Đọc Một ngày là mười năm của Phạm Quang Đẩu

            Gần đây, thường nghe vang lên đây đó những lời phàn nàn, thậm chí bất bình lắm khi khá là gay gắt, về chất lượng các giải thưởng văn chương ở ta, không loại trừ cả những giải thưởng với tính chất và quy mô khác nhau của Hội Nhà văn – một hội chuyên ngành vốn giành được sự tín nhiệm xã hội khá cao nơi người đọc. Bởi vậy, mong muốn biến giải thưởng của một hội nghề nghiệp danh giá thành giải thưởng của công chúng rộng rãi vẫn còn nằm xa ở phía trước, buộc nhiều người có trách nhiệm liên đới phải suy nghĩ thật sự nghiêm túc. Riêng với Giải thưởng Văn học sông Mê Kông năm 2010 và trong trường hợp tiểu thuyết Một ngày là mười năm của nhà văn Phạm Quang Đẩu, tôi – và chắc không chỉ riêng tôi, lại cảm thấy nhiều phần an lòng. Như tên gọi của nó, ngoài ý nghĩa văn chương, Giải thưởng hẳn nhiên còn mang ý nghĩa chính trị - xã hội nhất định. Cuốn sách thực sự là lời ngợi ca nồng nhiệt, sâu xa và chật thật tình hữu nghị đặc biệt từng trải qua và vượt qua bao gian nan, thử thách giữa hai dân tộc láng giềng luôn thủy chung, gắn bó như anh em ruột thịt Việt – Lào. Lại được biểu hiện bằng văn chương, nghĩa là bằng một hình thái thấm thía, xúc động, dễ đi vào lòng người.

Tôi nhớ tới sự cảm nhận của nhân vật chính Nhị Nguyễn trong chuyến công tác đặc biệt vượt Trường Sơn xuyên bán đảo Đông Dương mất gần nửa năm sang Thái vào năm 1951 – 1952. Đoàn gồm ba người phải ngủ đêm ở vùng đất rừng rậm rạp, hoang sơ thuộc Nam Lào: “Giữa lòng đêm tịch mịch, mới có dịp nghe mọi cung bậc của bản nhạc bất tận, man dại nơi hoang sơ chưa dấu chân người. Bóng tối vừa ập xuống, là con chim bắt cô trói cột liền mở màn lặp đi lặp lại tiếng gọi thê thiết, buồn thảm…”. Càng về khuya, cảnh trí xung quanh càng thêm cô quạnh, rùng rợn, vì “điểm xuyết thêm nhiều tiếng thú hoang gọi bạn tình hay rủ nhau đi kiếm mồi, nơi cổ họng chúng đều phát ra thứ âm thanh cộc cằn: cú hú, sói tru, nai tác, bò rống, báo gừ, khỉ choé... Tất cả các giọng điệu đó đều diễn ra trên nền râm ran, rỉ ri không khi nào dứt của triệu triệu côn trùng dấu mặt. Bản hoà tấu hỗn tạp chỉ làm tăng thêm sự cô đơn, cùng nỗi bất lực, hãi hùng của con người khi phút chốc lạc vào không gian hồng hoang tiền sử”. May sao còn có sự ấm áp tỏa ra từ ngọn lửa bùng cháy giữa đêm khuya: “Ngọn lửa phần phật toả sáng, toả nóng, phát ra âm thanh tí tách vui vui, đủ làm tan đi một phần khối đen đặc quánh cùng cái giá buốt của sương núi bịt bùng vây bủa, cũng đủ làm mãnh thú cùng rắn rết hoảng hồn mà lánh xa…”. Với người đọc, ngọn lửa ấy còn là biểu trưng của tình người, tình đồng đội, nhất là tình anh em sớm nảy sinh và không ngừng tỏa sáng giữa hai dân tộc mà số phận lịch sử đã ràng buộc chặt chẽ vào nhau, từng cùng nhau chia sẻ bao niềm vui, nỗi buồn lớn lao trên mọi chặng đường đi tới đầy gian khó mà vô cùng vinh quang của mỗi dân tộc.

