con đường và lẽ sống đích thực ở đời. Từ đó, không ai có thể dễ dàng lừa mị ta, giúp ta luôn tỉnh táo trong việc định hướng suy nghĩ và hành động trước bao sóng to gió cả của cuộc sống. Vậy là, câu chuyện và vấn đề trong những trường hợp như thế tưởng như “rất cũ” đã trở nên “rất mới”. Sự soi sáng của tư tưởng giữ vai trò quyết định. Đúng như nhà thơ Chế Lan Viên từng viết: “Nếp rêu con cũng chói loà ánh sáng/ Khi mặt trời tư tưởng rọi hang sâu”. Bởi vậy, lúc “nghe nói tới một hộp gỗ cũ mới thấy ở ngôi nhà từ đường”, rất tự nhiên, nhân vật trong truyện cảm thấy “tâm linh” bỗng trở nên “xao động” dầu chỉ nhận ra ở bên trong vẻn vẹn một cuốn sách cổ. Bất giác, anh “đưa tay với muôn vàn thận trọng” như “nâng hứng từng trang, từng trang”, cứ sợ trong phút chốc chính “nó có thể tan biến thành bụi”. Thái độ thận trọng, nghiêm cẩn trước những dấu vết của quá khứ ở đây thật đáng nể phục. Rồi, như không cưỡng lại nổi, anh lập tức chủ động giải mã, bằng sự cố gắng “hình dung nối kết những đoạn văn rời rạc, sắp xếp lại có mạch lạc lớp lang”, hơn thế “cố sống lại, cố nhìn thấy, cố lắng nghe bằng con mắt, lỗ tai của thời gian tôi chưa sinh thành”. Nhờ sự toàn tâm toàn ý mà “nguyện ước” của người xưa, tưởng là “một câu chuyện hoang đường” chìm sâu trong quá vãng đã trở nên rất “thực”, cái chân cái giả đan xen “như mây lồng mây, như khói lồng khói” đã được bóc tách và sáng tỏ dần.

Tiếp cận với sự thật bị phủ bởi lớp bụi dầy của thời gian quả không mấy dễ dàng. Khó khăn đến từ nhiều phía. Trước hết là những văn bản cổ “trang đậm trang mờ, chữ còn chữ mất, những mạch đứt trong câu, những quãng trống trên giấy- những chỗ để tưởng tượng người xem bắc cầu vồng giải yếm- những tờ mủn ra thành bụi khi mó tay vào”. Sau đó là những cơn gió hữu hình, nhất là những cơn gió vô hình nổi lên lắm khi thật bất thường và vô cớ: “Và gió, gió. Những ngọn gió vô hình vần vũ trên tờ giấy, thổi bụi thành chữ, kết bụi thành nét, tụ bụi thành hình, bốc lên những đám cháy không lửa, dội lên những tiếng la thét không cấu âm, gợi lên những ký ức không tên”. Người đọc dễ cảm thông với tình cảnh đôi khi thật oái oăm của nhân vật: “Và mỗi lần mắt tôi lướt qua, những hàng chữ xém lửa thời gian ấy bỗng dãn nở ra trong một hóa thân trọn vẹn. Cảnh vật chung quanh ta tan biến nhường chỗ cho những hạt bụi giấy từ trang sách đổ về như đám tinh vân chuyển động, trong đó trồi lên những gương mặt vớt được từ dĩ vãng mù tăm, hiện lên những nhân vật, bước ra từ trong huyền thoại, như những hình thù quái dị lặng lẽ nối nhau đi trong những đêm sốt cuồng thời thơ ấu”. Tuy vậy, dường như không một trở ngại nào có thể làm nản chí nản lòng con người luôn da diết kiếm tìm sự thật, khiến anh có đủ can đảm để “lật cuốn quyển từng tờ tường tờ một mạch cho tới trang cuối”. Sau cùng, mọi nỗ lực kiên trì đã được đền đáp xứng đáng.

