Hai anh em

Ngày xưa có hai anh em tên là Á Pò và Á La. Cha mẹ mất sớm, họ thương nhau lắm. Một miếng ăn họ cũng chia hai phần. Đêm ngủ họ cùng nằm chung. Hai anh em gần gũi nhau như hình với bóng.

Một hôm kia Á Pò lấy vợ. Sống gần vợ, Á Pò quí vợ thương vợ hơn em, rồi chẳng đoái hoài gì đến Á La nữa. Không những thế Á Pò còn bắt em phải làm quần quật suốt ngày như con trâu con ngựa. Tệ hơn, Á Pò nằng nặc đòi chiếm gia tài của cha mẹ để lại, và đuổi Á La đi. Bao nhiêu của cải Á Pò lấy hết chỉ cho em một con chó và một con mèo tội nghiệp. Trước sự đổi lòng của người anh, bụng Á La vẫn không biết buồn. Chàng ôm chó, mèo vào lòng lùi lũi ra khỏi nhà. Á La không nhà cửa, ngày đi làm thuê kiếm ăn, tối về nghỉ ở gốc cây lớn đầu bản. Niềm vui độc nhất của chàng là tối tối được dạy cho chó, mèo múa hát. Ba mùa nương rẫy trôi qua, chó mèo múa đã dẻo, hát đã hay. Chúng gắn bó với Á La như những người bạn thân thiết vậy.

Một hôm Á La ôm chó, mèo đến ngã ba đường thì gặp một đoàn người đi buôn. Họ dừng lại nghỉ chân hút thuốc. Á La cũng ngồi xuống lấy tay vỗ vỗ vào thân chó và mèo:

-          Hỡi mèo vàng khôn ngoan ơi! Hỡi chó bạc khôn ngoan ơi! Hãy nhắm mắt ngủ đi, chốc nữa dạy hát cho hay, múa cho dẻo nhé!

Tên chủ buôn thấy lạ liền hỏi:

-          Mày nói gì lạ vậy? Chó mèo mà lại hát lại múa được sao?

Á La nói ngay:

-          Miệng tôi nói không sai đâu! Chúng hát và múa được mà.

Tên chủ buôn không tin:

-          Tai tao nghe không nổi lời mày nói đâu. Nếu chó, mèo mày hát múa được, tao sẽ mất cả đàn ngựa cùng số hàng hóa này. Nếu không, mày phải mất chó, mèo cho tao dấy.

Á La gật đầu lay chó, mèo dậy. Đầu tiên chàng bảo chúng hát. Mèo, chó vâng lời hát hết bài này sang bài khác. Rồi chàng lại bảo chúng múa. Chó, mèo uốn mình khua chân theo những điệu lạ mắt. Tên chủ buôn trố mắt, lè lưỡi kinh ngạc. Nó đành đứt ruột giao số ngựa cùng những thồ hàng cho Á La. Chàng vui lòng dắt đàn ngựa trở về cùng chia cho dân nghèo. Từ đó chàng được sống yên vui nhất vùng.

Tin Á La được gặp may như một cơn gió lành thoảng đến tai Á Pò. Người anh lập tức tới nhà Á La dùng lời mềm, lời cứng hỏi em. Á La thật lòng kể hết mọi chuyên cho anh nghe. Á Pò nhằng nhẵng đòi mượn bằng được chó, mèo, không cần em có bằng lòng hay không. Á La trao cho anh và dặn đi dặn lại:

-          Anh Á Pò ơi! Anh lấy thì lấy thôi, nhưng anh chớ đánh chó, mèo quí của em đấy.

Á Pò trả lời qua quýt rồi dắt chó, mèo về. Cả đêm hôm đó Á Pò không ngủ được mong cho trời mau sáng. Sáng sớm hôm sau trời sương muối rét buốt, Á Pò chưa kịp cho chó, mèo ăn đã dắt chúng ra ngã ba đường. Chờ đến giữa buổi Á Pò cũng gặp một đoàn người buôn đi tới. Á Pò đứng chắn ngang giữa đường làm đoàn người và ngựa phải ùn trở lại. Hắn la lớn:

-          Chó, mèo của tôi biết hát, biết múa, các ông cho tôi ngựa, tôi sẽ bảo chúng hát múa cho mà coi.

