Bộ sách quý của nhà văn Lan Khai

            Tôi muốn nhắc tới bộ Lan Khai Tuyển tập, gồm hai cuốn, chừng 1500 trang khổ lớn (16 x 24) do Nxb Văn học ấn hành vào năm 2010. Ngoài Lời giới thiệu công phu và tâm huyết, Tập 1 của bộ sách quy tụ những tiểu thuyết tâm lý - xã hội và tiểu thuyết đường rừng tiêu biểu nhất của Lan Khai. Tập 2 tiếp tục tập hợp những tiểu thuyết lịch sử, truyện ngắn, ký, thơ, một số bài lý luận, phê bình nổi bật cùng mảng văn chương dân gian do chính Lan Khai sưu tầm và biên soạn. Thật là bất ngờ! Bởi với nhiều người, Lan Khai hầu như chỉ biết đến như là tác giả của tiểu thuyết Lầm than nổi danh một thời. Đã đành đây là một cuốn sách có giá trị, “đã phất lá cờ tiên phong trên mảnh đất này” (Hải Triều), do “biết ghi lại những cái đáng ghi” trong đời sống (Vũ Ngọc Phan), được một nhà văn “to gan lớn mật nhất văn giới Bắc Hà” (Nguyễn Tuân) viết ra. Nhưng, xin ngàn lần được lưu ý, Lan Khai không chỉ có Lầm than. Đọc lần lượt từng trang, từng phần bộ sách này, bạn đọc yêu quý văn chương dân tộc có thể đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Rồi đến khi nhận được những cảm nhận chân quý ở những dòng cuối cùng của hai tập sách thì tôi dám tin chắc rằng, những ai còn ít nhiều lương tri văn học sẽ bỗng thấy dậy lên từ đáy sâu tâm thức mình một nỗi thắc thỏm không dễ nguôi ngoai. Ấy là vì, rất, rất nhiều điều văn chương - văn học khác nhau có thể cần phải nghĩ thêm, nghĩ lại. Kể cả những đánh giá bao quát về tầm vóc một nhà văn, hơn thế, về tầm vóc của một giai đoạn thịnh vượng và giàu có vào bậc nhất trong lịch sử văn chương  dân tộc - giai đoạn 1932-1945. Xin từ chỗ đứng và chức phận của bản thân để đến với di sản lý luận, phê bình của Lan Khai.

Là những người làm lý luận văn chương, không ai không thường xuyên đối mặt với một câu hỏi vừa căn bản vừa then chốt là: “Rốt cục văn chương là gì vậy?”. Chẳng thể đưa ra ngay một lời giải đáp ngắn gọn cho được. Phải bằng nhiều cách trả lời, trong nhiều lần, và vào nhiều thời điểm khác nhau nữa. Được vậy rồi, với những đầu óc khôn ngoan và tỉnh táo, vẫn chẳng thể tìm được sự hài lòng đâu. Ấy là bởi, trong con mắt của những người thông thái, văn chương là một sản phẩm tinh thần của lịch sử và xã hôi vô cùng linh diệu. Cứ như sự sống ấy, muôn hình vạn trạng, lại luôn vận động, biến đổi đến không ngờ. Do đó, tôi không xem định nghĩa sau của Lan Khai là duy nhất đúng: “ (Văn chương) là sự phô diễn tâm tình và tư tưởng của loài người bằng văn tự” (T2, tr.685). Có điều, rõ ràng nó mang sức bao quát thật lớn. Lại nói được những gì cần nói nhất về bản chất của “văn chương thiên cổ sự” (Đỗ Phủ). Thật đáng thán phục! Cũng như vậy, ta không thể không nhắc tới với lòng kính trọng không kém khi đọc những lời bàn của Lan Khai về cái mà các nhà lý luận định danh là “đối tượng của văn chương”. Vấn đề này hẳn nhiên rất thiết yếu đối với nghiệp văn cũng như đối với nghề tìm hiểu văn. Nó mang tính định hướng, hiển nhiên là như thế. Thì đây, hãy nghe Lan Khai giải đáp: “…[v]ăn chương phải lấy người làm nền tảng” (T2, tr.685). Hầu như ai quan tâm tới văn học đều biết ý tưởng đó từng được văn hào Nga M. Gorky diễn đạt trong một mệnh đề ngắn gọn, chắc chắn và rắn đanh: “Văn học là nhân học”. Nhưng, nếu tôi có nảy ra ý định viết cuốn sách lý luận văn chương dành cho người Việt, tôi sẽ không ngần ngại dùng câu nói của Lan Khai thay (hoặc quá lắm là đồng thời với) câu nói của M. Gorky. Cũng nên biết, Lan Khai bộc lộ niềm tin văn học của mình trong một hoàn cảnh văn hóa - xã hội phức tạp đến nhường nào! Ông vừa nói rõ ý mình lại vừa như chống đỡ với những xu hướng khác đến từ nhiều hướng. Nên, Lan Khai phải thật kín kẽ, hết sức đề phòng những sự xuyên tạc cố ý, hơn thế ác ý, có thể có trong thực tế. Ông viết: ‘Theo ý tôi, nhà văn có thể dùng văn chương để làm thắng lợi một tư tưởng về chính trị hay xã hội. Nhưng, có nhiều lúc, nhà văn phải để mình lên cao hơn những eo sèo của thế sự, cũng như con hải âu kia bay liệng trên một cảnh phong ba. Đó là lúc nhà văn chỉ cần cho văn chương của mình một đối tượng duy nhất: Người, con người trước thời gian và vũ trụ - PQT nhấn mạnh” (T2, tr.692). Thêm một lần khẳng định. Lại được mở rộng hơn ra. Với một niềm tin luôn đặt trong thử thách. Và vì thế xứng đáng nhận được sự kính phục của đương thời và hậu thế.

Có dịp đi sâu vào quan niệm văn chương của Lan Khai, tôi thêm một lần xác minh cho sự đúng đắn dài lâu của quan niệm về tính dân tộc trong văn nghệ. Xin đừng ai cho đó là câu chuyện đã lui xa vào quá vãng. Hơn thế nữa kia, tôi vẫn nghĩ nó còn rừng rực tính thời sự của ngày hôm nay. Chẳng thế mà đọc đoạn văn được Lan Khai viết cách đây 72 năm lại cứ thấy như ông đang nói với chúng ta, thẳng thắn và tận tâm làm sao: “Bằng vào những điều vừa đọc ở trong các sách Âu châu, người ta xô nhau ca tụng những cái do Âu châu sản xuất mà chính Âu châu vị tất đã lấy làm vẻ vang. Người ta làm rầm lên những cái chưa từng có trên đất nước này” (T2, tr.688). Để thuyết phục người khác, Lan Khai đã biện minh cho tính dân tộc trên tinh thần khách quan khoa học: “Ai muốn nói gì thì nói, tâm hồn của mỗi dân tộc bao giờ cũng có những giới mốc khó lòng vượt qua” (T2, tr.688). Trong lời biện luận này, người viết xem ra còn có phần e dè, thận trọng. Câu nói sau thì khác hẳn, như đi thẳng ra từ quy luật của những điều tất yếu, không cần phải bàn cãi gì thêm nữa: “Phải, chúng ta chỉ là cái mắt của dây xích chủng tộc” (T2, tr.689). Vậy là tính khoa học của bản sắc dân tộc trong lý luận đã trở nên thật hiển nhiên. Nhưng đấy mới là phần lý. Lan Khai còn đứng ở góc độ cái tình để mà phân giải. Ông viết: “Mỗi dân tộc có một tinh thần riêng. Sự thật này là một cái gì rất đáng tôn trọng” (T2, tr.685). Ngày nay, nhiều người cứ bàn đi bàn lại về tính dân chủ trong sinh hoạt học thuật. Nên học sự uyển chuyển trong lối thuyết phục không hề áp đặt của Lan Khai. Chẳng thế mà ông còn lấy ý nghĩa văn hóa bền lâu để biện minh cho niềm tin khoa học của mình nữa. Ông lập luận thế này: “Nó (tức tính cách Việt Nam trong văn chương) làm cho nhân loại có vẻ đẹp như bức thảm muôn màu. Không ai nhẫn tâm phá bức thảm ấy hoặc làm nó trở nên lèm nhèm, đen không hẳn đen, vàng không hẳn vàng, mà đỏ cũng không thành đỏ. Trong địa hạt văn chương, mỗi người chúng ta cần phải giữ gìn và làm cho mỗi ngày một rạng rỡ cái tính riêng của mình. Làm như thế tức là làm giàu cho cái tính chung của cả giống người vậy” (T2, tr.685). Bàn luận triệt để, rốt ráo đến vậy thì ai có thể bắt bẻ cho nổi. Nên, rất tự nhiên, việc giữ gìn và gia tăng bản sắc dân tộc trong sáng tạo phải tự giác trở thành chức phận xã hội thiêng liêng của từng văn sỹ. Lan Khai thẳng thừng đòi hỏi: “Ta phải biết làm rực rỡ cái tinh thần của chủng tộc trong mọi sáng tác văn chương của ta” (T2, tr.687). Từ đó, ông kịp thời phát hiện, động viên và chia sẻ với các nhà văn khác. Chẳng hạn, Lan Khai trực tiếp nhắc tới câu nói của Lưu Trọng