            Tuy nhiên, theo một cách rất riêng… Bởi, như nhân vật trong truyện đã xác định: “Tôi không phải là nhà khảo cổ học”, mà chỉ là “kẻ hành hương khảo cổ”. Sự khác biệt nằm trong chủ đích hướng về quá khứ. Điều này càng đọc lại càng nhận thấy rõ hơn. Đoạn văn sau giúp ý định xuyên suốt được hé lộ dần dần: “Có phải vì khi tôi ngồi trong bóng tối của dĩ vãng nhìn ra thấy rõ hơn sự phức tạp đang diễn biến… Tôi chỉ biết đối với tôi hình như quá khứ hiện hữu trong mỗi hạt bụi cũ thức tỉnh tôi hơn cả những hạt vàng của tương lai mờ ảo…”. Một sự liên tưởng vô cùng sát hợp đến liền ngay sau đó: “Phải chăng đây là loại bia chôn nơi sa mạc, chai quăng trên biển cả, lá thắm thả trôi dòng, cất giấu một sự thật cấm kỵ, mang một thông điệp cho thế gian, gửi gắm một lời trối trăng với hậu thế, nhắn nhủ một nỗi niềm…”.  Cái quyết định nằm ở thông điệp muốn nhắn gửi. Mọi cái khác chỉ là những phương tiện giúp thông điệp có điều kiện thấm sâu vào tim óc người tiếp nhận. Ta chợt thấu hiểu tâm thế lạ kỳ của người gửi thông điệp: “Giống như chất rượu mạnh ngấm vào cơ thể trước lúc hơi men bốc lên đầu, những năm tháng, những sự việc, những mẩu đời xa xưa trên trang sách cổ thấm vào khắp giác quan tôi, xuyên qua cơ thể tôi trước khi đến với tâm hồn vào một thời gian xa lạ với thời gian của con người, một thời gian nhìn thấu vào bên trong thực tại, một thời gian đậm đặc tâm linh không mang bản chất duy lý”. Những dòng suy tưởng cuồn cuộn và sống động. Sức mạnh, sức sống của sản phẩm sáng tạo từ chất liệu lịch sử phải chăng nằm ở chỗ đó!

Trở lại với tiểu thuyết Chân mây khép mở. Thông điệp chính nhà văn muốn trao gửi tới con người của mọi xứ sở và mọi thời đại nằm ở đâu? Ở chính nhân vật trung tâm của tác phẩm là Trần Kồ. Lần đầu tiên ông xuất hiện là ở “đệ nhất tửu lâu” trong kinh thành Thăng Long. Lão Tô - người chủ tửu lâu hỏi việc đón ông đã chu tất chưa thì được thưa lại rằng: “Ông ấy nhắn tin về, khắc đi khắc đến chẳng cần ai đưa đón”. Thật độc lập và chủ động trong mọi việc! Một ý nghĩ chợt đến ngay trong đầu lão Tô: “Chà, đúng là cái giọng kinh bạc”. Vẻ tự tin phớt đời ấy của “ông nho sỹ ngông cuồng nổi tiếng đất đế đô” được tác giả chủ ý tô đậm dần dà theo cốt truyện. Chẳng hạn, với ký ức của viên Tuần sát Trại Sành thì ông là “một nho sỹ nức tiếng cầm kỳ thi họa từ lúc 15 tuổi, nổi danh về tính ngạo ngược nhất kinh kỳ”. Đây là cảnh Trần Kồ vẽ liễu: “Năm đầu ngón tay của Trần Kồ đã nhúng vào nghiên mực đặt ở trền bàn, tay kia giữ thẳng vạt áo trắng, nguyệch ngoạc mấy nét vờn. Và trước mắt người hiện lên… một gốc cây liễu rạp mình trước cơn gió dữ. Như có cái gì hơn thế nữa, một thân phận đàn bà trước ngọn gió số phận phũ phàng…”. Từ cách vẽ đến thần thái của bức vẽ đều tỏ rõ không chỉ cái tài tình mà trước nhất là cái tính khí cương cường của người vẽ. Tiếp theo là việc dùng “ngọn bút lông” để “đổi mới toàn bộ hoa văn họa tiết kệch cỡm của ngành gốm thô sơ” rất là thần tình: “Bảy mươi bộ bát sứ Bồ Bát đồ cống cho nước Tống, chàng chỉ phóng bút trong mươi hôm” nhưng vẫn nhận được “tiếng khen của triều đình”. Rồi tác giả như nương theo cảm nhận của công tử Khánh để thể hiện tính cách có một không hai của nhân vật: “Hồn ngươi say mê đi theo nét bút của chàng, lượn trên lưng rồng, bay trên đuôi phượng, vờn trên mây sóng, chấm phá đậm nhạt trên hoa lá bốn mùa. Ngươi cảm nhận được sự khám phá của chàng trong cái thần của vạn vật, phần sâu sắc nhất của thiên nhiên qua bốn mùa tuần hoàn xoáy ốc xuân sinh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàn. Nhưng trong cái hữu hình của nét họa, cái vô hình vẫn ẩn tàng đâu đó”. Cuối cũng viên công tử vỡ ra rằng “chất thơ trong đường nét đã đánh thức cái trường cửu của sinh hóa còn ngủ sâu trong tầng tầng lớp bụi của thời gian”. Chính sự hiểu biết ấy đã giúp công tử Khánh nhích lại gần chàng, và từ đó hai người trở thành đôi bạn tri kỷ.