Thấy lạ đoàn người buôn cũng thách:

-          Được, chó mèo mày múa hát được chúng tao sẽ ưng cho mày ngựa. Nhưng nếu không hát được thì mày sẽ bị một trận đòn.

Á Pò thèm muốn được đàn ngựa đẹp, khỏe nên giục chó, mèo hát máu. Nhưng từ đêm qua Á Pò chẳng cho chúng ăn uống gì cả mà lại để chúng nằm rét, chúng bị đói, rét nhiều nên miệng chúng chỉ phát ra những tiếng rên ư ử, thân chúng run cầm cập không tài nào múa hát được.

Đoàn người cười rộ lên khoái chí. Thế là Á Pò không được ngựa lại bị đánh một trận bán sống bán chết. Tức đầy ruột Á Pò đập chết cả chó lẫn mèo rồi lủi thủi quay về.

Hắn lập tức đến gặp Á La mắng:

-          Chó mèo của mày là chó ma mèo quỷ. Giục chúng hát không chịu, giục chúng múa cũng không chịu, tao đập chết vứt ở đường rồi, muốn lấy thì ra đấy mà tìm.

Bụng Á La đau như có dao cứa. Chàng khóc lóc mò mẫm đi tìm chó, mèo quí. Á La cặm cụi kiếm suốt buổi mới thấy xác chúng ở rìa đường. Á La chôn chúng cẩn thận. Ba ngày sau Á La đến sửa mộ cho chó, mèo thì thấy một cây khà mọc giữa mộ. Chàng chặt cây đem về làm một chiếc lược. Á La dùng lược chải, chải đến đâu tóc đen và dài ra đến đấy. Bao nhiêu chấy trên đầu hết sạch. Việc Á La có lược quý lan ra khắp vùng gần, vùng xa. Biết tin, Á Pò lại lật đật chạy sang mượn lược quí của em về chải. Á La chẳng ngần ngại liền đưa cho anh, không quên dặn:

-          Á Pò ơi! Lược này là gạo là rau của em, anh giữ cận thận giúp em đấy.

Về đến nhà Á Pò lôi lược ra chải. Lạ thay, chải đến đâu, tóc anh ta không đẹp thêm mà lại rụng đi, đỏ ra, đầu lở loét, nhức nhói. Á Pò điên người bẻ đôi chiếc lược ném vào ngọn lửa đang cháy rừng rực. Ngày hôm sau, rồi ngày hôm sau nữa Á La không thấy Á Pò mang trả lược. Sốt ruột Á La sang nhà anh xin lại. Lần này Á Pò mắng chửi té tát.

-          Mày lừa tao, lược mày là lược quỷ lược ma. Đầu tao sây sứt  trui tóc vì nó đấy. Tao đã cho ngọn lửa ăn rồi, ra đấy mà tìm:

Á La buồn bã đến bên bếp lửa bới tìm. Đột nhiên một con gà mái kêu inh ỏi:

Cục ta cục tác

Xé xì thì tu xè

Nga pờ đu cá.

Nghĩa là:

Cục ta cục tác

Cho tôi nắm tóc

Tôi bới cho anh

Á La ném cho gà nắm tóc. Chỉ một lát sau gà đem đến cho chàng một chiếc răng lược cháy nham nhở. Á La cầm chiếc răng lược về nhà uốn thành một chiếc lưỡi câu. Mỗi lần đi câu, Á La nhờ lưỡi quí mà được nhiều tôm cá. Điều lạ lùng ấy lại lọt vào tai Á Pò. Lòng tham lại nổi lên, hắn lại sang mượn chiếc cần câu quý của em. Lần này Á La khăng khăng từ chối. Hắn nói nhiều nói mãi... Á La đành ưng thuận sau khi đã dặn đi dặn lại cẩn thận:

-          Á Pò ơi! Anh cố giữ cho em đừng đánh  mất đấy!

Ngày hôm sau Á Pò vác cần câu đi ra suối. Nhưng câu ngược dòng cũng chẳng được con cá nào, câu suôi dòng cũng không được con tôm. Hắn cố nấn ná ngồi thêm một lát nữa thì thấy cần câu uốn cong. Hắn mừng quá, lấy hết sức bình sinh giật mạnh lên. Một con rắn to mào đỏ chót giãy giụa xuýt làm gãy cần câu. Hoảng quá hắn quăng cả cần câu xuống nước, cắm đầu chạy thẳng.

