Đọc văn phê bình của Nguyễn Huy Thông

 Báo Văn nghệ số 13 năm 2010 có đăng bài Bao nhiêu là trăn trở chưa thể lý giải được… của nhà phê bình Từ Sơn. Thực ra đây chỉ là một lá thư ngỏ gửi Nguyễn Khắc Phê nhân anh đọc cuốn tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường dầy dặn của nhà văn xứ Huế ẩn tàng rất nhiều nội lực văn chương này. Là nhà phê bình trải nghề, nổi tiếng là cẩn trọng, Từ Sơn thành thực tâm sự: Sau một tuần đọc một cách kỹ lưỡng và chậm rãi. Rất xúc động…”. Rồi ngay sau đó, anh lập tức bày tỏ nỗi băn khoăn: “Đọc xong, tôi rất muốn viết một bài phê bình thật tâm huyết và nghiêm túc về cuốn tiểu thuyết của Phê. Nhưng rồi tôi lại thấy khó quá”. Vì sao? Có lẽ, đây mới chính là điều anh muốn thổ lộ. Không chỉ với Nguyễn Khắc Phê, cố nhiên: “Muốn viết một bài phê bình đúng như ý mong muốn, tôi cần phải đọc toàn bộ các tác phẩm của bạn trong mấy chục năm qua, phải tìm đọc nhiều tài liệu và các tác phẩm văn học phản ánh một chặng đường đầy biến thiên bi tráng của dân tộc, phải cập nhật thông tin tình hình văn học hiện nay, v.v… là những điều mà không một ai viết phê bình văn học có thể tự cho phép bỏ qua. Đấy là chưa kể phải tìm hiểu nhiều mặt để đưa ra được những kiến giải đúng đắn về những vấn đề mang tính thời đại bạn đã nêu ra trong cuốn tiểu thuyết này. Những việc này hiện nay đối với tôi quả là bất cập”. Sao Từ Sơn nói vậy? Chẳng là trước đó nhà phê bình của chúng ta đã can đảm nhìn thẳng vào thực tế: “Vào trạc tuổi ‘cổ lai hy’, tôi thấy ‘lực bất tòng tâm’”. Bức thư ngắn, ý chính chỉ có thế, nhưng chẳng hiểu sao những lời bộc bạch nghề nghiệp chân thực ấy của nhà phê bình đàn anh cứ làm tôi thắc thỏm hoài…

Có lẽ bởi vậy mà khi cầm trên tay tập sách của nhà phê bình Nguyễn Huy Thông có tên Cảm nhận văn chương do Nhà xuất bản Thanh niên mới ấn hành đầu 2010 này, tôi bỗng trở nên thận trọng và dè dặt hơn mọi lần khi nảy ra ý định cầm bút. Viết phê bình văn chương, dầu là phê bình về/cho sáng tác hay phê bình về/cho phê bình thì cũng vậy thôi, đâu phải là công việc khơi khơi cho qua chuyện. Nhất lại biết, Nguyễn Huy Thông đi vào con đường phê bình khá sớm. Bài Duy Khán với tập thơ “Trận mới” in trên báo Tiền phong (9/1972) và bài Về tập thơ “Đất này… năm tháng” của Đào Xuân Quý in trên báo Văn nghệ (4/1973) chỉ là tiêu biểu. Thậm chí có bài phê bình được anh viết từ năm 1964, trong sinh hoạt văn học sôi động thường xuyên diễn ra ở học đường vào thời ấy, như bài Điểm một số bài thơ viết về liệt sỹ Nguyễn Văn Trôi…

Cảm nhận văn chương là tập tiểu luận phê bình văn chương thứ ba của anh, sau hai tập Mạch đời… mạch văn (Nxb Thanh niên, 2000) và Bản lĩnh nhà phê bình và thực tiễn sáng tác (Nxb Thanh niên, 2006). Đấy là chưa kể tới tập sách với dung lượng khá lớn do Nguyễn Huy Thông đứng ra tuyển chọn và biên soạn có tựa đề Lưu Trùng Dương – nhà thơ của nhân dân, nhà thơ của anh “bộ đội Cụ Hồ” (Nxb Văn hóa Thông tin, 2008).  Được biết, anh còn là tác giả của nhiều tập ký sinh động như Sáng thu này ở đất Mũi (2001), Còn đó nụ cười (2001)… Nguyễn Huy Thông từng được vinh danh bằng Giải thưởng cuộc Vận động sáng tác về ký văn chương với chủ đề Những kỷ niệm sâu sắc của tình hữu nghị Việt Lào do Hội Nhà văn tổ chức vào năm 1998.