Lư “thiết tha cầu nguyện cho sự xuất hiện một cuốn thơ hay một cuốn tiểu thuyết”, để có thể khoe với thiên hạ rằng: “Đây là một tác phẩm của người Việt Nam, một giống người đã nghĩ và cảm” (T2, tr.686). Với nhận thức và bản lĩnh như thế, Lan Khai từng có nhiều ý kiến hoàn toàn khác với những nhà văn đương thời, kể cả những tên tuổi lừng danh của văn chương Pháp - cái nguồn chính và lớn ảnh hưởng sâu đậm tới văn chương Việt Nam đương thời. Nhiều người còn nhớ lời kêu gọi của A. Gide: “Ngày nay, vấn đề cốt yếu là tạo ra một nhân loại mới”. Lan Khai lại nghĩ hoàn toàn khác: “Ngày nay, vấn đề cốt yếu của chúng ta là tạo ra cho cuộc đời tương lai một lớp người Việt Nam mới, bằng những khả năng của dân tộc” (T2, tr.689). Tôi đọc những lời này mà không thể kìm giữ nổi lòng tự hào về chí lớn giàu sức sáng tạo của lớp lớp các thế hệ nhà văn đi trước…

            Một vấn đề lý luận văn chương cơ bản và quan trọng khác là việc xác định tư chất nghệ sỹ ở nhà văn. Tôi nhận được những luận giải khái quát và phù hợp sau của Lan Khai: “Văn sỹ là cái hạng, do tài năng, do từng trải và do học thức, đã được nhận là những tay thông ngôn cho sự cảm, nghĩ của con người, lẩn sau cái tính riêng của từng dân tộc” (T2, tr.688). Đi cùng với tư chất là chức phận xã hội của nhà văn. Lan Khai viết một cách đĩnh đạc: “Cái thiên chức của chúng ta (nhà văn) là truyền giáo dĩ vãng cho tương lai”(T2, tr.689). Chỉ những ai nắm chắc chân lý trong tay mới có được một tâm thế phát ngôn như vậy. Hãy nhớ lại Lan Khai sống trong một thời đại như thế nào! Nước nhà chưa được độc lập. Kinh tế bị bóc lột. Chính trị bị tước đoạt. Văn hóa bị lệ thuộc. Càng thêm khâm phục cái bản lĩnh mang tinh thần tự chủ, tự tôn hơn người của ông! Nhưng không chỉ có vậy. Ai cũng biết câu hỏi “Nhà văn, anh là ai?” chủ yếu là câu hỏi mang tính nghề nghiệp. Không tìm hiểu tới mức thông hiểu, thấu hiểu về nghề viết, người viết thì không thể đưa ra câu trả lời thấu đáo được đâu. Trước nay, người ta thường sa vào hai xu hướng cực đoan: hoặc là thần thánh hóa, hoặc là tầm thường hóa tư chất nghệ sỹ ở nhà văn. Lan Khai tránh được cả hai. Một mặt, ông xem nhà văn “chỉ là một người, với tất cả cái hay cái dở của thằng người” (T2, tr.723). Không một chút vướng bận trong tư duy, ông hạ bút viết rằng: “Người ta ở đời, ai không có ít nhất một tật xấu khó chịu? Người ta chẳng phải là thần thánh cũng không đến nỗi là quỷ sứ; người ta chỉ là người. Và, chính vì người ta chỉ là người nên người ta mới có thể đáng yêu” (T2, tr.695). Mặt khác, Lan Khai nhất mực đề cao cái riêng biệt làm nên vẻ đặc sắc của một nhà văn tài năng. Dựa vào đó, lời ca tụng Vũ Trọng Phụng của ông không biến thành sự bốc đồng rẻ tiền: “Quả vậy, trong làng văn Việt Nam hiện đại, ít kẻ đã dám là mình như Vũ Trọng Phụng! Nếu họ không đua đòi, không phỏng chép thì họ cũng đã chỉ tỏ ra rằng họ là những cái máy lặp lại những ý tưởng, những cảm tình xáo đến chết người” (T2, tr.724). Câu nói nổi tiếng của S. Zweig được Lan Khai đưa ra trong trường hợp này thật là đúng lúc: “Cái lúc huyền bí nhất trong một đời người chính là cái lúc người nhận được cá tính của mình” (T2, tr.705). Vậy là, từ tinh hoa của sách vở bốn phương, nhất là từ sự chiêm nghiệm sâu xa về đời sống của chính mình, Lan Khai đã tìm đến những hiểu biết cần có về nghề viết, từ đó tạo điều kiện sản sinh ra những trang văn thẳm sâu ưu tư và ngồn ngộn chất sống sẽ còn được nhiều thế hệ bạn đọc nâng niu thưởng ngoạn.