Ba hôm sau Á La sang nhà anh xin lại cần câu. Á Pò chẳng nói chẳng rằng tát vào giữa mặt Á La rồi bỏ đi. Á La đỏ mắt nhìn anh tức tối không hiểu ra làm sao cả. Chị dâu thương tình bảo:

-          Anh đi câu không được tôm được cá, chỉ thấy một con rắn độc to tướng, anh vứt cần câu xuống suối rồi em ra đấy mà mò.

Bụng Á La vừa đau, vừa tức, chạy lần ra suối để tìm lưỡi câu. Mò ngược dòng, mò xuôi dòng, mò suốt buổi... Á La vẫn không tìm thấy lưỡi câu đâu cả. Đói mệt, Á La trèo lên cây ló mì lấy mật ong ăn rồi ngủ triếp đi. Trong giấc ngủ Á La mơ thấy mình tìm được lưỡi câu quý ở vùng dưới. Tỉnh dậy chàng xuống đó tìm kiếm. Đến nơi Á La gặp một cô gái xinh đẹp đang đứng bên bờ suối chải tóc. Mái tóc nàng dài dập dềnh trên mặt nước làm xanh cả chín khúc suối. Cô gái ngẩng đầu tươi cười ngó Á La:

-          Chàng có phải là người thầy thuốc giỏi đã chữa khỏi cái bướu cổ của mẹ em? Nếu đúng mời chàng xuống chữ bệnh cho cha em. Em sẽ mang ơn nhiều.

Á La ngơ ngác chẳng hiểu sao cả, anh từ chối:

-          Không! Tôi là người nghèo khổ không biết chữa bệnh đâu.

Cô gái bảo ngay:

-          Sao mình chàng đi lang thang ở vùng này? Xuống nhà em chơi đi!

Á La thật lòng kể lại mọi chuyện cho cô gái nghe. Càng nghe cô gái càng nghẹn ngào xúc động. Cuối cùng Á La nói:

-          Chân tôi cũng muốn xuống nhà nàng. Nhưng nhà nàng ở dưới suối thì tôi xuống làm sao được?

Cô gái kêu:

-          Chàng không lo, chàng nhắm mắt lại và cầm chặt lấy thắt lưng này của em. Khi nào em bảo mỏ mắt thì chàng hãy mở. Còn lúc chàng trở về thế nào cha mẹ em cũng đền ơn. Chàng nên nghe em chớ lấy vàng bạc nén mà chỉ xin con gà đen trong lồng cạnh bếp lửa ấy. Rồi chàng sẽ đạt mọi ý muốn.

Á La đang định cầm thắt lưng cô gái thì thấy một hòn đá năm nảy nảy ở dưới chân chàng. Á La nhặt lên bỏ vào túi. Lúc mở mắt ra thì trước mặt chàng là một tòa nhà lóng lánh xanh biếc. Chung quanh nhà có nhiều cá tôm nhởn nhơ bơi lội.

Cô gái dắt chàng tới chỗ cha mình đang rền rĩ đau đớn. Á La ngạc nhiên trông thấy lưỡi câu của mình mắc ngang họng ông cụ. Chàng lấy tay ngỡ ra nhưng ngỡ mãi không được. Đột nhiên hòn đá năm màu trong túi chàng cựa quậy. Chợt nhớ ra Á La lấy hòn đá kỳ lạ gọt một ít cho Khoàng Tý uống. Lưỡi câu tự rơi ra một cách dễ dàng. Khoàng Tý khỏi đau. Mọi người đến chúc mừng. Lúc đó vợ Khoàng Tý mới ân cần bảo Á La:

-          Con thật là người tốt bụng! Con đã chữa cho ta khỏi bướu ở cổ, giờ lại cứu chồng ta khỏi cơn đau. Ta biết ơn con nhiều.

Nghe nói Á La mới biết bà là cây ló mì mọc ven suối. Á La phá tổ ong trên cành ló mì lấy mật ăn nên cái bướu của bà khỏi hẳn.