Tập Cảm nhận văn chương, ngoài phần phụ lục đưa vào những ý kiến bàn luận về tác giả ra, gồm tất cả ba phần chính, với 34 bài, được nhà phê bình Nguyễn Huy Thông viết trong vài năm trở lại đây. Trong cuốn sách mới này, người đọc ít thấy những bài trao đổi, tranh luận về văn hóa, xã hội, học thuật ít nhiều xa cách với văn chương như các tập trước. Chẳng hạn, nhiều người từng bắt gặp Trao đổi với Nguyễn Huy Thiệp: hư cấu nhưng không được xuyên tạc lịch sử…; hay Về việc lạm dụng tiếng nước ngoài trên các sách báo hiện nay; Lại bàn về chữ nghĩa, văn phong trong văn bản của các cơ quan Nhà nước… ở tập đầu ra mắt năm 2000. Còn ở tập thứ hai in năm 2006, ta thấy các bài: Cần đảm bảo sự chính xác khi trích dẫn thơ văn;Về việc dùng từ ngữ trong các chương trình truyền hình; Vấn đề phiên chuyển tên nước nước ngoài trên các báo hiện nay… Điều này cho thấy tính chuyên nghiệp biểu hiện ở tính chuyên biệt được tác giả càng ngày càng ý thức một cách sâu sắc và triệt để hơn theo thời gian hành nghề. Bù lại, trong tập mới này, người đọc có nhiều dịp suy ngẫm cùng Nguyễn Huy Thông về nhiều vấn đề văn chương cần thiết và cấp thiết như: Đổi mới thơ nên bắt đầu từ đâu? Hay: Thơ trẻ - băn khoăn và mong đợi…

Trong tập Cảm nhận văn chương, người đọc tiếp tục nhận được nhiều tư liệu văn chương quý giá như từng có dịp tiếp nhận ở hai tập đầu qua bài Tình cảm của nhân dân Đôminica đối với Bác Hồ. Anh nhớ lại một chi tiết hết sức đáng nhớ về Tổng bí thư đảng cộng sản Đôminica là Narơxiô Ixa Konđe ở Đại hội Lần thứ 27 của đảng cộng sản Liên Xô. Tại diễn đàn Đại hội có một không hai này, vị Tổng bí thư nọ đã nhắc tới bài Trời hửng rút trong tập Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tài liệu được Nguyễn Huy Thông tìm thấy trên tờ Sự thật ra ngày 3/3/1986, khi anh học tại Trường Đảng Cao cấp Liên Xô khóa 1983 - 1986. Những câu thơ như Sự vật vần xoay đà định sẵn/ Hết mưa là nắng hửng lên thôi vang lên một âm hưởng đặc biệt vào thời điểm mà tình hình cách mạng thế giới diễn biến hết sức phức tạp và mau lẹ, để rồi dẫn tới cái tình cảnh bi đát Nhân loại chuếnh choáng đi dưới ánh sáng mặt trời (thơ Mai Văn Phấn), chừng 5 năm năm sau… Riêng ở tập mới này, tôi đặc biệt thích thú với một vài ý tưởng được rút tỉa trong các bài viết của anh về nhà văn hóa Trường Chinh. Kể ra, ở những tập phê bình trước, ta cũng đã bắt gặp đây đó những ý kiến phê bình về  cho phê bình, như bài viết Góp một cách nhìn về văn học Việt Nam hiện đại qua tập sách mới của Mai Hương. Khi đó, anh bàn về tập tiểu luận phê bình Văn học – một cách nhìn in năm 1999 của một nhà phê bình nữ vào loại hiếm hoi lúc ấy. Nhưng có thể nói, đến lúc này, khi bắt gặp văn phong chính luận của Trường Chinh, ngòi bút của Nguyễn Huy Thông mới được thỏa sức vẫy vùng. Xin dừng lại nghe anh bàn về tác phẩm lý luận nổi tiếng Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam được Trường Chinh (xin được gọi vậy mà không thêm từ đồng chí ở phía trước, do ở đây ta đang bàn tới Trường Chinh với tư cách một nhà văn hóa) viết năm 1948: “Bản Báo cáo của đồng chí Trường Chinh với lối viết văn chính luận, khúc triết (có lẽ viết khúc chiết nghĩa mạch lạc, gẫy gọn thì chuẩn xác hơn! - PQT), súc tích, sáng sủa, đậm tính chiến đấu và sức thuyết phục …” (tr.50). Tiếc là ở một đôi chỗ, chắc là vì quá say sưa, tác giả trích dẫn có hơi nhiều và hơi dài, dễ gây ra cảm giác thiếu tập trung, do vậy mà thiếu sâu đậm, như tới gần một trang anh nêu ý kiến của Trường Chinh trong Lời nói đầu tập Thơ Sóng Hồng. Dẫu vậy, theo tôi, đây có thể xem là những bài viết nên và đáng đọc.

