Sáng Tác Văn Chương‎ > ‎Văn‎ > ‎

Vài mẩu chuyện về cuộc đời Nhà giáo Trần Văn Thông

                                                                 Những kỷ niệm với trường Mê Linh

            Đến nay, tôi đã bước vào tuổi 84, qua khá lâu rồi cái ngưỡng “cổ lai hy”. Ở vào tuổi tôi, trầm tĩnh nhìn lại bao buồn vui, sướng khổ mà đời người đã trải qua, đôi khi tôi cứ tự hỏi, không biết sức mạnh thiêng liêng nào đã giúp tôi vượt qua những thử thách tưởng chừng như quá sức trần tục của thân xác mình. Một trong những thử thách sống còn ấy gắn liền với trường Mê Linh, ngôi trường mà tôi có trách nhiệm điều hành.

Nhớ tới những kỷ niệm ở trường Mê Linh, một trong những trường tư thục ở thành phố Huế, tôi không sao quên được những gì đã xảy ra trong quan hệ giữa tôi với cố vấn N. Đ. C và Đức Tổng Giám Mục N. Đ. T. Thật vậy, trong những bước đầu, trường Mê Linh bấy giờ hình thành do sáng kiến của Hội Bắc Kỳ Ái Hữu và ông cố vấn N. Đ. C.

Vì những bước đầu không mấy suông sẻ, Hội Bắc Kỳ Ái Hữu đã lĩnh hội ý kiến của ông cố vấn và mời tôi đảm nhận công việc của Trường Mê Linh. Khi ấy cố vấn N. Đ. C cai quản toàn bộ dải đất miền Trung, uy lực lớn vô cùng. Ai làm chức gì trong bộ máy dân sự cũng như an ninh và quân sự, dù lớn hay nhỏ, cũng đều do ông định đoạt hết thảy. Mọi quan chức, kể cả quan chức cao cấp trong quân đội và hành chính đều phải e dè sợ sệt ông – Uy danh của ông làm khiếp đảm bao nhiêu người. Tôi nhớ một lần, khi ấy đang dạy trường Thiên Hữu (Collège de la Providence) ở Huế, đại úy Nguyễn V., một trong những cánh tay mặt của ông cố vấn đến gặp tôi. Anh ta bảo ông cố vấn có chuyện muốn nói với tôi. Rất ngạc nhiên, tôi hỏi:

- Về việc gì vậy, thưa Đại úy?

- Ông cố vấn muốn thầy làm hiệu trưởng trường Mê Linh. Trường sẽ được mở theo sáng kiến của Hội Bắc Kỳ Ái Hữu và sự giúp đỡ của chính ông cố vấn.

Không cần nghĩ gì nhiều, tôi nói ngay:

- Thưa Đại úy, công việc dạy dỗ của tôi hiện rất bề bộn, đã chiếm hết thời gian của tôi rồi. Có lẽ tôi không thể giúp ông cố vấn được. Tính tôi, chắc Đại úy cũng biết rõ, đã nhận làm việc gì thì bao giờ cũng làm đến nơi, đến chốn. Tôi không muốn người khác quở trách mình vì không hoàn thành chức năng được giao phó.

Im lặng một lát, Đại úy Nguyễn V. nói với ông:

- Vậy xin thầy nhận làm giám đốc trường được không?

Cho rằng cương vị giám đốc chủ yếu điều hành công việc chuyên môn, nên cuối cùng tôi nhận lời. Trường Mê Linh có từ đó. Cương vị hiệu trưởng do người khác đảm nhận. Tôi chua chát nghĩ: Ông cố vấn muốn làm gì chả được ở cái khu vực miền Trung này! Theo quy chế lúc bấy giờ, các trường tư thục, hiệu trưởng là người đại diện bên ngoài. Vấn đề chuyên môn, đường lối giáo dục, công việc hành chính, nói chung mọi sinh hoạt của trường đều thuộc quyền hạn của giám đốc.

Cũng từ đó, 33 giáo sư do chính tôi đề nghị đã được chọn để cùng chung lòng, dốc sức xây dựng nhà trường. Việc giảng dạy và giáo dục tiến triển trông thấy. Uy tín của trường ngày một nâng cao. Tuy nhiên, tôi cũng từng chịu những sức ép mà đôi khi bản thân tôi cũng không lường hết cho được. Tôi còn nhớ, vào một buổi trưa, vừa đi dạy về, thì thấy một phụ nữ trạc 35 tuổi, ăn mặc chỉnh tề, ngồi đợi tôi ở phòng khách. Thấy tôi, cô gái đứng dậy lễ phép chào.