Á La sống sung sướng nhiều ngày dưới long cung. Tuy vậy bụng Á La vẫn chất đầy nỗi nhớ núi nhớ rừng. Chàng xin về, Khoàng Tý tạ ơn Á La nào vàng nào bạc, nhưng chàng không lấy gì hết. Nghe lời cô gái dặn, Á La chỉ xin con gà đen ở trong lồng đặt cạnh bếp lửa. Khoàng Tý ưng bụng trao lồng gà cho Á La. Lên khỏi mặt nước chàng không thấy gà đen đâu cả. Á La đang ngơ ngác thì cô gái đến gần, cầm tay chàng nói:

-          Chính em là gà đen đây, từ giờ em thành vợ của chàng rồi.

Á La không nghe từ chối:

-          Tôi là người nghèo không nhà không cửa, làm sao lấy vợ đẹp được.

Cô gái an ủi:

-          Chàng không lo! Cha mẹ em đã ưng bụng rồi! Ta sẽ có nhà cửa, thóc gạo mà.

Hai vợ chồng tới một khi rừng hẻo lánh giữa rừng sinh sống. Nơi đây không bóng người qua lại nhưng cảnh đẹp tuyệt vời. Có chim hót, có suối trong, có hoa thơm trái ngọt. Vợ Á La hỏi chàng, nghe như có tiếng nước chảy suối reo:

-          Bụng chàng có ưng dựng nhà ở đây không?

Á La băn khoăn:

-          Bụng có ưng nhưng làm sao dựng nổi.

Vợ Á La lựa lời nói ngọt ngào:

-          Chàng ơi! Bụng chàng đã ưng thì nhà cửa sẽ có thôi! Giờ chàng đi lấy dây rừng chăng đi, làm nhà to bao nhiêu cũng được mà.

Á La chỉ chăng một cái nhà nho nhỏ và một chuồng gia súc con con. Chàng nghĩ bụng nhà mình ít người cần gì làm to và nhiều.

Hôm đó tự nhiên trời mưa to, sấm chớp ầm ầm, sáng hôm sau hai vợ chồng trở dậy thì thấy một ngôi nhà nhỏ xinh xắn và một cái chuồng gia súc con con hiện ra giữa chốn bung rừng. Từ đó hai vợ chồng sống đầy đủ yên vui.

Nhưng một hôm vợ Á La bảo chồng:

-          Vợ chồng mình không làm gì cả nên chỉ sống sung sướng được một thời gian nữa thôi! Muốn lúc nào cũng có cái ăn thì chàng phải đi phát nương, dọn cỏ, chọc lỗ để bỏ thóc, bỏ hành. Rồi của cải sẽ như nước nguồn thôi mà!

Nghe lời vợ, ngày nào Á La cũng ra nương trồng cấy. Đến ngày thứ ba Á La  nhớ vợ quá bỏ về. Vợ Á La phải tự vẽ hình mình cho chàng mang theo. Á La treo ngay lên đầu nương để lúc nào cũng được ngắm cho vơi cơn nhớ. Nhờ bức hình của vợ, Á La làm được nhiều nương, trồng được nhiều lúa, hành.

Một hôm Á La đang mải mê cày thì có một con quạ sà xuống cắp mất tấm hình đi. Chân tay Á La rời rã, buồn bã. Chàng quay về bảo vợ vẽ cho cái khác. Con quạ bay qua nhà Khoàng Tý mường nọ. Mỏi quá nó đánh rơi bức hình người đẹp xuống. Bọn lình thấy hình một cô gái đẹp vộ tranh nhau nhặt lấy dâng lên Khoàng Tý. Khoàng Tý ngây ngất ngắm mãi không biết chán. Vốn hám sắc và chuộng người tài, Khoàng Tý đích thân cưỡi ngựa đi tìm người đẹp trong tranh.

Khi qua nương Á La, thấy chàng đang cày, Khoàng Tý dừng lại hỏi:

-          Mày có biết hôm nay mày cày được bao nhiêu đường không?

Á La lúng túng không nói được nửa lời. Khoàng Tý thất vọng lên ngựa đi luôn. Chiều về, Á La kể lại cho vợ hay. Vợ Á La cười bảo:

-          Ngày mai nếu gặp người đó đi qua chàng nhớ hỏi xem ngựa của người đó đi được bao nhiêu bước mỗi ngày.