Tôi chú tâm đến dụng ý của người viết trong việc chọn lựa để nêu lại những quan niệm nghệ thuật của Trường Chinh ngày trước. Tất cả đều hướng đến sự vận động của nền văn chương đương đại đúng như đòi hỏi của thứ phê bình đích thực. Như những câu thơ từ lâu đã trở nên quen thuộc này: Sáng tạo có phải đâu là mất gốc?/ Lỗi lai căng, lập dị có hay gì?/ Chớ xét chữ, lời, câu một cách lạ kỳ,/ Cốt nghịch mắt, trái tai, không cần giai điệu. Nghĩa là: Lấy hình thức kỳ khôi lừa bạn đọc. Xu hướng ấy, trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng nên xem là lệch lạc, vào lúc đó cũng như bây giờ. Tuy nhiên, theo tôi, ý nghĩa của câu thơ sau có lẽ không còn mấy thích hợp nữa: Ta viết chỉ ta hay/ Không đếm xỉa đến công nông quần chúng. Cũng vậy, câu nói của P. Neruda được Nguyễn Huy Thông nhắc tới trong một bài khác: “Thơ cũng như bánh mỳ phải được chia đều cho tất cả mọi người” (tr.108). Tinh thần ấy còn thấy phảng phát đây đó trong nhiều lời bình của tác giả, như: “Thơ Tố Uyên tràn đầy cảm xúc chân thành, dung dị và dễ hiểu – PQT lưu ý” (tr.117). Thật may, đó chỉ là một vài tiểu tiết hiếm hoi. Nhìn chung, những ý tưởng anh dẫn ra để phân tích, biện giải là cần thiết. Chẳng hạn câu nói khiêm nhường mà thấu lý của Trường Chinh với nhà văn Chu Văn: “Chịu trách nhiệm trước nhân dân, lịch sử và hậu thế là tác giả, còn ý kiến của tôi chẳng qua là cá nhân. Đồng chí đồng ý cái nào cần sửa thì sửa, không thì cũng không có vấn đề gì”. Rồi thái độ thận trọng ẩn chứa những hiểu biết thâm sâu và lối ứng xử lịch duyệt của Trường Chinh khi dịch câu thơ cảm khái trước khí phách của người anh hùng làng Gióng của Cao Bá Quát: Phá tặc đãn hiềm tam tuế vãn/ Đằng không do hận cửu thiên đê là: Phá giặc, chỉ e ba tuổi muộn/ Lên trời, chi sa chín tầng cao. Ông chân thành nhận ra:  “Câu kết có hàm ý nói lên cái mong mỏi sâu xa của Cao Bá Quát muốn đất nước sau cơn phong ba sẽ có sự biến đổi một cách triệt để tận gốc. Tôi thấy mình dịch chưa thật đạt được cái ý ấy” (tr.64). Lời Trường Chinh khen bài Tràng giang của Huy Cận lại giúp nhiều người có dịp hiểu thêm một phương diện khác rất đáng quý, rất đáng trọng của nhà cách mạng: “Sao mà bài thơ của anh hay thế, sao mà tiếng Việt đẹp thế, sao mà quê hương ta đáng yêu thế…”. Cách nhìn nhận ở đây là toàn diện mà chân xác. Những câu thơ Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song… được tác giả dẫn ra sau đó hoàn toàn thuyết phục chúng ta (tr.70).

Ngay những lời phê bình thơ Sóng Hồng của Nguyễn Huy Thông cũng dễ tìm được sự đồng điệu của nhiều người. Ví như, người đọc tin rằng câu thơ của Sóng Hồng viết trước Cách mạng tháng Tám Huýt sáo trên đường đời vui tuổi hai mươi là hay vì chính cái lẽ mà nhà phê bình đã chỉ ra: “Nó nói lên sự hồn nhiên, say mê hoạt động của một chàng trai tuổi còn rất trẻ mà dồi dào nhựa sống và nhiết huyết cách mạng” (tr.66). Và điều này dẫn người đọc tới chỗ sở đắc nhất của tập sách: sự cảm nhận văn chương – đúng như tựa đề của cuốn sách.

