Sự tích vết trắng dưới cổ trâu

Trà Lớ mồ côi cha từ ngày còn để chỏm, sống thui thủi trong một túp lều rách nát. Nhà nghèo, Trà Lớ phải làm quần quật quanh năm suốt tháng mà ăn không đủ no, mặc không đủ ấm.

Một lần đi làm rẫy về, Trà Lớ thấy bọn con cái xú cà đang xúm lại thi nhau đá một con chó đen gầy còm. Đến khi con chó nằm rũ bên đường thì chúng cười thích chí bỏ đi. Trà Lớ động lòng mang về nhà. Con chó tội nghiệp được chàng chăm sóc như một người bạn thân thiết. Hết nhiều lần mặt trời mọc, mặt trời lặn, do được chăm sóc chu đáo, con chó ngày một khỏe khoắn. Từ ngày có con chó làm bạn, bếp lều Trà Lớ vui hẳn lên. Trà Lớ cảm thấy bớt cô quạnh.

Lại một mùa nương nữa đến. Vào một ngày trời đẹp, Trà Lớ đeo dao vác búa đi phát nương như mọi ngày. Chàng làm hùng hục từ mờ sáng đến chiều tối, không để dao được nghỉ; đến lúc ông mặt trời xuống núi chàng mới quay về. Lúc bước vào nhà, chàng rất lấy làm ngạc nhiên nhà cửa đã gọn gàng sạch sẽ lại có cả mâm cơm đậy điệm kỹ lưỡng. Chàng đứng như trồng trước cửa, nghĩ mãi không biết ai đã có lòng tốt giúp mình. Tìm quanh mà chẳng thấy có ai. Một lát sau chàng nhảy ra ngoài cửa sổ gọi to:

-          Hỡi người tốt bụng ơi! Tôi muốn mời người tốt bụng về ăn cơm với tôi, cho tôi được nhìn biết mặt, được nói lời cám ơn!

Gọi gần chẳng thấy ai đáp lại, Trà Lớ lại gọi xa: cũng chỉ có tiếng núi rừng nhại giọng, chẳng thấy ai nhận lời. Buồn bã chàng xẻ nửa mâm cơm cho chó rồi lặng lẽ ngồi ăn.

Ngày hôm sau, cũng như hôm trước, Trà Lớ đi nương về lại thấy cơm ngon canh ngọt bày sẵn, nhà cửa tươm tất, gọn gàng. Chàng lại ra cửa gọi nhưng cũng chẳng có ai đáp lại. Lòng rầu rầu, chàng xẻ cơm cho chó, rồi lại ngồi ăn một mình. Đêm ấy, việc lạ cứ đi qua đi lại trong đầu làm chàng không tai nào ngủ được. Phải rình để mắt được thấy rõ chuyện lạ thôi. Nghĩ vậy, sáng hôm sau Trà Lớ giả vờ đeo dao, vác búa đi làm. Đến nửa đường chàng quay về nhà, đứng rình. Lúc sau một người con gái môi đỏ như hoa đào mới hé, da trắng như nõn chuối rừng không biết từ đâu đi ra cửa. Chần chừ một lúc, Trà Lớ bước thẳng tới trước mặt người con gái. Cô gái luống cuống định chạy trốn, nhưng biết đã muộn đành đứng lặng. Trà Lớ hỏi:

-          Nàng là ai? Sao lại đến trước cửa lều nhà tôi chải tóc. Hay nàng chính là người đã nấu cơm chiều hôm qua và chiều hôm kia. Tôi gọi nhiều lần sao nàng không về ăn cơm cùng tôi?

Cô gái âu yếm nhìn Trà Lớ:

-          Đúng em nấu cơm đấy! nhưng sợ chàng chê cơm sống canh nhạt nên không giám nhận lời mời đó thôi! Chàng đã cứu em, cha mẹ em cho em đến đền ơn chàng mà! Không ưng, chàng đừng mắng. Em xấu chàng đừng chê. Cha mẹ đã cho em đến ăn chung mâm ở cùng nhà với chàng rồi!

Trà Lớ lắc đầu quầy quậy:

-          Không được đâu! Tôi xấu người lại nghèo, trong nhà chỉ có một con chó, làm sao nên vợ nên chồng cùng nàng được!

Cô gái mỉm cười dịu dàng:

-          Chàng không xấu, chàng đẹp nhiều trong bụng. Bụng người nghèo biết thương người nghèo, thương người bị kẻ ác đánh đập! Chàng đã cứu em sống lại. Em chính là con chó hàng ngày được chàng nuông chiều, chăm sóc. Không tin chàng ngó gầm giường xem.