            Câu chuyện chủ yếu diễn ra ở cao nguyên Bô Lô Vên Nam Lào. Cùng với Tây Nguyên của Việt Nam, nơi đây được gọi là mái nhà của Đông Dương, một bên mái dốc thấp nhất chừng ba trăm mét, cao nhất tới ngàn mét, còn dài rộng mỗi bề cả trăm cây số. Hầu như suốt những năm chống thực dân Pháp rồi đánh đế quốc Mỹ, trên mảnh đất này luôn diễn ra nhiều cuộc đấu trí, đấu lực căng thẳng, khốc liệt giữa ta và địch để giành dân, giành đất. Nhiều hình ảnh ngời chói, Lào có, Việt có, hiển hiện lên qua ngòi bút phải nói là mê đắm của tác giả. Có hình ảnh chỉ thoáng qua nhưng gây ấn tượng khá sâu đậm, như cậu bé Bun Mạc – con trai của một liệt sĩ Ít Xa La. Em mới mười hai tuổi, cha mất từ lúc lên năm. Dũng cảm mà thông minh, lanh lẹn là phẩm chất dễ nhận ra nơi em. Trong lần phục kích giết một tên ngụy hung ác và gian giảo, Bun Mạc đã kịp thời báo cho cơ sở một chi tiết quan trọng “sếp Xu mới sửa nhà xong, có bốn cái cột trụ được quét vôi trắng tinh phía đằng trước”, từ đó giúp các chiến sỹ trong đêm dễ nhận biết mục tiêu. Trước đó, sếp Xu thấy em đang chơi quanh quẩn gần đấy, nghi vấn quắc mắt hỏi: “Nhóc, có biết Ít Xa La bạn với bố mày ở đâu không?”. Em lắc đầu bảo không biết. Tên sếp liền rút súng ngắn ra doạ: “Không nói tao bắn bể sọ thằng Ít Xa La con”. Bun Mạc liền cứng cỏi trả lời: “Ông có súng thì cứ bắn, chứ tôi trẻ con biết gì mà nói. Ít Xa La là người lớn, đi đâu họ cũng bảo cho trẻ con biết được à!”. Tên đồn trưởng đớ miệng, hậm hực đút súng vào bao bỏ đi. Những chi tiết được chọn lựa kỹ càng nên bật nổi, như chạm khắc vào tâm trí người đọc.

Một hình tượng khác, ám ảnh không kém, mặc dầu xem ra tác giả cũng không thật nhiều dụng công. Chỉ là những lời kể tuần tự, bình dị, nhưng phải nói là sống động, có hồn. Đó là viên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 55 thời chống Mỹ. Ông có tác phong  giản dị, lối ứng xử xởi lởi, cử chỉ có phần bỗ bã kiểu nông dân. Còn nhớ cái ngày Nhị Nguyễn vừa đặt ba lô xuống trạm khách, nơi đầu tiên phải trình diện sau khi về nước, thì đã gặp ngay “một người gày mảnh, đi xiêu xiêu từ đâu đến, giơ tay bắt trước, cười xuế xoá và nói khơi khơi”. Là một trí thức mặc áo lính, Nhị Nguyễn hoàn toàn bất ngờ trước lối làm quen kiểu này của ông: “Một nông dân mặc áo lính, nói năng cục mịch, đường đột”. Về sau có điều kiện tìm hiểu thêm, mới hay viên Trung đoàn trưởng từng trốn nhà đi bộ đội từ năm mười sáu tuổi, khi đó còn mù chữ, thế mà đến chiến dịch Điện Biên Phủ đã là đại đội trưởng, học hết cấp hai, vài năm sau hết cấp ba bổ túc. Hoàn toàn là tự học, tự lăn lộn và trưởng thành. Nên thành tích chiến trận của ông thì ít ai bì kịp. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, người nông dân mặc áo lính ấy nổi lên như một anh hùng, hai lần bị thương vẫn không rời trận địa. Đại đội cửa mở của ông đã chiến đấu xuất sắc trong trận mở màn đánh vào đồi A1.