            Đọc Tuyển tập Lan Khai, tôi đồng thời rút ra nhiều bài học bổ ích về phê bình văn chương cho bản thân. Xin thú thật, tôi không thể quên nổi cái ấn tượng sâu đậm do đoạn văn sau của Lan Khai gieo vào tâm trí trong lần đọc đầu tiên: “Điều cần, ấy là một câu hỏi mà tôi vẫn thường đặt ra cho tôi, mỗi khi tôi thấy mình bị bao phủ bởi những tiếng khen chê cũng hết sức sôi nổi: ‘Ta có nên khen hoặc chê bừa đi không? Ta có nên khen hoặc chê trước khi ta đã thực hiểu, nhất là trước khi ta đã chắc chắn ở sự sáng suốt và sự công bình của ta?’” (T2, tr.699). Tại sao vậy? Ai từng cầm bút viết phê bình đều thấm thía cái khó đến nghê người khi “thấy mình bị bao phủ bởi những tiếng khen chê cũng hết sức sôi nổi” đối với một hiện tượng văn chương đang có những đánh giá trái ngược nhau trên diễn đàn. Khen lên tận mây cao mà chê cũng xuống tận đáy sâu. Rất ư là quyết liệt. Là một nhà phê bình thì trước sau gì cũng phải có tiếng nói của mình thôi. Dứt khoát thế, vì đó là chức phận nghề nghiệp, hơn thế, là chức phận xã hội mà một cây bút phê bình đích thực không thể thoái thác. Có điều, cần phải lên tiếng ra sao đây? Hết sức tránh ba phải. Nếu thế thì công chúng nghệ thuật cần gì tới anh. Cũng không nên quanh co. Cách nói có thể uyển chuyển đối với từng đối tượng trong từng hoàn cảnh, nhưng thái độ khen chê phải cho rõ ràng. Rất cần học Lan Khai, khen hay chê cũng không được phép “bừa đi” được. Muốn thế, phải “thực hiểu” đối tượng bàn luận. Vẫn chưa đủ, còn phải “chắc chắn ở sự sáng suốt và sự công bình của ta” nữa. Cái sau mới quyết định. Lại chính là cái quý nhất đối với một nhà phê bình. Như Lan Khai thừa nhận: “Ở đời cái đáng sợ mất đi nhất, ấy là sự bình chính” (T2, tr.699).