            Tự nhiên tôi nhớ tới câu nói của Octavio Paz: Việc biết là cái gì đó khác rất xa với việc cảm nhận ra nó. Đến mức, lúc đầu tôi có ý định dùng chính câu nói của nhà văn nổi tiếng Mexico làm Đề từ cho bài viết này nữa kia! Không phải vì đó là lời của chủ nhân Giải Nobel Văn chương năm 1990. Quan trọng là câu nói rất chân xác. Đặc biệt là đối với văn chương, nghệ thuật. Nhà nghiên cứu Mỹ L. Waters từng giải thích sự Khủng khoảng lý luận văn học trong nhà trường Mỹ như sau: “Nghiên cứu văn học hàn lâm bây giờ đã bị bật gốc, nó không còn gắn với mảnh đất văn học, là nơi từ đó nó sinh ra… Những gì diễn ra trong bốn bức tường của các khoa văn học dưới cái nhãn hiệu nghiên cứu văn học, thảy đều là kinh viện… Nghiên cứu văn học hôm nay không muốn hiểu bản chất và tính chất của tác động thẩm mỹ, nó không quan tâm cái cách con người phản ứng với nghệ thuật…”. Nguyên do chính yếu là ở chỗ: nó  “bỏ qua sự phản ứng của chúng ta đối với các hiện tượng thẩm mỹ, thực tế đã từ chối nhiệm vụ chủ yếu của mình là tác động vào tâm hồn”. Muốn thoát khỏi khủng khoảng, yêu cầu mà tác giả đưa ra “rất đơn giản” và đồng thời cũng “rất cơ bản” là hãy trở về với khẩu hiệu: Hưởng thụ nghệ thuật. Như vào những năm 1960, ở Mỹ, S. Sontag cho đăng bài báo Phản đối cắt nghĩa. Bà từng đưa khẩu hiệu lên tường của một trường đại học là: "Chúng tôi không cần thông diễn học, chúng tôi cần sắc dục học" (Văn nghệ, số 1&2/2008).

Nhà văn Argentina L. Borges trong Bài giảng về thơ cũng đưa ra yêu cầu cảm thụ thi ca theo chiều hướng tương tự. Ông giải thích: “Đây là cách tôi đã giảng dạy, nghĩa là tôi dựa trên sự kiện mỹ học, mà sự kiện ấy không cần phải được định nghĩa. Sự kiện mỹ học là cái gì đó cũng hiển nhiên, cũng tức thời, cũng bất khả định nghĩa như tình yêu, như vị trái cây, như nước. Chúng ta cảm nhận thơ như cảm nhận sự gần gũi của một người đàn bà, hay như chúng ta cảm nhận một hòn núi, một thủy vịnh. Nếu chúng ta cảm nhận nó tức thời, thì tại sao lại pha loãng nó vào những thứ chữ nghĩa khác, những thứ chữ nghĩa hiển nhiên còn yếu hơn cả những cảm nhận của chúng ta?”. Rồi ông kết luận: “Có những người chẳng cảm nhận thơ – PQT nhấn mạnh, chút nào, mà họ lại dấn thân vào việc giảng dạy thơ. Tôi tin vào cảm nhận thơ chứ không tin vào giảng dạy thơ. Tôi đã không dạy cho sinh viên yêu những văn bản nào đó; tôi dạy cho sinh viên làm cách nào để yêu văn chương, cách nào để thấy văn chương là một hình thái của niềm lạc thú” (tienve.org). Ta hiểu tại sao L. Borges lại say sưa nhắc tới thói quen của Montaigne: “Nếu thấy trong sách có chỗ khó thì ông ta bỏ qua, bởi vì ông coi việc đọc là một thứ hạnh phúc”. Đó là hạnh phúc được đồng sáng tạo với người viết. Và đồng thời đó là bí quyết thành công của chính L. Borges với tư cách là một nhà văn. Theo nhà nghiên cứu văn chương P. Vail thì đọc L. Borges, “độc giả bị hút vào đó như là một yếu tố của nó”, tựa như “ông mời chúng ta vào hội với ông”. Hơn thế, cũng theo ý kiến của P. Vail, L. Borges là “người có cống hiến lớn lao – lớn hơn so với bất kỳ nhà văn nổi tiếng nào – cho ngành nghiên cứu văn học”, ở chỗ  “thậm chí đến dạng thức và thể loại văn chương Borges cũng định nghĩa theo cảm thụ của người đọc” (Văn học Nước ngoài, số 1/1999, tr.107 & tr.108).

Theo con đường đó, nhà phê bình Nguyễn Huy Thông đã cảm nhận ngay được vẻ đẹp ánh lên từ  những vần thơ dung dị của Tố Uyên, và người đọc lập tức dễ đồng tình cùng anh:  “Đáng yêu sao nhiều câu thơ giàu cảm xúc và tâm trạng của Tố Uyên khi chị diễn đạt những nỗi buồn, những xót xa, da diết, đau đáu, trăn trở trong tính yêu: Cái nhớ trôi đi, tình yêu cũng trôi đi/ Như thác lũ, như nước nguồn chảy xiết/ Làm sao trở lại bến bờ” (tr.118). Thật phù hợp với lời tâm tình của Lưu Trùng Dương – một trong những người thơ anh dành nhiều thiện cảm hơn cả: “Theo tôi, một bài thơ hay phải là một bài thơ được nhiều người cảm nhận – PQT lưu ý, yêu thích, chứ không thể chỉ có một kẻ tung một vài người hứng”. Nhưng có lẽ không ở đâu, sự cảm nhận văn chương lại đủ đầy và tràn đầy như khi anh viết về thơ của lứa bạn bè một thuở. Đó là những Phan Cung Việt, Nguyễn Ngọc Chung, Nguyễn Liên. Tác giả bộc bạch: “Bốn chúng tôi đều học cùng một lớp của Khoa Ngữ văn Trường Đại học tổng hợp khóa 1963-1967 và rất đam mê sáng tác, nghiên cứu. Ba anh đều là những nhà thơ thành danh, còn tôi nghiêng về mảng lý luận, phê bình, mặc dù có những lúc cao hứng cũng cầm bút là thơ” (tr.98). Rất đúng với ý tình một đôi lần xuất hiện trong thơ Nguyễn Ngọc Chung: Thời gian trôi, tuổi thêm nhiều/ Chỉ riêng tình bạn có chiều trẻ ra… Và quá khứ với tình người tình thơ dạt dào chợt thức dậy, nôn nao đến bổi hổi bồi hồi: Lớp tre nứa dựng chân đồi/ Cơm măng, mỳ độn, tối nồi sắn nương/ Sách đèn mơ chuyên văn chương/ Ngủ ôm nhau ấm tình thương bạn bè.