- Cô có việc gì?

Cô ta có vẻ lúng túng, hồi lâu không nói nên lời.

- Thầy không có nhiều thì giờ đâu! Ăn cơm xong nghỉ một lát, một rưỡi thầy lại lên lớp rồi.

- Hay để đến mai, thưa thầy? – Cô gái nói lí nhí ra vẻ ngần ngại.

- Mai cũng như hôm nay thôi! Thầy ít thời giờ rỗi lắm, cần gì cô hãy nói đi!

Ngừng một lát, chừng như để tập trung toàn bộ can đảm và nghị lực, cô gái lên tiếng:

- Con muốn rút hồ sơ, thưa thầy.

- Ồ, việc ấy có gì khó nào! Sao cô phải đắn đo hoài làm gì! Vậy cô đang học lớp nào?

- Dạ, đệ tứ, thưa thầy.

- Đệ tứ năm nào?

- Dạ... (đến đây cô gái tỏ ra khó nói thật sự).

- Cô nói đi - Tôi thành thật khích lệ. Chỉ cần biết cô học khóa nào là tôi có thể cho người tìm ngay hồ sơ cho cô. Công việc chỉ vài phút là xong ngay thôi!

- Thưa thầy... Con không học lớp nào cả thầy ạ.

- Không học lớp nào? Sao cô lại xin rút hồ sơ?

- Dạ... Có người muốn...

Ông sững người nhìn cô gái như không tin ở tai mình nữa.

- Ai bảo lãnh cho cô? Sao có thể bảo lãnh một việc phi lý, phi đạo đức như vậy?

Hỏi xong, ông thấy mình hớ quá. Hóa ra dọn đường cho hươu chạy mà không hay. Cuộc đời có những giây phút như vậy. Lòng chân thực lắm khi cũng làm cho mình vướng phải nhiều khó khăn. Không ít kẻ cố tình lợi dụng. Trường hợp cô học sinh “ma” này, có lẽ dựa vào quyền lực của kẻ khác để lợi dụng mình, để mua chuộc mình chăng?

- Ông cố vấn, thưa thầy.

Chết thật, tôi đâu có ngờ! Tưởng người khác hoặc ý đồ gì khác thì tôi sẽ gắng thuyết phục để họ hiểu điều sai trái. Nhưng là ông cố vấn thì khó đây...! Ở đời, con người sống phải có bản lãnh, phải được tự do và tự chủ, không thể vì một lý do nào mà đi lệch ra khỏi con đường mình đã chọn lựa, huống nữa là một người mang danh là kỹ sư tâm hồn. Tuy thế, mọi hoàn cảnh luôn đòi hỏi sự khéo léo trong cách ứng xử. Tôi thăm dò:

- Này cồ, uy tín ông cố vấn lớn lắm đấy, cô biết không? (Ý tôi muốn nói: Đừng lợi dụng tên tuổi của bất kỳ ai cả!).

Người phụ nữ gật đầu.

- Nếu đúng vậy thì cô phải về trình với ông cố vấn, chứng minh điều đó bằng giấy tờ minh bạch thì tôi sẽ cấp cho cô theo luật trừ, bởi lẽ không có nguyên tắc nào mà không có ngoại lệ.

Linh cảm mách bảo tôi là người phụ nữ nói thật. Và người lúng túng bây giờ lại là tôi. Chắc cố vấn cho tôi là một người thầy nhân ái hay thương người nên có thể dùng tình cảm để lay chuyển tôi nhằm mục đích riêng gì đó chăng? Cũng có thể đây là cơ hội thử thách tôi, thử thách tính nguyên tắc của một nhà sư phạm. Cuộc đời thường xảy ra những tình huống éo le như vậy. Con người bị điều kiện hóa bởi nhiều nhân tố xã hội đa tạp lắm. Thế rồi, tôi lên tiếng kết thúc câu chuyện chẳng lấy gì làm dễ chịu này:

- Thôi được, ngày mai cô đem theo thư của ông cố vấn cùng danh thiếp đến gặp tôi.

- Ngài cố vấn bận lắm, thưa thầy – Người phụ nữ phân trần.

- Vậy mai cô tới nghe!