 Đặc tính nổi bật ở ông là không hề dấu dốt, lúc nào cũng ham học hỏi. Bởi vậy, ông rất tôn trọng những người hiểu biết hơn mình. Bất cứ về phương diện nào. Một lần sau cuộc họp với tiểu đoàn, Trung đoàn trưởng ghé tai Nhị Nguyễn nói: “Anh là người nhiều chữ nhất trung đoàn ta đấy, tôi muốn anh dạy cho ít tiếng Pháp, mà chịu chưa biết bố trí vào lúc nào”. Tưởng chỉ nói khơi khơi, không ngờ ông làm thật, lại rất nghiêm túc. Thế là từ đó, hàng tuần, cứ đúng tám giờ tối, Nhị Nguyễn lại lên lán Trung đoàn trưởng. Hình ảnh giữa ánh sáng tù mù của ngọn đèn bão, “thầy trò đánh vật với chữ Tây”, “từ mới đều viết không lỗi chính tả, chỉ phát âm thì giật cục như gà nghẹn” gợi lên trong lòng người đọc sự quý mến và trân trọng thật tình. Do đó, không lấy làm lạ nếu chỉ sau một thời gian ngắn, trong sâu thẳm của lòng mình, Nhị Nguyễn từ lúc nào đã chuyển từ ác cảm sang cảm mến, gần gũi. Nhị Nguyễn nghĩ: “Anh ấy không để bụng, không nghĩ xấu về ai, thẳng ruột ngựa, chân thành vậy, sao mà giận lâu được”.  Thế nhưng sau đó, thật không may, ông đã hy sinh bất ngờ tại mặt trận. Những người lính Trung đoàn 55, Sư đoàn Trường Kỳ không ai có thể quên cái ngày tang tóc năm ấy, cả mặt trận sững sờ vì đau xót và tiếc thương. Một sự mất mát quá lớn, khó tin nổi!

Dầu khắc họa khá nhiều nhân vật, nhưng có thể nói, hầu như toàn bộ cuốn tiểu thuyết đều hướng về nhân vật trung tâm - Nhị Nguyễn. Như nhiều người từng biết, từ sau Toàn thắng năm 1975, các nhà lý luận, phê bình văn chương thường hay bàn tới sự đổi mới của văn xuôi viết về chiến tranh và lực lượng vũ trang cách mạng. Trong điều kiện mới, dưới ánh sáng của tư duy nghệ thuật mới, nhiều nhà văn đã tự lột xác, tiếp cận gần hơn, thành công hơn theo yêu cầu căn bản đã khác trước. Tiểu thuyết Một ngày là mười năm nằm trong xu hướng tìm tòi chung này. Ngòi bút Phạm Quang Đẩu không ngại đụng chạm khi dám phanh phui những vấn đề nhạy cảm một thời, đặc biệt là khi đụng phải câu hỏi: người lính cách mạng trong cuộc chiến dai dẳng một mất một còn kia, có lúc nào chao đảo, thậm chí lầm lạc không? Câu trả lời thỏa đáng, nghĩa là thuyết phục trong sự chân thực đến cùng, sẽ mang ý nghĩa nhân văn phổ biến và sâu sắc. Bởi, người lính cũng là con người thôi mà! Đã là con người thì đâu chỉ thuần một mặt tốt đẹp. Nhân vô thập toàn! Vấn đề là cách thế tồn tại của con người trong thử thách nhằm khẳng định phẩm giá của chính mình ra sao?