Không phải vô cớ mà trong các tập sách của Nguyễn Huy Thông ta bắt gặp hàng loạt bài viết như thế. Về thơ Phan Cung Việt có: Ngày xuân đọc “Mưa xuân” của Phan Cung Việt; Những đóng góp mới của Phan Cung Việt trong tập thơ “Trăng khuya” (Tập đầu); “Lượng thứ mùa đông” – tập thơ nồng ấm tính người của Phan Cung Việt (Tập thứ hai); Và ở tập Cảm nhận văn chương này là bài Những tìm tòi mới của Phan Cung Việt trong thơ và trường ca. Về Nguyễn Ngọc Chung thì có: “Tiếng gọi đò” – một bước tiến trong lao động thơ của  Nguyễn Ngọc Chung (Tập thứ hai); Hồn quê trong thơ lục bát của  Nguyễn Ngọc Chung (tập này). Về Nguyễn Liên lại có: Thơ Nguyễn Liên – một cách nhìn dung dị và nhân hậu về con người và cuộc đời (Tập đầu). Và tập lần này là bài: Cái nhìn đôn hậu, đằm thắm tình người của Nguyễn Liên trong “sau cơn bão”. Dẫu điểm xuất phát có thể là riêng tây, nhưng cái nhìn của anh cơ bản là khách quan. Có lẽ là do anh biết tạo ra một khoảng cách nhất định – khoảng cách không thể thiếu khi hành nghề phê bình. Như những đánh giá sau: “Nguyễn Liên đã thể hiện một cái nhìn trầm tĩnh, đôn hậu đối với tình yêu và cuộc đời bao la”. Rồi nữa: “Anh phát hiện được những chồi lộc non còn rớt lại, báo hiệu sức sống mới trong tương lai”. Bạn đọc có thể xác nhận điều đó bằng nhiều vần thơ nặng trĩu tâm tình của Nguyễn Liên, như: Đằng sau cơn bão là em/ Anh con thuyền nhỏ có thêm cánh buồm/ Con đê vỡ, núi đồi tan/ Đằng sau cơn bão còn nguyên tiếng cười. Vậy nên, nhận xét của Nguyễn Ngọc Chung với bạn bè mà tác giả nhắc tới, theo ý tôi, chưa hẳn đã hoàn toàn thuyết phục: “Thơ nó (Nguyễn Liên) có nét tự nhiên, tự hồn và giản dị, vốn là đặc trưng của thơ” (tr.98). Nhất là ở cái ý sau cùng: “… vốn là đặc trưng của thơ”. Có thể nhiều người sẽ nghĩ khác!