Ngày hôm sau, người phụ nữ đến, vẫn không có giấy tờ gì... Tôi nghĩ chắc ông cố vấn cũng ngại. Giấy trăng mực đen có phải trò chơi đâu. Có lẽ ông ấy vẫn e “quan trên trông xuống, người ta trông vào” đấy thôi. Ngày hôm sau, cô gái thành thật nói:

- Ông cố vấn có chỉ thị ông N. T. (N. T. là nhân vật nắm mọi quyền hành tại tỉnh đường ở Huế) thay mặt ông cố vấn chứng thực. Thưa thầy, liệu như thế có được không ạ?

- Được thôi, sáng mai hãy nói với ông N. T. tới đây vào lúc 10 giờ làm thủ tục nhận hồ sơ. Chậm hai ngày không gặp được thầy nữa. Thầy vào Sài Gòn họp giáo dục không biết bao giờ mới trở về.

Hôm sau ông N. T. đến làm đúng theo yêu cầu của tôi, và tôi đã là một chứng chỉ cho cô ta chứ không có học bạ.

Công việc sắp đặt vậy là ổn thỏa. Nghe đâu mấy tháng sau, trong một cuộc họp với các quan chức đứng đầu các tỉnh miền Trung, ông cố vấn có nói:

- Làm việc như các ông là không được đâu, phải học thầy Thông ấy, vừa đức độ, vừa nguyên tắc. Có thế công việc mới chạy.

Vâng, uy tín của tôi với học sinh, với dân chúng trong vùng và nhất là với ông cố vấn có tăng lên. Không ngờ đó lại là nguyên do của nhiều nguy cơ giáng xuống đầu tôi sau đó. Một triết gia phương Đông nói rất đúng rằng: Được chớ lấy làm mừng, mất chớ lấy để làm lo. Đó là phẩm chất của những kẻ sáng suốt ở đời. Tôi nghĩ thế là bởi độ hai năm sau, cùng với tiếng tăm nổi như cồn ở trường Mê Linh, một sự kiện lớn lao hơn nhiều đã xảy ra với tôi. Lần đầu tiên tôi giáp mặt (và cũng có thể nói là giáp chiến) với Đức Tổng Giám mục N. Đ. T. Chẳng là uy tín của trường tôi chắc đã đến tai Ngài. Có thể vì thế mà Ngài muốn đặt trường Mê Linh dưới sự bảo trợ trực tiếp về mọi mặt, để tiện cai quản chăng? Hôm ấy vào buổi chiều, tôi đang kiểm tra lại lần cuối mọi việc cho niên khóa mới, thì đại úy V. đến gặp tôi. Chắc là có chuyện gì hệ trọng đây, vì đại úy là mắt xích chính trong chuỗi liên lạc của ông cố vấn với thế giới bên ngoài.

- Xin mời thầy lên gặp Đức Tổng Giám mục.

Thôi chết! Chắc phải là chuyện ghê gớm tày đình đây. Đức Tổng Giám Mục ít khi trực tiếp gặp ai. Gặp mình ư? Có chuyện gì liên quan đến trường Mê Linh không?

- Thưa đại úy, ông có thể cho tôi biết trước Tổng Giám mục gặp tôi vì chuyện gì vậy?

- Xin thầy lên sẽ rõ.

Phải lập kế hoãn binh để chuẩn bị tư tưởng. Vì vậy tôi lên tiếng ngay:

- Trình diện Tổng Giám mục mà tôi ăn mặc thế này sao tiện. Xin đại úy để tôi về chuẩn bị cho tề chỉnh. Khoảng 5, 6 giờ tôi sẽ tới vậy.

Thấy tôi nói có lý, viên đại úy bảo tôi ngồi chờ. Ông ta phóng xe như bay ra khỏi cổng trường rồi một lạt sau trở lại bảo rằng, Đức Tổng Giám mục đã chấp thuận.

Trên đường về nhà, tôi bâng khuâng nghĩ về mục đích của cuộc gặp gỡ hệ trọng sắp tới, và nghĩ nhiều phương cách đối phó với các tình huống có thể xảy ra. Có lẽ Đức Tổng Giám mục muốn trực tiếp nắm trường Mê Linh của chúng tôi. Đang ăn nên làm ra, lại được làm theo ý mình, giờ phải khép vào vòng cương tỏa. Ôi! chỉ nghĩ đến thế là cái con người khẳng khái trong tôi ngóc dậy, hành hạ, đày đọa, dằn vặt đến khổ sở. Trời sinh cái tánh ương ngạnh, ít khi chịu khuất phục ai, nhất là những trường hợp không có lý do chính đáng. Đức tính này có lẽ tôi chịu ảnh hưởng của cha mình. Sinh thời, nhất là lúc làm Bang Tá ở Phan Thiết, ông nổi tiếng là người khó vâng phục khi ông đã nắm lẽ phải trong tay. Và một khi nhận ra rằng làm như vậy là hợp lý, hợp tình thì ông cụ sẽ làm đến cùng, bất chấp tất cả. Người ta kể rằng khi còn làm quan ở Phan Thiết, tính ông đã rất ngang. Đường đường là người chỉ huy một cơ quan của Nam Triều, ông không chịu để bọn thực dân làm nhục. Có lần cần huy động cảnh binh để giải quyết một vụ lộn xộn nào đó ở mạn biển, tên đội Pháp tìm gặp yêu cầu cùng phối hợp, ông khẳng khái nói:

- Ông là ông đội, ông chỉ có thể làm việc với viên đội dưới quyền của tôi, tức là dưới quyền Nam Triều mà tôi đại diện ở đây; khi nào ông cảnh sát trưởng Pháp muốn làm việc với tôi, tôi sẽ bàn công việc.

Chuyện đó đến tai viên cảnh sát trưởng. Hắn nói: “Hãy cẩn trọng, ông ta là phần tử phản động đấy”. “Phản động” là để chỉ người Cộng sản, một thế lực đối nghịch mạnh nhất lúc bấy giờ. Cứ như thế ông cụ dần dần đối lập với bọn thực dân, ngay cả viên công sứ Pháp. Ngày tết, khi các quan chức Nam Triều gặp mặt mừng xuân, chúc tụng lẫn nhau xong liền kéo sang mừng thọ viên công sứ. Người ta kể rằng cha tôi thường xin tháo lui, nói thác là người không được khỏe. Nhưng ai cũng biết lý do sâu xa nằm trong sự bất mãn của ông với bộ máy cai trị của thực dân. Thù ghét ông nhưng chưa thể làm gì được vì gia đình tôi có vai vế trong triều, nhiều người ngay cả bọn thực dân cũng vị nể.

Phải, có lẽ dòng máu chảy trong tôi có pha chút ít dòng máu của cha tôi, người mà tôi rất kính yêu và quý trọng... Nếu quả Đức Tổng Giám mục có ý định chiếm trường Mê Linh thì sẽ phải tính sao đây? Những lời phân giải cứ dần hiện lên trong óc tôi. Phải thuyết phục mình mới mong thuyết phục người. Tôi cố gắng tập trung suy nghĩ và tự nhiên thấy minh mẫn lạ thường. Chưa bao giờ tôi tin vào trí tuệ của bản thân đến thế. Không thể thất bại, nếu quả Đức Tổng Giám mục có ý giành lấy ngôi trường của chúng tôi. Triền miên trong suy tư, tôi bình tĩnh đợi chờ. Đúng 6 giờ chiều, đại úy N. V. đến đón. Vừa đến nơi, tôi vô cùng sửng sốt khi bước vào tòa nhà rộng có cảnh vệ bồng súng hai bên hành lang. Tôi được đưa vào một căn phòng sang trọng nơi Đức Tổng Giám mục đang ngồi trước mặt bàn rộng, chăm chú đọc một quyển sách. Có lẽ là kinh chiều. Thấy tôi đến, Đức Tổng Giám mục bỏ sách xuống bàn, đứng dậy tươi cười chào:

- Ồ, thầy Thông! Ta nghe nói nhiều về thầy từ lâu, nay mới được gặp mặt thầy!

Tôi vừa ngồi xuống chiếc ghế đối diện thì Đức Tổng Giám mục chủ động hỏi ngay:

- À này, đã có khi nào thầy học ta chưa nhỉ?

Tôi biết cuộc khẩu chiến đã bắt đầu, Ngài có ý định đánh vào tình cảm của tôi đây. Nghĩa thầy trò một người như ông sao dám xem thường. Sự thật là giữa ông và Đức Tổng Giám mục không hề có mối liên hệ này. Nhưng phải giải thích sao đây? Phải nói “không” bằng cách nào đây? Ông nắm hai tay lại, mặt có vẻ khổ não, đáp lời:

- Dạ thưa Đức Cha, những người cùng lứa tuổi con là những bạn thân của con có may mắn hết sức vì đã được học với Đức Tổng Giám mục, được Ngài trực tiếp chăn dắt và dạy bảo. Riêng con đã không được vậy; bởi thế đó chính là vết đau trong lòng lâu ngày tưởng đã lành lặn. Không ngờ câu hỏi của Đức Cha đã khơi lại nỗi đau cũ trong lòng con.

