Đà Lạt 110 năm tuổi

Đà Lạt từ lâu đã là một thành phố du lịch – nghỉ dưỡng nổi tiếng không chỉ ở Việt Nam và Đông Nam Á. Sao lại gọi là Đà Lạt? Có người giải thích: Đà Lạt viết tắt từ câu Dat alliis laetitium alliis temperriem (Cho người này niềm vui, người kia sự mát lành). Một cách lý giải khác xác thực hơn: Đà Lạt bắt nguồn từ Đạ Lạch (Đất của người Lạch). Đó là tên gọi của nhóm cư dân nhỏ thuộc tộc người K'Ho vốn là chủ nhân xưa kia của vùng đất này. Lạch, theo tiếng địa phương, nghĩa là rừng thưa, vùng rừng thông, đồi trọc trải dài từ dãy LangBian xuống Tây Nam là thành phố Đà Lạt ngày nay.

Tuy nhiên, trước khi có tên  gọi chính thức là Đà Lạt, trong nhiều thế kỷ, vùng cao nguyên Di Linh – LangBian đã được nhắc tới trong các thư tịch cổ như: Ô châu cận lục của Dương Văn An (thế kỷ XVI), Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII). Sau đó, nhà sử học Phan Huy Chú đã vẽ những ngọn núi và con sông  trên địa phận Đà Lạt ngày nay trong Đại Nam thống toàn đồ (1834).

Người Việt đầu tiên đặt chân lên mảnh đất này có lẽ là Nguyễn Thông – một nhà thơ, một chí sĩ yêu nước danh tiếng ở cuối thế kỷ XIX. Ông quê ở Long An, vào thời gian làm quan ở Huế, đã từng lên Nam Tây Nguyên khảo sát, rồi dâng sớ xin vưa Tự Đức lập đồn điền khai khẩn vùng Thượng du năm 1877. Ông đã đặt chân đến khu vực Đà Lạt, và đã để lại nhiều vần thơ chân thật, xúc động.

Hầu như mọi người thừa nhận công lao hàng đầu cho sự ra đời thật sự của thành phố có một không hai này thuộc về nhà bác học gốc Thụy Sỹ mang quốc tịch Pháp Alexaudre Yersin (1863 - 1943). Ngày 21-6-1893, Đoàn thám hiểm do ông đẫn đầu đến thác Prenn và tiếp đó đặt chân lên cao nguyên LangBian. Sau này, ông nhớ lại: Vừa ra khỏi rừng thông, ấn tượng của tôi thật sâu sắc khi đứng trước một vùng cao nguyên mênh mông, hoang vắng và trơ trụi, gợi nhớ lại cảnh biển dộng vì một đợt sóng khổng lồ màu xanh dâng lên. Núi LangBian sừng sững ở chân trời phía Tây Bắc cao nguyên, làm tăng thêm vẻ đẹp cua cảnh quan và tạo nên một hậu cảnh tuyệt mỹ.

Trước Chiến tranh Thế giới lần thứ I có thể coi là thời kỳ thai nghén của thành phố Đà Lạt tương lai. Năm 1897, Paul Doumer giữa chức Toàn quyền Đông Dương. Nhân một chuyến thăm những trạm nghĩ dưỡng ở Ấn Độ, viên Toàn quyền bắt đầu quan tâm đến việc tìm kiếm những nơi nghỉ ngơi như thế cho người da trắng ở Đông Dương. Phúc đáp lá thư  riêng của viên Toàn quyền, A. Yersin đã đề xuất chọn Đà Lạt – Đăng Kia. Sau đó là những cuộc khảo sát xây dựng đường sá nối Nha Trang và Sài Gòn với vùng đất mới. Ngày 1-11-1899, P.Doumer ký Nghị định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng với hai Trạm hành chính ở Tánh Linh và LangBian. Có thể xem đây là văn kiện chính thức thành lập Trạm điều dưỡng trên cao nguyên – tiền thân của thành phố Đà Lạt sau này.