Nhị Nguyễn tham gia cuộc chiến với tư cách là một cán bộ vũ trang – tuyên truyền. Để hoàn thành nhiệm vụ quan trọng ấy giữa đất bạn thật không mấy dễ dàng. Rất nhiều thử thách cam go đến từ mọi phía. Nhiều khi từ chính nội bộ mình. Không hẳn ở ý chí, lòng trung thành và sự quyết tâm mà chủ yếu là do cách giải quyết từ những cách nhìn, cách đánh giá khác nhau tạo ra. Không lạ nếu làm điểm tựa vững vàng cho Nhị Nguyễn hầu như trong mọi trường hợp lại là trí tuệ và tầm nhìn của Thứ trưởng Bộ Quốc phòng vốn là Huynh trưởng hướng đạo sinh nổi tiếng trước cách mạng Tạ Quang Bửu. Hình ảnh ông luôn hiện lên lồng lộng trong cuốn tiểu thuyết và trong tâm trí thẳm sâu của Nhị Nguyễn. Còn nhớ có lần, trong thời kỳ đầu, Nhị Nguyễn “cảm thấy bước chân hụt hẫng, mắt hoa như sắp lên cơn sốt rét”. Một ý nghĩ vụt đến trong đầu ông: “Bỏ quách đây đi, về nước chiến đấu cho nhẹ đầu óc!”.  Ấy là khi ông thấy anh “trạm trưởng không biết đùa” trở thành con người chủ quan, tự mãn đến khó ngờ. Và cả “người đồng hương” của anh ta nữa, “tuổi quân cao hơn, cấp bậc cao hơn, đáng lẽ phải có tầm nhìn xa hơn kia”. Vậy mà… Rồi sau ông suy nghĩ lại, chín hơn, sâu hơn nên đã tự giễu mình: “Vào sinh ra tử, tra tấn tù đầy còn không nản, nay mới đụng chạm có tí ti mà đã thoái chí ư?”. Lương tâm người chiến sỹ cách mạng kịp thời lên tiếng. Hình ảnh người cán bộ cao cấp gần gũi đáng trọng kia chợt hiện ra: “Ông bỗng nhớ đến huynh trưởng Tạ Quang Bửu”. Sự thật bỗng hiện lên tỏ tường qua lời căn dặn trải đời của Huynh trưởng: “Mình chỉ lưu ý cậu, trình độ nhận thức của cán bộ ta ở cơ sở còn chênh nhau nhiều lắm đấy, có khi phải đối mặt với những sai lầm, khuyết điểm khá là ấu trĩ của họ”. Và cả cách thức vượt qua thử thách một cách hiểu quả nữa cũng hiển hiện lên thật rõ ràng: “Thường thì nhu vẫn hơn cương. Nên tâm niệm một chữ ‘nhẫn’”. Đến đây Huynh trưởng giở cuốn Phật học dày cộp nói tiếp: “Trong này dẫn ra câu của kinh Phật: Thế trí biện thông. Đó là một trong tám nạn cản trở sự giác ngộ. Kinh nghiệm sống của mình, đụng những kẻ dở ông dở thằng như thế là mệt mỏi nhất. Họ lúc nào cũng tranh biện giành phần hơn, cho mình là chân lý”.  Một luồng ý nghĩ sáng sủa, tỉnh táo vụt đến trong trí óc rối bời của Nhị Nguyễn, tiếp thêm nhiều sức mạnh cho ông: “Giờ đây Huynh trưởng ơi, tôi đang phải đối mặt với những kẻ thế trí biện thông đấy!”. Thế rồi ông liền đứng lên, vươn vai hít một hơi dài, cho căng lồng ngực, cho qua đi sự mê mụ tai hại kia…