            “Đáng sợ mất đi nhất” nhưng sự công tâm “bình chính” không khó đến mức không thể giữ gìn nổi. Chỉ cần luôn trung trinh với đạo lý của nghề cầm bút thôi mà! Nhưng còn có yêu cầu chính yếu khác thuộc về hiểu biết, buộc nhà phê bình phải thường xuyên trau dồi nếu không sẽ dễ rơi vào dung tục tầm thường. Tôi muốn nói tới tính khách quan tạo cơ sở chắc chắn cho mọi lời khen, chê. Lan Khai nhắc nhở ta điều đó bằng tấm gương của chính ông. Trước những trang văn của một nhà văn cùng thời không dễ đánh giá, ông chân tình thổ lộ: “Tôi chỉ cố gắng trình bày ông đúng với ông được chừng nào hay chừng nấy mà thôi” (T2, tr.700). Đấy là trường hợp nhà văn Lê Văn Trương. Ông viết nhiều, đến độ đáng ngạc nhiên, nhưng chất lượng không phải lúc nào cũng đảm bảo. Lan Khai “quyết định” “sẽ bình tĩnh mà nhận xét, phân tích, ghi chép cái sở trường và cái sở đoản của ông” vì “những cái đó đã làm nền móng cho tác phẩm của nhà văn ấy” (T2, tr.699). Thế rồi, như đã kịp chín muồi, Lan Khai đưa ra nhận xét có thể thuyết phục cả những người khó tính nhất: “Ông (Lê Văn Trương) đã vượt lên trên hết thảy các văn sỹ đồng thời bằng cái khối sách cao ngất, bằng sự nổi danh chớp nhoáng và bằng cái số lớn độc giả của ông. Tất cả các cái trên đây, đã đành, chưa hẳn là cái chứng cớ của một tài năng thực sự và cao sâu; tôi cũng chỉ ghi lấy, như các điều nhận xét nhân dịp tôi nói về văn sỹ” (T2, tr.699). Trường hợp Vũ Trọng Phụng cũng vậy. Nhiều người biết giữa ông và nhà văn tài năng này có mối quan hệ thâm sâu trong đời thực như thế nào rồi. Gần gũi nhau có cái hay là hiểu nhau đến từng chân tơ kẽ tóc. Nhưng cũng có cái dở là dễ bị cái yêu ghét thường ngày sai khiến, ngòi bút khó giữ được sự cân phân. Có thể nói Lan Khai đã biết cách vượt qua những hệ lụy rất đời ấy, để giữ cho được lẽ công minh cần có trong nhìn nhận và xét đoán. Hãy nghe ông đánh giá văn nghiệp của bạn mình: “Trong khi ấy, Vũ Trọng Phụng đã chỉ là Vũ Trọng Phụng… Anh chưa sáng suốt đến bậc có thể trở nên một tay cải tạo xã hội, nhưng anh đã làm đầy đủ cái chức vụ một nghệ sỹ. Vì sao? Vì nghệ thuật chính là cái biểu thị tối cao của sự bất bình. Mà văn chương của anh đã ngụ một bất bình sôi nổi, một bất bình nhiều khi chua cay, sỗ sàng và độc ác nữa” (T2, tr.725). Nghệ thuật phê bình tinh diệu là thế! Mọi mọi lời khen, tiếng chê bao giờ cũng mang đậm tính chủ quan nhưng nhận xét muốn thuyết phục lại cần xuất phát từ những tiêu chí chung được nhiều người thừa nhận và tuân thủ. Có nhiều bài học thật chua xót. Chính Lan Khai đã nhận thấy qua văn nghiệp không ít trầm luân của Vũ Trọng Phụng: “Và, nếu hồi anh gần mất, anh đã thiết tha đến chủ nghĩa này chủ nghĩa nọ, ấy cũng vì một vài nhà phê bình đã gán cho anh những dụng ý mà anh không có” (T2, tr.722).

 Cố nhiên, thâm nhập vào thế giới nghệ thuật rộng lớn, tầng tầng lớp lớp ý nghĩa như của nhà văn lớn Vũ Trọng Phụng không bao giờ là một công việc dễ dàng. Ngoài sự am tường đời sống và văn chương đủ đầy ra, còn cần thêm một lối tiếp cận. Đúng hơn là rất cần một thái độ ứng xử phù hợp. Phải thật cận nhân tình. Để khi dụng bút có được cái tâm thế không dễ có là cận văn tình. Ở đây, Lan Khai vẫn lộ ra như một tấm gương sáng. Ông nhắc nhở: “Chúng ta hãy nên chỉ nhận lấy cái gì mà Vũ Trọng Phụng có thể cho được chúng ta. Như thế đã chẳng đủ lắm sao? Lẽ thứ nhất bởi con người không thể là một cái gì khác hơn nó được… Lẽ thứ hai bởi các văn phẩm do Vũ Trọng Phụng viết ra dù chẳng cho ta chút hy vọng hoặc chút ít phương pháp kiến thức nào, song tất cả đã khiến ta thấy rõ cái hiện trạng xã hội và đã khiến ta suy nghĩ về các hiện trạng ấy” (T2, tr.724). Được thế, rất cần tới sự am tường đặc thù của văn chương, đặc điểm của nhà văn. Đòi hỏi này không biết bao nhiêu là đủ cả. Chỉ xin nêu một dẫn dụ: sự tươi mới trong cảm nhận của người nghệ sỹ. Một lần, Lan Khai đưa ra ý kiến của nhà phê bình Pháp A. Thibaudet: “Tuổi thơ ngây là một thi sỹ mà thiên tài thi sỹ tức là sự kéo dài tuổi thơ ngây”. Liền sau đó, ông vận rất hay vào trường hợp Tản Đà nhằm “phác họa hình dung và tâm tình” của một trong những nhà thơ tài hoa vào bậc nhất trong lịch sử thi ca dân tộc: “Thi sỹ vì thơ ngây nên đã tạo ra trong trí bao nhiêu là mộng lớn mộng con. Thi sỹ vì thơ ngây nên đã thất bại nhiều phen trong sự thực hiện những mộng lớn mộng con hết sức thơ ngây của mình. Thi sỹ lại đã vì thơ ngây, mà dù bao phen thất bại vẫn không chán nản, cứ mơ mộng hoài, mơ mộng cho tận đến trước khi nhắm mắt” (T2, tr.695). Những lời bình càng đọc càng ngẫm lại càng thấy thấm thía!