Trà Lớ nghe người con gái đẹp nói vậy mới sực nhớ là từ lúc mình bước vào nhà không thấy con chó đến quấn quýt mừng rỡ như mọi ngày. Nửa tin, nửa ngờ, chàng cúi nhìn gầm giường, quả không thấy con chó đâu nữa, mà chỉ có tấm da chó trút bỏ ở cạnh ổ mọi ngày nó vẫn nằm. Lúc đó Trà Lớ mới tin hẳn. Từ đó hai người thành vợ, thành chồng. Bếp lửa Trà Lớ không biết buồn nữa. Họ ngày ngày đi nương về nương như đôi chim câu. Cuộc sống hai người không có gì đẹp hơn. Họ sống với nhau như thế, một mùa trăng đi qua, hai mùa trăng đi qua. Một hôm vợ Trà Lớ bảo chồng:

-          Mai, chàng hãy đi dọn một chỗ đất để làm nhà. Nhà này bé quá, ta phải làm nhà to hơn. Rừng nhiều cây, đất nhiều chỗ, thiếu gì. Muốn to bao nhiêu chàng cứ cắm. Cả chuồng gà, chuồng lợn, chuồng trâu nữa. Chỉ một đêm là em sẽ làm được nên thôi!

Trà Lớ không tin là vợ sẽ làm được như lời vợ vừa nói, nhưng chàng không muốn làm khác ý để nàng buồn. Chàng lựa lời nói vui:

-          Nghe nàng nói, tai tôi lạ lắm! Mà mình nghèo như lều nương đã bỏ ba năm, gió tha hồ vào ra không vướng, lấy đâu ra của chìm, của nổi làm nhà?

Vợ Trà Lớ nói như dao chém cây:

-          Chàng không phải bận tâm, rồi đâu sẽ vào đấy cả mà!

Hôm sau Trà Lớ làm y như vợ dặn. Chàng lấy cây cắm quanh miếng đất rộng đầu bản, có đủ vả nền nhà, nền chuồng gia súc. Tối hom đó trước lúc bếp tắt lửa đi ngủ, vợ Trà Lớ dặn chồng:

-          Đêm nay sẽ có mưa to gió lớn nhưng chàng cứ nhắm mắt ngủ yên đừng có sợ, và nhớ đừng có mở mắt nhìn, kẻo hỏng việc.

Trà Lớ tuy chưa hiểu tại làm sao lại phải kiêng như vậy, nhưng cũng không giám hỏi kỹ hơn, chỉ im lặng ngật đầu. Quả nhiên quãng nửa đêm, sấm chớp nổi lên ầm ầm, mưa như đổ cả bầu trời, rồi tự nhiện im bặt. Sáng hôm sau, khi tỉnh giấc Trà Lớ thấy mình đang ở trong một ngôi nhà cao rộng, có kẻ hầu người hạ đi lại nườm nượp như nhà khoàng tý. Quanh nhà, ngoài sân trâu, ngựa, gà, lợn hàng đàn. Trà Lớ cứ tưởng mình nằm mơ, hai tay dụi mắt để nhìn kỹ, vẫn thấy như thế. Vợ Trà Lớ thấy chồng có vẻ ngạc nhiên mới nói hết mọi điều. Từ đấy nhà của Trà Lớ trở nên đẹp đẽ, giàu có nhất vùng.

Tin Trà Lớ có vợ đẹp, nhà to truyền khắp vùng gần vùng xa như những ngọn gió lành. Bọn xú cà lúc đầu không tin, rủ nhau đến xem. Khi được tận mắt nhìn thấy, đứa nào đứa ấy há hốc mồm thèm muốn. Bụng cú cáo của chúng sinh lòng ghen và tìm cách làm hại, cướp đoạt. Mỗi khi thấy Trà Lớ, gặp Trà Lớ là chúng lại tìm lời ác, lời độc nói qua nói lại để lọt vào tai chàng. Có thằng thì tìm lời nói ngon nói ngọt:

-          Trà Lớ à! Người lấy vợ chó xấu lắm. Giàu mà lấy vợ chó cũng bằng không thôi! Sao mày không đuổi quách vợ mày đi. Nghe nói vợ mày là giống chó phải không? Nay mai nó lại trở về kiếp chó cắn mày đấy! Mày bỏ nó tao sẽ gả con gái đẹp của tao cho mày làm vợ. Bằng lòng đi. Trà Lớ! Người phải lấy người chứ!

Nghe một lần, trên đường về mặt Trà Lớ thấy kém vui. Nghe hai lần, ba lần. Trà Lớ thấy bọn xú cà nói có lý. Người lấy chó không nên rồi. Trà Lớ vừa buồn vừa bực. Có ngày chàng trở về mặt buồn như nhà có người chết. Thấy vậy, vợ chàng lựa lời hỏi:

-          Trà Lớ à! Sao con mắt chàng hôm nay đỏ không biết cười? Chàng có điều gì buồn rồi? Giấu em không nói ra, chàng buồn ít em buồn nhiều đấy!