Tuy nhiên, đúng lúc ấy, một nỗi mê mụ khác liền ập đến: “Mắt ông nhìn đăm đắm về phía dãy Phù Luỗng xa xa. Dưới chân núi ấy có một bản Nha Hởn, có một người con gái tuổi trăng rằm…”. Vấn đề này liên quan đến “cái bản năng thật mạnh, thật lạ” của con người bình thường, “một thứ linh cảm đặc biệt trời cho” như chính lời của Huynh trưởng Tạ Quang Bửu từng nói với ông hồi trên chiến khu. Lạ lùng thay, bản năng này không xa lạ với niềm ham mê cuộc sống của những tâm hồn giàu có và đa cảm. Bởi vậy, không phải ai cũng có thể sở hữu được nó. Bạn đọc chắc khó quên sự cảm nhận tinh tế với vẻ đẹp chung quanh của người lính trên con đường trường chinh, gian khó chất chồng gian khó. Đây là cảnh tượng ngoạn mục của hoàng hôn trên đất bạn trong con mắt của Nhị Nguyễn từng là sinh viên Cao đẳng Khoa học Đông Dương trước Cách mạng: “Chợt trảng cỏ rộng trước bụi cây ba người đang rải ổ, rực lên trong chốc lát ánh vàng tươi rói rồi tắt lịm. Đó là nắng quái chiều hôm. Xa xa, mặt trời như cục tiết đông đặc lừ lừ rơi vào nếp võng của dãy núi mầu xanh thẫm, để lại phía đỉnh núi một áng mây dát bạc lóng lánh mãi sau mới chịu tan. Mảng sáng còn lại bầu trời phía tây trong giây lát chuyển từ mầu sáng trắng sang đậm, cho tới khi cả bầu trời tím thẫm, xuất hiện những ngôi sao đầu tiên nhấp nháy”. Nên lưu ý, đây là cảnh bóng chiều ngả sang đêm tối ở một nơi xứ người xa lạ. Lại trên một chặng đường dài, nhiều gian nan và đầy hiểm nguy. Nếu không có một lý tưởng cao đẹp dẫn dắt, con người tình nguyện mà đi, tiên liệu và chấp nhận mọi gian nan thử thách ở phía trước, thì làm sao có được một tâm hồn sáng trong, phơi phới ấy được! Cũng cần lưu ý: không phải ai cũng có thể mang vào cuộc chiến đấu gian khó, quyết liệt kia một tâm hồn nhạy cảm và tinh tế đến vậy!

            Chính con người, với tâm hồn đáng khâm phục ấy, giờ đặt trước vẻ đẹp lung linh hơn, quyền rũ hơn: vẻ đẹp của con người. Trong vấn đề nan giải này, bạn đọc hiểu được ẩn ý của tác giả khi đặt nhân vật Nhị Nguyễn bên cạnh nhân vật chính ủy Nguyễn Chính Cầu. Cả hai đều gặp rắc rối trong quan hệ tình cảm riêng. Tuy cách suy nghĩ, và nhất là cách giải quyết giữa họ mới khác biệt làm sao: một đằng rành mạch, dứt khoát mà hiệu quả theo yêu cầu của phận sự; một bên lại trắc trở, rắc rối vì thái độ chần chừ, dây dưa kéo dài dẫn tới những hậu quả đáng tiếc. Hãy nghe vị chính uỷ kể về kinh nghiệm của chính mình, bằng ngôn ngữ của riêng mình, tự nhiên, chân thật đến tận cùng: “Vì sao không chết vì người đẹp khi vào bản làm dân vận. Mình kẻng trai chưa vợ, thiếu gì gái mê. Nhưng bất luận là ai, trong trường hợp nào, bập vào là toi. Cho nên, hễ gặp em nào trông ngon, đầu mày cuối mắt là tớ lại nhẩm trong đầu mỗi câu thần chú: ‘sướng cu mù mắt; sướng cu mù mắt’. Cứ nhẩm nhiều lần là tỉnh ra tránh được bùa mê thuốc lú của sắc đẹp”. Tuy cuộc sống không phải khi nào cũng bằng phẳng, giản đơn như vậy. “Gặp cao thủ bám dai như đỉa, nhẩm câu chú ấy liên tục mà xem ra khó thoát”, thì sao? Lúc ấy, ông lại phải “dùng đến chiêu an toàn nhất là ù té quyền, tức phòng hoả hơn cứu hoả”. Cách thức đơn giản thế này: công khai báo cáo với tổ chức và chủ động xin chuyển. Nếu tổ chức còn đôi chút vân vi, lưỡng lự chưa muốn cho chuyển, thì ông “đe”: “Đã báo rồi nếu xảy ra chuyện gì là không chịu trách nhiệm đâu thủ trưởng nhá! Bố tổ chức cũng không dám để ở lại. Biết là dùng chiêu ấy là hạ sách, người ta sẽ giận, cho là hèn. Hèn còn hơn mù mắt! Đấy, lý sự của thằng ít học bọn tớ, chỉ đơn giản như vậy mà hiệu quả, tránh được sai lầm khuyết điểm, chứ không như bọn “tạch tạch sè” các cậu, phức tạp vấn đề bỏ mẹ”.

