Chuyện về vực nước Xứ Che

Ngày ấy, ở bản nọ có một ông cụ phúc hậu sống qua hơn sáu mươi mùa rẫy. Tên cụ  là Xứ Che. Từ ngày mới lọt lòng, bó chẳng muốn, mẹ không mong, mà cánh tay phải của Xứ Che bị liệt. Nên lớn lên, tay Xứ Che không cầm được dao phát nương, được cuốc làm rẫy. Xứ Che phải đi buôn kiếm sống. Khác với những người sống bằng nghề buôn bán, Xứ Che thật hơn đếm, không bao giờ dựa vào sự sơ hở của kẻ mua, chỗ bí của người bán để kiếm chác lời lãi. Xứ Che bán với giá phải, mua với giá vừa. Vì thế Xứ Che vẫn nghèo túng, chẳng có bạc nén để làm lễ hỏi vợ, chẳng có trâu mổ làm lễ cưới nên mãi đến ngày già Xứ Che vẫn chưa có vợ. Nhà Xứ Che chỉ có một túp lều ọp ẹp như lều coi nương. Tuy vậy, với cái tính có gì ngon không chịu ăn một mình, có gì đẹp không muốn hưởng một mình, người già quý Xứ Che như anh em liền ruột, người trẻ thương Xứ Che như cha. Xứ Che không bao giờ thấy buồn khi đêm khuya con mang kêu, khi rừng xa con vượn hú, bởi vì bếp lửa nhà Xứ Che bao giờ cũng có người đến ngồi, sàn nhà đêm nào cũng có người đến nằm để vừa trông nom, vừa làm bạn. Vì đi đây đó nhiều nên cụ còn học được nhiều bài thuốc chữa bệnh. Bản gần xa, bản trên bản dưới, ai ốm cũng gọi cụ Xứ Che. Bện khỏi, ai mang gà mang gạo đến nhà để tạ ơn, cụ đều mang trả tận nhà.

Thường ngày, khi ông mặt trời nhô lên tận núi, chân cụ Xứ Che đã đặt đến giữa đường xuống chợ. Khi mặt trời sau một ngày lang thang mệt mỏi đang uể oải dừng chân trên đỉnh núi, cụ đã lại đến con suối rộng có cái vực sâu cách bản chừng một tiếng hú ngắn. Nhưng hôm nay, ông mặt trời đã mất hút sau đỉnh núi đằng tây, cụ Xứ Che vẫn đang bước thấp bước cao, đi về phía bản nọ. Chả là ở đó đang có nhiều người cùng ốm - người già người trẻ, ai cũng kêu lúc nóng như ai đốt lửa, lúc lạnh như ai dội nước, con mắt ai cũng vàng vàng đỏ đỏ. Cụ Xứ Che phải vào rừng nhiều thuốc. Cụ phải vào rừng sâu tìm mãi mới được đủ thuốc chữa được nhiều người. Cụ gùi cả một giù nặng. Hôm đó gùi cụ lạ có được một ít đồ buôn, cụ sợ đi đường vướng cây vường cành làm đổ mất lá, đi đường vấp đá làm đổ mất rễ, cụn nhét thuốc xuống dưới, để vải vóc, chỉ thêu vàng, chỉ thêu đỏ lên trên. Đường xa, gùi nặng, cụ Xứ Che mệt, chân trái bước chậm, chân phải bước lê. Đến con suối cụ dừng chân đặt gùi xuống thở - chợt cụ giật nẩy mình, ngực cụ như có ai đánh trống ở trong. Không biết từ ngách rừng nào xuất hiện hai tên cướp dữ tợn. Đầu chúng quấn vải đỏ, tay mỗi đứa lăm lăm một cung liàng. Thấy cụ về muộn, gùi nặng,đầy, vải xanh chỉ đỏ chỉ vàng óng ánh, chúng tưởng gùi nhiều của nên xông ra cướp. Một tên mặt đen như quỷ, mắt trắng hơn mắt lợn luộc sấn đến, kề cung liàng vào cổ cụ, dọa:

-          Ơ thằng già! Chúng tao đợi mày từ lâu. Cái chân đã mỏi. Bụng chúng tao không quen đợi. Hãy đưa ngay cái gùi kia cho ta. Nếu không đầu mày sẽ lăn xuống suối.

Cụ Xứ Che không tiếc vải. Thuốc này hiếm, dân bản xa nhiều người sắp chết đang cần thuốc. Nếu để chúng lấy mất gùi thuốc thì lấy gì cứu dân bản? Không thể để mất được, phải giữ lấy. Cụ lựa lời bảo bọn cướp:

-          Ơ lũ ác! Các người lấy vải và chỉ thêu. Còn để lại cho ta phần lá, phần dễ dưới đáy gùi, để ta mang về chữa bệnh cho người già và người trẻ.

Lũ cướp thấy cụ giữ đám rễ, đám lá, lại nghĩ là trong đó có bạc nén. Chúng nhất định xông vào giằng lấy. Cụ Xứ Che vội quăng vải xanh, chỉ đỏ, chỉ vàng cho chúng, rồi ôm cái gùi lá thuốc định chạy. Lũ cướp thấy vậy càng nghi trong gùi còn nhiều thứ quý, nên cố gia sức giằng lấy. Bọn chúng vừa đấm vừa đạp cụ ngã dúi dụi. Cụ Xứ Che vẫn ôm chặt gùi thuốc. Ba người xô đẩy giành giật nhau. Trong khi vô ý, ba người đã men dần đến mé suối. Cụ Xứ Che chẳng may ngã xuống vực, kéo theo cả hai tên cướp đang cố giằng cái gùi. Nước đang ngủ dưới vực sâu bỗng giật mình thức dậy, xoáy tròn ào ào xung quanh ba người. Cả ba bị chết dưới vực.

Cũng từ đấy, không hiểu vì sao, người gần đi qua, người xa đi tới, đều thấy vực sâu này trước kia nước rất lặng, mà nay bỗng có một cái xoáy tròn hun hút ở đó. Nước réo ào ào.

Người ta bảo rằng, oan hòn của cụ Xứ Che vẫn còn quần nhau với hồn hai tên cướp ở đáy vực để cố giữ lấy gùi thuốc quí mà tạo nên cái xoáy tròn đó. Và cũng từ đó người dân quanh vùng cũng quen gọi vực nước đó là vực Xứ Che. Tên đó truyền hết đời này tiếp đời khác đến tận ngày nay.

 

                                                                                   Ghi theo lời kể của

                                                                                      Ông  Lỳ Lé Po

                                                                                Bản Gò Cứ, Xã Mù Cả

                                                                                  Mường Tè, Lai Châu