Đặc biệt, hầu như trong suốt cuộc đời mình, mọi việc làm và ý nghĩ của Trần Kồ luôn thấm nhuần tư tưởng thân dân. Ông thường day dứt: “Dân nghèo như con giun xéo lắm cũng quằn. Mỗi lần quằn dậy lên một đợt sóng. Triều đình chỉ lo mỗi việc dẹp, diệt. Diệt sao hết được ngoại duyên”. Căn nguyên của quan niệm cao cả ấy nằm ở chỗ ông có ý thức “làm ló đoá hoa tâm trong người lâu nay còn lấp dưới bùn”. Ông bảo: “Tôi là người tơi nón ngũ hồ, lấy chân trời làm nơi nương, lấy góc bể làm chỗ tựa. Trên đường đi bóng cây sẽ là nhà, đoá hoa nào đó sẽ là khách…”. Ông là người của tam giáo. Trong sự hài hoà giữa những khuynh hướng tư tưởng khác nhau, đến độ biến chúng “thành một dòng nước hát ca” quyện hoà trong ông. Nhà văn đưa ra lời bình luận thấu đáo: “Chàng lấy ở đạo Khổng cái gốc dân, ở đạo Lão cái huyền trời đất, ở đạo Phật cái tâm tỉnh thức. Và tất cả tạo cho chàng một phẩm-cách-người tuyệt diệu có một không hai”. Xa và cao hơn: “Trong người chàng không có chút ngả nghiêng, hài hòa linh hoạt như ngọc lăn trên bàn đá”. Do vậy, Trần Kồ có thể cảm nhận được biết bao lẽ phải thường ẩn khuất giữa dòng đời đục trong cuộn trôi hối hả. Ví như, dầu không thể “biết được những chuyện trong mai hậu” nhưng ông đã “nghiệm thấy rằng hễ sức mạnh đồng tiền càng tăng thì sức mạnh tinh thần và phẩm cách con người càng sa sút”. Nói khác đi “người nằm trên tiền nhưng rồi tiền lại nằm lên người”. Chân lý và lẽ phải như những giọt phù sa lắng lại trong tâm tưởng của những người giàu trải nghiệm mà cũng giàu thiện chí như ông.