Chiến tranh Thế giới lần thứ I bùng nổ. Vì không thề về quê nghỉ phép, làn sóng người Âu đổ xô lên Đà Lạt. Họ muốn đến một vùng khí hậu mát lạnh, gợi nhớ đến quê hương. Đường sá lúc này đã khá thuận tiện, chỉ tiếc là cơ sở vật chất còn sơ khai. Nhà cầm quyền đã quyết định đánh thức tiềm năng của Đà Lạt. Khách sạn Palace được xây cất (1916 - 1922); ngăn đập xây hồ trên dòng Cam Ly; xây dựng Nhà máy điện (1918), Nhà máy nước, Nhà bưu điện, Kho bạc, các trường học (1920)… Đặc biệt, một đồ án thiết kế thị xã được kiến trúc sư  He’brard hoàn thành năm 1923 với ý đồ biến Đà Lạt thành Thủ phủ Đông Dương.

1927 – 1939 là thời kỳ Đà Lạt được chỉnh trang, nâng cấp. Cơ sở hạ tầng đã gần như đầy đủ. Giao thông đường bộ nối Đà Lạt với Sài Gòn, Phan Rang, Phan Thiết được hoàn tất. Năm 1932, tuyến đường sắt răng cưa độc nhất vô nhị ở Đông Dương là Phan Rang – Đà Lạt được khai trương. Năm 1937, khai thông con đường nối Đồng Nai Thượng với Đắc lắk. Năm 1938, xây dựng xong Ga Đà Lạt. Năm 1939, Trường Thiếu sinh quân được thành lập trên địa phận Trường Đại học Đà Lạt ngày nay. Nhiều biệt thự xinh đẹp mọc lên trên các đường Hoa lay ơn, Hoa hồng… Dân số Đà Lạt tăng nhanh. Nếu năm 1926 mới có 1500 người, thì năm 1939 tăng lên 11500 người. Đà Lạt trong những năm này thật sự phát triển. Nhu cầu xây dựng Thủ phủ Đông Dương bị chìm đi, nhưng nhu cầu du lịch, nghỉ dưỡng tăng nhanh. Càng ngày người ta càng phát hiện ra những ưu thế nổi trội của Đà Lạt về cảnh quan và khí hậu. Đà Lạt đã có thể xứng đáng gọi là Thành phố trên cao (Ville d’altitude).

Từ 1940 – 1945, Đà Lạt thật sự trở thành Thủ đô mùa hè. Hầu như không ai không nhận thấy ưu thế hiếm có của vùng đất trời cho này. Ngay sau khi nhậm chức vào năm 1940, Toàn quyền Decoux đã bắt tay xây dựng ý tưởng của các vị tiền nhiệm là biến Đà Lạt thành một trung tâm hành chính. Ông giao cho kiến trúc sư Lagisquet, Trưởng phòng Kiến trúc và Quy hoạch đô thị, thiết lập Đồ án chỉnh trang và mở rộng Đà Lạt. Tháng 3-1943, Đồ án được Toàn quyền chấp thuận và cho triển khai. Tốc độ phát triển đô thị cao nhất so với trước đây. Chỉ trong vòng 5 năm, 500 biệt thự được xây cất, bằng số biệt thự xây trong 30 năm trước. Dinh Decoux và Nhà máy thuỷ điện Ankroet… là những công trình tiêu biểu cho thời kỳ này. Dân số Đà Lạt tăng vọt, lên tới 25000 người vào năm 1944. Hàng năm, viên Toàn quyền làm việc ở đây đến 6 tháng.

Như vậy, sau gần 30 năm xây dựng, vào năm 1944, Đà Lạt trở thành một thành phố tuyệt đẹp của vùng Viễn Đông lúc bấy giờ, thực sự là Thủ đô của toàn cõi Đông Dương khi viên Toàn quyền và các công sở quan trọng của bộ máy cai trị thực dân đều chuyển lên làm việc tại đây. Chính phủ Nam Triều cũng thiết lập ở Đà Lạt một quy chế đặc biệt gọi là Hoàng Triều cương thổ. Những năm sau đó, nhất là từ ngày được hoàn toàn giải phóng, 3-4-1975, thành phố Đà Lạt đã thật sự dựa hẳn vào những tiềm năng thiên nhiên, cảnh quan đặc sắc, khí hậu ôn hòa, vươn mình nhìn ra biển Đông, hướng thẳng tới tương lai… Đây là điểm hẹn đáng tin cậy của các du khách, các nhà đầu tư trong và ngoài nước.