Tôi lưu tâm nhiều tới những đánh giá của Nguyễn Huy Thông về thơ Phan Cung Việt ở “ý thức nới rộng chiều kích tế bào thơ…", ở sự "dè dặt, thận trọng trong việc tìm tòi, đổi mới nội dung, thể loại, nhịp điệu, cấu tứ thơ…”. Nhà phê bình tán thành với nhà thơ, và đến lượt mình, người đọc cũng chia sẻ với nhà phê bình ở những gì tâm đắc nhất: “Đọc mãi, chiêm nghiệm mãi rồi sẽ tìm ra câu trả lời” (tr.73).  Nhất quán trong cả tập là định hướng chung ấy: “Tôi cảm thấy Phan Cung Việt…” ; “Tôi nhận thấy anh tỏ ra…”(tr.73). Tôi, với tư cách là người thưởng ngoạn, có được bữa tiệc thi ca tương đối thỏa nguyện, bay biến mất nỗi hoài nghi về hiện trạng thơ đương đại nước ta "xuống dốc", "lạm pháp" hay "bế tắc"… từng nghe thấy ở nhiều diễn đàn bấy lâu. Như câu thơ: Quê tôi bận bịu suốt ngày/ Sáng ra gió đã về ngay trong làng. Rồi: Lá dâu chịu gió bốn bên/ Vì đâu khắp lá lại viền răng cưa. Hay: Hỏi thăm làng dệt trong ngoài/ Ai còn thương nhớ thì dài sợi tơ. Thực và hư, cảnh và tình, xưa và nay… cứ hòa quyện vào nhau trong những vần thơ gợi rất nhiều tình thương nỗi nhớ xa gần… trong lòng mỗi người. Viết về nhà cách mạng Trần Phú, thơ Phan Cung Việt tỏ ra sâu sắc, thiêng liêng mà cứ thấy gần gũi, khơi gợi, quấn quyện đến mức khó quên: Quê anh đó làm người là phải học/ Đã kén tằm là phải vàng ươm. Ta không thấy nhà thơ lên giọng giảng giải. Những vần thơ cứ như tự nhiên cất lên từ con người và cuộc đời gắn liền với vùng đất ấy. Và, sự lý giải của nhà phê bình ập đến thật đúng lúc và đúng chỗ: “Phan Cung Việt sinh ra và lớn lên trên quê hương Trần Phú nên anh được thừa hưởng cả một bề dầy truyền thống tốt đẹp của mảnh đất này” (tr.79).

Ở trường hợp Lưu Trùng Dương, sự gắn bó giữa nhà phê bình và đối tượng phê bình lại mang sắc thái xã hội có phần rộng dài hơn. Trong bài viết tập trung khá nhiều trí tuệ và tâm huyết Lưu Trùng Dương – một đời thơ ngợi ca đất nước và người lính, ta nhận ra nhiều bài học quý giá về nghề và về đời. Như nhận xét sau của Tế Hanh qua bộ lọc của Nguyễn Huy Thông : “Lưu Trùng Dương làm thơ vì cách mạng, mà nhờ có cách mạng anh mới thành nhà thơ” (tr.40). Tự nhiên tôi liên tưởng tới chính văn nghiệp của anh. Cũng có thể nói, không có cách mạng thì sẽ không thể có Nguyễn Huy Thông - nhà phê bình văn chương. Có lẽ vì thế mà anh đã dành cho nhà thơ của miền đất Đà Nẵng biết bao lòng cảm thông, chia sẻ: “Nhà thơ không ca ngợi một chiều mà anh có ý thức phân tích kỹ những đổi thay sâu sắc trong tâm hồn, tính cách của con người quê hương trong quá trình đi lên xã hội chủ nghĩa” (tr.44). Anh chọn được những câu thơ hay vốn là bí quyết trước tiên của thứ phê bình tinh tế: Bay qua sông Đà, sông Mã/ Lòng tôi cuồn cuộn phù sa. Hay: Buồm Tổ quốc có hồn ta làm gió. Có điều, không phải sự chọn lựa của nhà phê bình lúc nào cũng xác đáng cả. Chẳng hạn, chất thơ của câu sau hình như có phần thiếu hụt: Sự nghiệp anh hùng ta vinh dự góp bàn tay/ Một ngày qua ta làm đẹp ngày mai. Bởi lẽ, triết lý trong thơ Lưu Trùng Dương ở đây xem ra chưa gây được nhiều hiệu quả như nhà thơ và nhà phê bình mong muốn. Có thể thấy ở nhiều câu thơ khác nữa, như: Được ngắm hoa: đã có phần hạnh phúc/ Được trồng hoa: hạnh phúc lớn hơn. Một vài nhận định của nhà phê bình do vậy chưa tạo được sự đồng tình, đồng điệu rộng rãi. Chẳng hạn ý kiến sau về thơ tình của Lưu Trùng Dương: “Đây là những bài thơ có sắc thái riêng…, cái riêng và cái chung hòa quyện vào nhau”. Và câu thơ được chính Nguyễn Huy Thông dẫn ra như là một bằng chứng: Có phải vì chúng mình yêu nhau/ nên Đà nẵng có nhiều hoa hơn trước (tr.48). Đúng ra, Lưu Trùng Dương từ lâu nổi tiếng nhờ mảng thơ trữ tình công dân khi viết về người chiến sỹ cách mạng. Đóng góp chủ yếu của ông cho nền thơ cách mạng cũng là ở đó.