Hôm sau Á La lại lên nương sớm. Quả nhiên lại gặp người hôm trước qua nương mình. Á La cất tiếng hỏi:

-          Thế mày có biết ngựa mày hôm nay đi được bao nhiêu bước không?

Khoàng Tý không trả lời mừng rỡ theo Á La về nhà. Gặp vợ Á La, Khoàng Tý đâm ngây ngất trước sắc đẹp của nàng. Hắn lên tiếng hỏi:

-          Chân tao đến đây có vào nhà hay không vào nhà?

Vợ Á La tất tả vào nhà cầm ghế ra hỏi lại:

-          Tay tôi cầm ghế này có mời người ngồi hay không mời người ngồi?

Biết đúng đây là người tài giỏi đã vẽ nên bức tranh tuyệt diệu kia và là người đã nghĩ ra những cây hỏi và câu trả lời thông minh, Khoàng Tý lên ngựa ra về. Khi Khoàng Tý đã đi khuất, vợ Á La dặn chồng:

-          Ngày mai thế nào người này cũng đến bắt em. Xa em chàng đừng khóc nhiều. Em sẽ vẽ cho chàng một bức tranh khác. Chàng nhớ đúng ba sáng mới được mở ra xem.

Ngày hôm sau Khoàng Tý đem theo lính đến bắt vợ Á La. Á La đau lòng chia tay vợ. Khi con chim chưa kịp bay qua ba ngọn núi, nhớ vợ quá Á La bèn giở bức hình ra ngắm. Trên đường đi vợ Á La giật mình nói với Khoàng Tý:

-          Tôi quên một giống cải quý ở nhà. Cho tôi quay về mang hạt đi gieo.

Trông thấy vợ từ xa bụng Á La đã mừng nhiều. Đến gần vợ Á La nói:

-          Bụng chàng nhớ em nên không giữ đúng hẹn. Ba sáng nữa em không thể về với chàng được. Lần này chàng phải đi kiếm đủ một bộ quần áo lông thú sau bà lần trăng lên chàng cứ theo đường cải mọc mà tìm đến chỗ em.

Á La nghe theo lời vợ vào rừng săn thú lấy da làm quần áo. Khi đã làm đủ bộ quần áo lông thú thì cũng vừa ba tuần trăng mọc. Á La mặc quần áo lông thú và gánh hành đi theo vết cải mọc. Khi không thấy cải mọc nữa, chàng vào một bản gần đó bán hành. Mọi người tranh nhau mau, Á La reo to:

-          Một củ hành của tôi đổi một nén bạc trắng.

Họ đều lắc đầu thè lưỡi:

-          Đắt thế chỉ có nhà Khoàng Tý mới mua nổi thôi.

Á La hớn hở như chim lạc bầy lâu ngày tìm thấy tổ. Chàng hỏi lấy hỏi để:

-          Thế nhà Khoàng Tý ở đâu? Cách đây có xa không?

Lũ làng chỉ hướng cho chàng. Á La vượt qua hai quả núi, hai con sông. Đến cổng nhà Khoàng Tý, Á La lại reo to:

-          Nào, có ai mua giống hành quý không?

Vợ Á La vui lòng bảo Khoàng Tý:

Tôi ưng mua giống hành ấy, Khoàng Tý cho mời người bán hành vào đây.

Gặp chồng, cô gái đẹp cười cười nói nói luôn miệng, khác trước kia cô suốt ngày chỉ ngồi ủ rũ không nói nửa lời. Khoàng Tý lại tưởng cô gái vui vẻ vì chàng trai kai mặc bộ quần áo lông thú lạ mắt. Hắn ta nằng nặc đòi mặc thử. Vợ Á La càng cười to hơn. Hắn ra mua, vào mua mong làm đẹp lòng cô gái. Thấy thú lạ, những con hổ của nhà Khoàng Tý tranh nhau phá cũi xổ ra. Chúng chồm tới xé xác Khoàng Tý.

Từ đó Á La lên ngôi Khoàng Tý. Bao nhiêu của cải, Á La chia đều cho dân làng cùng hưởng. Hai vợ chồng sống một cuộc đời hạnh phúc.

 

                                                                 Ghi theo lời kể của anh Pò Xì Giá

                                                                   Bản Mận Khun, Xã Mường Nhé,

                                                                         Mường Tè, Lai Châu