Ông nhận xét đúng, trong trường hợp này, cách giải quyết của Nhị Nguyễn cũng như nhiều người lính xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản khác, thường hay rơi vào “phức tạp” thật! Tình huống xảy ra lại ở chính vùng đất của bộ tộc Nha Hởn ngay từ đầu đã trở thành tâm điểm nóng bỏng của các cuộc chiến đấu. Một dấu ấn không phai trong đời ông! Dấu ấn ấy bắt đầu từ lần ông phải náu trong buồng của Xão Xọi, đóng vai chồng nàng để che mắt địch. Theo tục lệ Nha Hởn, đã bước vào buồng người con gái là đã thật sự thành chồng người đó, nếu không ma quỷ sẽ quấy nhiễu. Có thể nói, ở đây, Phạm Quang Đẩu đã thể hiện thành công cơn lốc trung tâm của cuốn tiểu thuyết. Không thấy gợn lên cảm giác máy mọc, giả tạo. Gần như hoàn toàn tự nhiên, nhờ đảm bảo được sự hài hòa cần thiết giữa các chi tiết bên trong và bên ngoài, giữa diễn biến của tâm trạng và tính cách. Nhất là ở đoạn cao trào. Nên những gì phải đến đã đến… “Ông bỗng tự xấu hổ cho mình. Nhưng rồi sự lo lắng, tự vấn lương tâm về một điều khó xử đang bầy ra trước mắt, đã làm bản năng hoang dã ấy bỗng chốc nguôi ngoai thành một nỗi cụt hứng nhạt nhoà. Mình có thật lòng yêu Xão Xọi hay chỉ là thằng Sở Khanh lừa lọc không hơn không kém? Rồi ông tự biện hộ cho mình. Nhưng dù biện minh thế nào, trong lòng không thể không có nỗi ân hận: đáng lẽ ta phải luôn giữ được khoảng cách với nàng bằng sự lạnh lùng, tỉnh táo, không thể để một phút giây nào được phép chen vào sự si mê bản năng. Ta đã sai lầm khi đẩy tình cảm đến tận cùng”. Thế rồi, chiến cuộc trên cao nguyên đã đến hồi khốc liệt, không cho phép ông giành thì giờ cho những ý nghĩ vẩn vơ, những dằn vặt riêng tư nữa.

Án kỷ luật sau đó đến với ông là khó tránh khỏi, và nếu đặt trong hoàn cảnh khi ấy thì không thể nói là không hợp lý. Nhưng Nhị Nguyễn đã không hề hối tiếc, có điều lòng ông day dứt khôn nguôi. Nhất là khi ông biết chuyện Xão Xọi đã có thai. Rồi tình cờ ông lại gặp Khăm Đi, đứa con riêng của ông với nàng: “Chính Khăm Đi có chung cách nghĩ với mẹ, chỉ coi tôi như một người bạn của mẹ, không phải là cha nó. Tuy không nói ra, nhưng tôi biết thâm tâm Khăm Đi cũng oán tôi… Nhưng từ ngày biết mình có đứa con rơi, tôi day dứt lắm, càng về già nỗi khổ tâm càng lớn hơn, mình là… thằng hèn, để đến lúc chết người ta còn mang hận trong lòng. Tôi muốn chuộc lại phần nào lầm lỗi bằng việc bù đắp cho phần thiếu thốn tình cảm của Khăm Đi và mong nó chuyển ý”. Ông không ngớt kết án mình. Quyết liệt và dứt khoát.