Ngoài ra, cố nhiên nhà phê bình còn hướng tới sáng tác của nhiều nhà thơ khác nữa. Như thơ Hoàng Phong. Trong trường hợp này, qua trang viết của Nguyễn Huy Thông, tôi thấy nhận xét của Ngô Văn Phú về thơ Hoàng Phong rằng, đó chỉ là “tiếng nói chân thành của một người yêu văn chương” (tr.87), là có chiều quá thận trọng và khe khắt. Những vần thơ tình sau của Hoàng Phong, theo ý tôi,  phải nói là rất “chuyên nghiệp”: Em san cho anh một nửa/ Ta thành hai nửa đầy vơi/ Em ơi đắng cay từng giọt/ Cho nhau trọn một vơi đầy. Nên nhớ, người đời hầu như ai cũng từng là tình nhân tuyệt vời cả! Còn trước nay, thơ tình, tình yêu đôi lứa ấy, thì nhiều, nhiều lắm, không kể xiết. Vậy mà những vần thơ như thế của Hoàng Phong như lập tức nhập thẳng vào hồn người khác, thành tiếng nói quyến rũ của lòng ta tự lúc nào. Như không thể khác. Như không cách nào làm chủ nổi. Xin nêu một dẫn dụ khác: Em dịu dàng hồn hậu giữa đời anh của Hoàng Phong. Tôi được nghe vang lên nhiều lần đây đó, giữa lòng người và ngay chính lòng tôi. Không ít lần đâu! Phải nói, vị Giám đốc Nhà xuất bản Thanh niên một thời không chỉ có một đôi vần thơ hay như thế, để ta không được phép cho mình cái quyền đứng từ xa, đứng từ trên mà phán xét tùy tiện, bất công. Xin nêu thêm một minh chứng khác, đoạn thơ trong bài Hai dòng sông phải nói là rất đặc sắc, không dễ viết này: Em mượt mà dòng Đuống biếc bãi dâu/ Anh ào ạt cuộn dòng sông Mã/ Em kín đáo và em lặng lẽ/ Cho dòng anh ghềnh thác bạc đầu. Tôi nghĩ, không quá lời đâu, những vần thơ tình này dám đường hoàng thách thức nhiều cây bút thơ chuyên nghiệp hàng đầu! Chỉ tiếc là nhà phê bình của chúng ta ở đây xem ra còn quá dè dặt, ngòi bút chưa thật tung tẩy hết mình như cần phải có!

Thơ Xuân Quỳnh trong tập sách dầu chỉ được đọc lại, ở một trường hợp Tự hát nhưng đã gợi nhiều điều thích thú và bổ ích. Cái chính là người viết nhận ra bản sắc đích thực của thơ Xuân Quỳnh. Hãy nghe nhà phê bình cảm nhận rõ ràng là hay, thật mà đúng: “Thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng là tiếng nói giàu cảm xúc, chân thực, đằm thắm, mãnh liệt và dạt dào vô cùng trong yêu thương và đớn đau” (tr.92). Và đây nữa: “Thơ chị giản dị, chân thành mà sắc sảo thông minh” (tr.93). Nhà phê bình không chỉ tiếp cận với đối tượng cảm nhận như một sinh thể tĩnh tại mà còn ở dạng thức diễn biến, có chuyển động, thậm chí có đổi thay trong hồn và nhất là trong thơ: “Kể từ tập Gió Lào cát trắng – 1974, trở đi, thơ tình yêu của Xuân Quỳnh có thêm nhiều xao động, trắc trở, lận đận, khắc khoải, nung đốt lòng người” (tr.94). Rất kịp thời, nhà phê bình chọn lựa rồi trình ra những câu thơ có thể xem là đắc địa hơn cả:

            Em trở về đúng nghĩa trái tim em

            Là máu thịt, đời thường ai chả có

            Vẫn ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa

            Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi

Tự nhiên tôi muốn nói to lên cái điều có lẽ chẳng còn gì mới lạ này: phải chăng lẽ tồn tại của nghề  phê bình chính là ở sự kết tinh, rồi nâng cao sự thưởng thức của người đọc. Không phải là ngẫu nhiên đâu khi người ta thường định danh các nhà phê bình là siêu độc giả.

Điều cần nói thêm là khi dụng bút, Nguyễn Huy Thông còn mạnh dạn chỉ ra những hạn chế của đối tượng phê bình, mặc dầu đôi khi cũng gây ra cảm giác qua quýt, buộc phải làm cho phải phép. Thái độ tích cực này đã thấy ở những trang phê bình đầu tiên của anh. Như bài phê bình anh viết vào tháng 8 năm 1973 về tập thơ Chiến trường gần đến chiến trường xa của Huy Cận. Anh thẳng thắn phê, và còn tỏ ra biết phê: “Có khi anh xuất phát từ những khái niệm, những nguyên lý có sẵn rồi dùng bàn tay nghệ thuật để tạo nên bài thơ. Vì vậy sức thuyết phục của các bài thơ bị giảm, âm hưởng đều đều, tứ thơ bị dàn trải, kém sinh động (Lá thư gửi anh, Tình yêu trong đất nước chở che…)” - Mạch đời… mạch văn, tr.18. Anh chỉ ra những khiếm khuyết của tác giả những vần thơ Yêu/ Có nghĩa là/ Mong cho người hạnh phúc  Nhưng anh biết chính là có nó/ Chính là có nó ở em, anh là ở chỗ “sự dễ dãi của câu thơ, hình ảnh thơ” (tr.107). Ngay cả thơ của bạn mình - Nguyễn Ngọc Chung, Nguyễn Huy Thông cũng ý thức được chức phận soi sáng của phê bình: “Ý thơ và câu chữ trong một số ít bài còn mòn cũ và lặp lại” (tr.114).  Quả đúng như tâm sự của nhà thơ Phạm Đức mà Nguyễn Huy Thông có lần nhắc tới: “Trăm tập thơ in ra may mắn mới có vài ba tập khá, bởi trong tập khá có một vài bài có thể đọng lại một ý hoặc một câu nào đó trong yêu mến của người đọc”  (tr.108). Mọi thiếu sót trong thơ vậy là khó tránh, và vì thế, việc chỉ ra những thiếu sót ấy trong phê bình cũng là hợp lẽ!