Trà Lớ vẫn thinh lặng. Lại hết nhiều ngày nhiều đêm, hôm nào bọn xú cà cũng tìm cách gặp được Trà Lớ để nói câu ác. Như nước mài hòn đá, dần dần lòng Trà Lớ một thay đổi. Trước kia chàng thương vợ là thế, chiều vợ là thế, giờ đi đâu về, nhìn thấy vợ con mắt chàng đã hằn học khó chịu. Thấy chồng thay đổi tính nết, vợ Trà Lớ vẫn kiên gan khuyên nhủ chồng đừng có nghe lời cú cáo. Trà Lớ không những không nghe mà còn trợn mắt quảt mắng, đánh đập, xỉ và nàng. Bụng Trà Lớ thật như cái hang tối rồi, một vài tia nắng không làm sáng được.

Một lần, bọn xú cà cho Trà Lớ uống rượu say rồi mới nói thật nhiều câu xấu độc. Không chịu được, Trà Lớ chạy về nhà mắng vợ:

-          Bụng tao giờ không ưa lấy mày nữa! Mày là giống chó thôi. Mày đi khỏi nhà này cho khuất mắt tao ngay!

Vợ Trà Lớ rụng rời, đau đớn. Nàng rầu rĩ nói với Trà Lớ:

-          Trà Lớ ơi! Nghe lời ác của bọn xú cà, bụng chàng không biết đâu trắng, đâu đen nữa rồi. Bụng chúng nó giấu nhiều dao găm đấy! Miệng chúng nó là miệng cú cáo, không nên nghe đâu! Nghe chúng nó, cây đang thẳng thành queo đấy, Trà Lớ à!

Mặc vợ nói thế nào, Trà Lớ vẫn một mực không nghe. Vợ Trà Lớ đành thở dài gạt nước mắt bảo chồng:

-          Trà Lớ ơi! Đời chàng nghèo khổ nhiều rồi. Lúc đầu em thấy chàng tốt bụng, em muốn giúp chàng đỡ khổ. Nay bụng chàng đã bị lời ma bọn xú cà bắt, chàng sớm vội bội bạc quên ơn, đành mặc chàng thôi! Em nói chàng biết, nay mai bỏ em chàng sẽ không được như vậy nữa. Lúc đó chàng có hối hận cũng không kịp đâu!

Trà Lớ như người đi rừng lạc, càng đi càng không thấy lối ra:

-          Miệng tao nói điều tao muốn! Đừng chần chừ nữa, mày đi đi!

Vợ Trà Lớ vẫn khẩn khoản:

-          Chàng nghe em, nghĩ lại đi, đừng say điều trái, điều ác nữa! Rồi sẽ hối không kịp đấy!

Trà Lớ lấy tay đẩy cô gái ra khỏi nhà, quát lớn:

-          Thôi! Mày cút đi! Đừng nói nhiều như con vẹt kêu nữa. Chân mày mau bước ra khỏi cái nhà nay thôi!

Không chịu được, nàng cầm một chén nước đổ vào cối giã gạo. Đột nhiên một cột nước vụt lên cao. Căn nhà nghiêng ngả, răng rắc. Chẳng mấy chốc cả khu nhà biến thành một cái ao sâu. Người con gái đứng giữa ao miệng lẩm nhẩm, tay vẫy vẫy. Bông nhiên bao nhiêu người hầu kẻ hạ ùa chạy xuống ao, biến mất. Rồi tất cả bò, ngựa, gà, lợn cũng biến theo. Trà Lớ hoảng sợ cuống cuồng, cứ chạy ra chạy vào mà không biết làm gì. Bỗng sực nhớ ra, chàng vội giật chiếc khăn trắng trên đầu, chạy theo buộc vào cổ con trâu gầy đi sau cùng kéo lại. Trong loáng mắt cả cô gái và ngôi nhà không còn nữa, ngoài con trâu gầy chàng kéo lại được. Trà Lớ khóc lóc vật vã nhưng người vợ đẹp và cả cái giàu có mãi mãi không bao giờ trở lại được nữa. Bọn xú cà kéo nhau tới cười cợt mỉa mai. Bụng Trà Lớ cay hơn xát ớt. Chàng buồn bã bỏ ăn nhiều ngày rồi chết và biến thành con thạch sùng. Ngày nay thạch sùng hay tắc lưỡi bởi chính nó tiếc người vợ đẹp và tài sản đã mất vì trót nghe lời bọn xú cà, và ta thấy dưới cổ trâu có một vệt trắng, đó chính là chiếc khăn mà Trà Lớ dùng để giữ con trâu, lâu ngày nó dính liền vào da vậy.

 

                                                                            Ghi theo lời kể của anh

                                                                                      Pớ Xi Giá

                                                                     Bản Mận Khum, Xã Mường Nhứ

                                                                              Mường Tè, Lai Châu