Từ đó, Trần Kồ có thể dễ dàng nhận chân ra bao lẽ đúng sai, thật hư, xấu tốt ở đời. Cái gốc nằm ở trí tuệ và cảm nhận của người dân. Một lần Trần Kồ hỏi: “Thời buổi đảo điên này, biết lấy gì mà phân biệt được tốt với xấu?”. Lão Tô đáp ngay: “Lấy mũi mà ngửi. Cái tốt thơm lừng còn cái xấu buồn nôn lộn mửa”.  Như việc quan Phụng ngự Đỗ Quảng dâng vua một con ngựa cái hoa đào. Nhiều người đồn đoán biết bao điềm lành. Riêng Trần Kồ tức tối nói: “Dân đang chết đói như ngả rạ làm gì có điềm lành… Chỉ được điềm nịnh”. Sự thật ở chỗ: “Đình thần bịa chuyện hót mong vinh thân. Còn vua thích nghe hót để quên chuyện an dân”. Thực chất bên trong lập tức bị phanh phui trong cái nhìn của con mắt sáng. Mắt sáng nhờ cái tâm sáng. Trung ngôn vốn nghịch nhĩ. Chuyện đến tai vua quan, đám sỹ tử trong chùa cùng ông bị bắt. Vụ án được xử kín hay đúng hơn là gần như không xử. Nó bị chôn sống trong im lặng như biết bao sự ngang trái khác ở đời. Nhưng lòng dân Thăng Long lại xôn xao. Nên khi “đám sỹ loạn tuy dập tắt” mà “không khí kinh sư vẫn hừng hực thuốc nổ”. Mọi chuyện có nguy cơ trầm trọng hơn. May cho Trần Kồ là nhờ sự can thiệp của những bậc thần thế trong triều nổi bật là công tử Khánh do hâm mộ tài năng của ông, vì vậy “tội năng” được ân giảm. Đáng lẽ ông bị đày về làm hoành nô Cao Điền thì lại được chuyển sang làm quan Trung khách, cũng một loại nô nhưng làm việc nhẹ hơn nhiều ở cửa công. Trần Kồ vốn chẳng lạ gì cái thói đời đen bạc ấy. Chúng là dấu hiệu của thời suy loạn. Chẳng phải có lần nhân bàn về những chuyện rối ren của triều đình, Trần Kồ đã cười giễu: “Cái này phải chửi bố thằng Cao Biền. Hắn qua đây yểm tiệt mạch rồng mạch cọp, chỉ để lại mạch rắn mạch giun. Bây giờ mới sinh ra bọn quần thần ươn hèn như vậy”. Tuy lão Tô đại diện cho thứ minh triết ngàn đời của nhân dân lại nghĩ khác: “Không đúng đâu. Thiền sư La Quý An đã phá sạch mọi trù yểm của Cao Biền, để lại cho hậu thế cả một sấm trên cây gạo thiêng trồng trước chùa. Nhờ vậy vua Lý Thái Tổ mới ra đời”. Những lời luận bàn có sức soi rọi đến muôn đời.

Đọc xong cuốn tiểu thuyết, ta có dịp thấm thía bao điều lớn nhỏ. Trong đời và cả trong văn. Người viết như thoát ra khỏi những ràng buộc vô hình của chất liệu lịch sử bằng một ngòi bút tự chủ, tự quyết đáng nể phục. Với tiểu thuyết gia Hoàng Yến, ý đồ nghệ thuật là tối cao, sự hư cấu là nguyên tắc bất di bất dịch. Chúng hoàn toàn chi phối sự sáng tạo của nhà văn. Suốt cả quá trình và trong mọi thao tác. Chất liệu nóng hổi của thời hiện đại hay trầm tích nơi lịch sử xa xăm với ông đều thế cả. Đó phải chăng là một phương diện khác của tài năng làm nên tên tuổi Hoàng Yến. Chúng ta chắc sẽ còn tiếp tục kinh ngạc trước những khám phá mới mẻ về ông…

                                                                                                                                                          Đà Lạt, 22/9/2012