Người đọc hoàn toàn có thể chia sẻ được với tấc lòng riêng tây ấy của Nhị Nguyễn. Rất khác với trường hợp Nguyễn Chính Cầu. Hãy nghe vị “chính uỷ thích đùa” ở cao nguyên Bô Lô Vên dạo nào kể lại chuyện xảy ra với một cô gái ở Chăm Pa Xắc: “Chả là sau ngày nước nhà thống nhất, mình có chân trong đoàn đại biểu quân sự nước ta sang thăm Lào, cô ấy nhận ra mình ngay lúc mình ngồi trên lễ đài cuộc mít tinh chào mừng đoàn. Cô tìm  mình bằng được, vừa gặp đã hỏi ngay: “Thưa, ông còn nhớ em là ai không ạ?”. Nói thật, mình cũng nhận ra cô ấy, chỉ đậm hơn thôi, chứ vẫn có nét của người mỏng mày hay hạt thời trẻ, nhưng không hiểu sao lúc đó mình lại giả bộ ngơ ngơ, nói là xin lỗi chị, tôi chỉ trông quen quen, bao nhiêu năm rồi không thể nhớ hết những người bạn trên đất nước Triệu Voi được. Thế là trước các quan khách, cô ấy chơi luôn mình một vố: “Vâng, ông bỏ quá cho em, do đến giờ em vẫn không quên được người ấy. Có thể em đã nhầm vì có nhiều nét giống với ông. Anh ta là người giỏi bỏ của chạy lấy người lắm ông ạ”. Mình tái cả mặt mà vẫn phải gượng cười, hoá ra bao nhiêu năm qua cô ấy vẫn còn giận thì giận mà thương thì thương!”. Lối ứng xử hoàn toàn khác với Nhị Nguyễn. Thái độ của người viết vậy là rõ. Hoàn toàn thấu lý, thấu tình. Bạn đọc cũng dễ dàng đứng về phía tác giả như là sự đồng thuận tự nhiên, không thể nào khác được. Kết cấu có hậu của cuốn tiểu thuyết vì thế không hề gây ra cảm giác gượng gạo. “Ông bỗng thoát ra khỏi cái gường thép để cất lên, rồi bay mãi, bay mãi vào khoảng không vô định…”. Tâm hồn Nhị Nguyễn có lẽ đã hoàn toàn thanh thoát.

Thật khó quên đoạn kết chan chứa ân tình đến từng hình ảnh, từng con chữ. Dải băng nơi vòng hoa dâng lên hương hồn ông trân trọng đề: “Kính viếng hương hồn Bác, Trung tá Đào Nhị Nguyễn, nguyên chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào - Cháu Khăm Đi”. Còn Khăm Đi thì mắt đỏ hoe, nắm chặt hai tay người quả phụ nghẹn ngào nói bằng tiếng Việt khá sõi: “Thưa bác! Cháu đang đi công tác ở Nam Lào, về nhận được điện từ Hà Nội một ngày sau khi bác trai qua đời, nên đến muộn. Cháu xin chia buồn sâu sắc với bác cùng gia đình ta”. Đáp lại, bà Nhị Nguyễn cứ để yên tay mình trong lòng bàn tay thô tháp, rắn rỏi của Khăm Đi, rồi nói trong nước mắt chảy dài: “Người ông ấy nghĩ đến nhiều nhất trước khi đi là anh đấy!”. Khăm Đi quay sang bắt tay, bùi ngùi nói lời chia buồn với từng người thân trong gia đình ông Nhị Nguyễn. Cô cháu nội nước mắt lưng tròng, ngước nhìn Khăm Đi, thổn thức: “Bác ơi, ông cháu đợi bác mãi!”. Lời kết thật đẹp. Mà cũng thật tự nhiên. Như cuộc sống tự lên tiếng nói.