Cuối cùng, cần chỉ ra phong cách phê bình dần dà định hình trong trường hợp Nguyễn Huy Thông là gì? Nhà thơ Phan Cung Việt đã gắng chỉ ra trong bài viết Bản lĩnh phê bình văn học. Tôi không có ý tranh luận với anh Việt, nhưng có lẽ tôi nghiêng về nhân xét của nhà phê bình Mai Hương hơn, mặc dầu trong trường hợp này chị bàn về tập ký Sáng thu này ở đất Mũi của Nguyễn Huy Thông. Bài viết có tựa đề Bút ký có nguồn mạch từ cuộc sống. Vâng, tôi muốn nhấn mạnh tới nguồn mạch cuộc sống, nguồn mạch văn chương tuôn chảy trong văn phê bình của anh. Đúng như ý tưởng chủ đạo xuyên suốt trong tập phê bình đầu tiên đã được Nguyễn Huy Thông  xác định dứt khoát: “Mạch đời tự nhiên… góp phần làm mạch văn của các tác giả thêm dào dạt tuôn chảy”.

Tập sách tất nhiên còn bộc lộ những hạn chế có thể nói là khó tránh khỏi. Ngay trong tập đầu tiên, tôi đã nhận ra những từ dùng còn chưa thật chuẩn xác. Chẳng hạn: “Người vợ trẻ trong đêm khuya đã hy sinh - PQT nhấn mạnh, giấc ngủ bên đứa con thơ hăm hở cùng mọi nười san lấp hố bom để kịp cho xe lao nhanh ra chiến trường” (tr.13). Ở tập phê bình này, sự thiếu chính xác lại ở những tiểu tiết, đôi khi không quan thiết lắm, nhưng cũng dễ gây nên nghi ngại, thậm chí nghi ngờ không đáng có ở những người đọc tinh tường. Ví như: việc tác giả gọi Nguyễn Đăng Mạnh là giáo sư, tiến sỹ (tr.61). Không phải cứ giáo sư là lập tức đi kèm với tiến sỹ đâu! Một đằng là chức danh khoa học, dùng để nhận biết những cống hiến của một nhà khoa học trong một lĩnh vực cụ thể; một đằng là học vị, do học hành, thi cử mà có. Nguyễn Đăng Mạnh chưa bao giờ đeo đuổi học vị tiến sỹ cả! Hay như, tác giả cũng cần hết sức tránh những nhận xét chung chung, đặt vào đâu xem ra cũng đúng và hợp cả, như đoạn viết về thơ Nguyễn Ngọc Chung sau: “Nhà thơ đã có sự dụng công, trau chuốt, tìm tòi, sáng tạo về cấu tứ, nội dung, cảm xúc và từ ngữ, nhịp điệu, niêm luật để viết nên những câu thơ giàu hình ảnh, rung động lòng người, không rơi vào sự tẻ nhật, dễ dãi, vần vè đơn điệu như “Trái tim thức, ngủ chòng trành vì yêu”, “Dẫu là ở cuối con sông/ Yêu nhau câu hát ngược dòng tìm nhau”, “Tiếng cười con gái ủ đông than tình”… (tr.114).

Do vậy, bạn đọc có thêm cơ sở chờ mong Nguyễn Huy Thông sẽ luôn mài sắc cái nhìn, tư duy và ngòi bút phê bình, để khi có dịp nhìn lại cuộc đời cầm bút của mình, anh có thể phần nào thỏa nguyện như khát vọng nghề nghiệp của văn hào Pháp Balzac mà nhà văn xô viết Pauxtovxki và chính anh từng rất tâm đắc: “Lúc nào cũng hướng tới tuyệt mỹ” (Nhà văn Việt Nam hiện đại, in lần thứ 4, tr.635).

 

                                                                                                                                Đà lạt, 17/9/2010