Ta có thể dẫn ra nhiều, nhiều nữa những lời bàn luận, những lối ứng xử mẫu mực của Lan Khai trong các trường hợp và hoàn cảnh khác nhau. Không thể quên vai trò của người kết nối giữa ta với nhà văn bậc thầy này. Người đó là PGS-TS Trần Mạnh Tiến. Tôi không lấy làm ngạc nhiên khi biết anh chính là người chịu trách nhiệm trong việc sưu tầm, biên soạn, giới thiệu bộ sách Tuyển tập Lan Khai. Bởi, với tôi, anh là một chuyên gia hiếm hoi về nhà văn Lan Khai theo ý nghĩa trọn vẹn nhất của từ này. Anh từng đi đầu trong việc giải tỏa nhiều uẩn khúc bất công vốn tồn tại nặng nề trong nhiều năm nay khi nghĩ về cuộc đời sôi động, giàu ý nghĩa mà không ít bi kịch của một nhà văn hiện thực hàng đầu. Anh lại dành không ít thời giờ và công sức để sưu tầm, chỉnh lý khối tư liệu phải nói là ngổn ngang lại bị phủ lớp bụi dầy của thời gian và sự ngang trái, rồi lần lượt công bố nhiều tác phẩm tiêu biểu thuộc nhiều thể loại khác nhau của một nhà văn đa tài không hề tỏ ra thua kém với bất cứ ai cùng thời. Đặc biệt, với tư cách là một nhà nghiên cứu công tâm, anh còn trực tiếp viết nhiều công trình khảo cứu, thể hiện nỗi đam mê hầu như vô tận trong việc tìm hiểu và khám phá mang tính chuyên nghiệp, chuyên sâu về một nhà văn hiện thực đặc sắc của nước ta. Lao động miệt mài đó của PGS-TS Trần Mạnh Tiến kết tinh trong những chuyên luận xuất hiện lần đầu dung chứa nhiều điều mới mẻ trong suy xét, đánh giá như Lan Khai - Tác phẩm Nghiên cứu, Lý luận và Phê bình văn học (2002); Lan Khai - Truyện đường rừng (Chủ biên, 2004); Lan Khai - Lầm than (2004); Lan Khai - Nhà văn hiện thực xuất sắc (2006). Đấy là chưa nói tới Tuyển Truyện ngắn Lan Khai do anh sưu tầm và giới thiệu vừa mới ra mắt vào cuối năm 2011 này.

Tin rằng, bạn đọc sẽ từ những nhu cầu tinh thần khác nhau để đi vào thế giới nghệ thuật thăm thẳm của Lan Khai. Chỉ có thế, di sản quý giá của những nhà văn tầm cỡ như ông mới thật sự sống cùng thời gian, cùng lịch sử. Và, để những công sức cùng trí tuệ của những nhà văn học giàu tâm huyết như Trần Mạnh Tiến mới không trở nên vô nghĩa. Với tôi, khi viết những dòng cuối cùng này, tự nhiên thấy vang lên trong tâm trí mình câu nói của văn hào Pháp R. Rolland được Lan Khai trân trọng lấy làm đề từ cho công trình Lê Văn Trương - mớ tài liệu cho văn học Việt Nam: “Sống được tích sự gì cho ta, nếu sống chẳng là để sửa chữa những lầm lạc của ta, thắng đoạt những thành kiến của ta và càng ngày càng mở rộng thêm tư tưởng và tâm hồn ta? Hãy yên tâm… mỗi ngày ta lại cố gắng để đến gần sự thật thêm một ít”. Xin hãy dùng chính tinh thần ấy để đến với cuộc đời và văn nghiệp của Lan Khai.

                                                                                                                                               Đà Lạt, 02/12/2011