Gập cuốn sách lại, một câu hỏi vang lên làm nhói lòng người cầm bút và có lẽ cho nhiều người đọc chúng ta: Thế hệ hôm nay và mai sau, khi sống trong một hoàn cảnh khác với những mục đích sống cũng có phần khác, liệu còn có thể cảm thông được với những câu chuyện gắn với những chặng đường lịch sử xa xưa cùng những con người xa xăm ấy hay không? Ông Nhị Nguyễn luôn trăn trở với ý nghĩ cho rằng, mình và những bạn cùng trang lứa ngày ấy sẵn sàng chiến đấu hy sinh, không hề tính toán so đo gì cho cá nhân, “dấn thân như một bản năng sinh tồn”, đến hôm nay, mọi chuyện  đã lùi xa, chắc gì lứa hậu sinh đã hiểu, vậy viết lại làm gì cho tốn giấy mực, ai đọc? Càng về cuối tác phẩm, ông như tìm được câu trả lời xác đáng cho mình. Và có lẽ cho cả người khác. Tôi như còn thấy cô cháu nội của ông Nhị Nguyễn trên tay cầm một cuốn sách khá dày, có cái tên rất lạ: Thế giới phẳng - Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ 21. Vâng, như cô bé nói, đấy là cuốn sách best-seller. Nó còn bảo, “thế giới bây giờ phẳng chứ không như thời ông còn trẻ đâu”. Nhưng ngay lập tức hiện lên trong tâm trí bạn đọc hình ảnh người con trai của ông - giáo sư Long. Báo chí nhiều lần ca ngợi các công trình nghiên cứu của anh và ông không giấu được niềm tự hào mỗi khi tâm sự với bè bạn. Về nhà ông thấy anh lại “vùi đầu vào sách vở chuyên môn, đến vợ con cũng thấy ít nói chuyện”. Ông những tưởng con mình chỉ coi ông là “cái bóng trong nhà, cái bóng của quá vãng xa lạ với ngày hôm nay”. Nhưng rồi ông dần dà hiểu ra: Long là đứa hiếu đễ, luôn biết lắng nghe và biết trân trọng những cống hiến vô giá của thế hệ ông. Có lần anh bảo với ông: “Con thì nghĩ, thời nào chẳng có hay, dở, cái đáng trân trọng, cái đáng bỏ đi. Nhưng thế hệ của ba là đặc biệt, là vàng mười, ai còn đến hôm nay, từng tham gia kháng chiến, cũng đều như một bảo tàng sống về chiến tranh cách mạng cả. Ba có nhiều cái đáng để viết lại cho hậu thế bọn con đọc lắm chứ!”. Nghe anh nói vậy ông thấy hả lòng hả dạ. Và anh còn bảo, mỗi loại sách đều có độc giả của mình, “anh vẫn thích tìm hiểu về sự kiện, con người thời ba anh sống, miễn là cuốn đó thú vị, cứ liệu lịch sử đưa ra đều rõ ràng, chân thật”. Nên xem đó là những đòi hỏi chính đáng của bạn đọc hôm nay và mai hậu. “Chắc là đến con con, cháu con cũng vẫn chung ý nghĩ ấy đấy, ba đừng ngại không có bạn đọc, không còn ai thích nhìn lại quá khứ” – nhân vật Long nói với cha mình như vậy. Cảm ơn những lời thành thực mà đầy khích lệ ấy của anh.

Xin các nhà văn đang chất chứa những dự định tái tạo lại một thời vinh quang chưa xa mà thật giàu ý nghĩa của dân tộc hãy vững tin vào những suy nghĩ cùng những hy vọng nơi người đọc. Riêng với tác giả Một ngày là mười năm, anh hoàn toàn có thể yên tâm vì những trang viết tâm huyết mà sâu đậm của mình, bởi đó thật sự là những dòng chữ “thú vị” với những cứ liệu lịch sử đưa ra đều “rõ ràng, chân thật”. Đó quả là một phần “bảo tàng sống về chiến tranh cách mạng” của lịch sử dân tộc ta trong sự gắn bó máu thịt với những người bạn chí tình chí nghĩa như dân tộc Lào anh em.