- Thế hả? Nếu vậy, ta thành thật xin lỗi thầy. Đó chỉ là vô tình thôi, thầy có đồng ý với ta chăng?

Tôi gật đầu tỏ ý tán thành.

- À, này thầy Thông! Thầy có nghe nói tới phong trào Công giáo tiến hành không hè? Mà ở trường Mê Linh có tổ chức này chứ?

Tôi  biết Đức Cha đang trách cứ, là một người yêu Đạo kính Chúa lại để cho nhà trường mình đang điều hành thờ ơ với phong trào đó sao? Ông đọc được những gì nằm sâu trong câu hỏi không biết dụng ý hay vô tình của Đức Cha.

- Thưa Đức Cha, con biết tổ chức ấy từ lâu. Con thiết nghĩ phong trào nào do giáo hội tiến hành cũng đều nằm tới mục đích duy nhất là dẫn dắt mọi người đến với Chúa. Trong trường con các thầy phần đông theo đạo Phật và các đạo khác... (Ông không muốn nói đến Cộng sản). Mấy năm qua, cũng do ảnh hưởng tốt của tổ chức trong trường, được hai người gia nhập đạo. Sắp tới, vài người nữa cũng muốn xin gia nhập phép Bí tích rửa tội.

- Ta đâu có ý trách thầy. Ta biết trường thầy làm nhiều việc tốt lắm, nhưng không rõ thầy có muốn trường tiến xa hơn nữa không?

Tôi im lặng chừng hai phút. Điều mình dự tính trước đang tới gần. Tôi ý thức sâu sắc là mình đang đứng trước khúc rẽ, chắc sẽ rất cam go.

- Sao thầy không trả lời, thầy Thông?

- Thưa Đức Cha, con đang lắng nghe Cha nói đây ạ.

- Ta hỏi thầy có muốn trường Mê Linh thăng tiến không, ta sẽ giúp!

Vậy là con bài đã lật ngửa. Không để ông chờ đợi lâu, Đức Tổng Giám Mục giải thích:

- Hiện ở Đà Lạt có 8 giáo sư, trong đó có 2 tiến sĩ thần học, 3 tiến sĩ khoa học, còn lại là cử nhân. Nếu thầy chấp thuận thì ngày mai ta sẽ phái họ tới. Ý thầy ra sao?

- Thưa Đức Cha, nếu ngay từ đầu, Đức Cha có ý cai quản trường Mê Linh, Đức Cha chỉ cần nói một tiếng là dầu muốn, dầu không con dâng hiến ngay. Còn bây giờ, Đức Cha hỏi con có muốn hay không thì con xin thưa là không. Với Đức Cha, con xin thành thật vì con không thể nói những gì khác lòng mình.

- Tại sao thế, thầy Thông?

- Thưa Đức Cha, là một giám đốc điều hành, con chỉ được phép thực thi những gì mà giáo sư trong trường mong muốn. Điều Đức Cha vừa đề xuất con chắc là sẽ không được họ hoàn toàn tán đồng. Ba mươi giáo sư mà ý hướng chỉ là một, khó lắm thưa Đức Cha. Điều này thì Đức Cha biết rõ hơn con!

Đức Tổng Giám mục trầm ngâm trong giây lát.

- Này thầy Thông, các thầy dạy ở trường Mê Linh có làm hợp đồng với trường không?

- Thưa Đức Cha, làm hợp đồng giữa các thầy và trường là một lề lối thông thường trong ngành giáo dục tư thục. Riêng khi các thầy đến trường Mê Linh thì mặc nhiên họ trở nên những người găn bó với nhà trường. Bởi vậy, ở giữa nhà trường và giáo sư chỉ có một thứ hợp đồng trong tâm hồn mà không có trên giấy trắng mực đen.

- À, thế cũng được thôi, cũng tốt đẹp thôi. À thầy Thông này! Thế thì thầy trả giáo sư tiền lương bao nhiêu một tháng?

- Có người cao, người thấp, người nhiều, người ít tùy thuộc vào số giờ dạy, thưa Đức Cha. Nhưng trung bình khoảng 5000 đồng một người một tháng.

- Vậy thầy tính được 33 người một tháng 5000 đồng, tổng số là bao nhiêu. Dù họ không dạy ta vẫn cung cấp đầy đủ trong một năm học có được không?

- Thế sẽ càng khó khăn hơn, thưa Đức Cha. Không làm, không dạy mà tháng tháng cứ lãnh tiền, lương tâm người thầy đâu cho phép! Con dám quả quyết là không một ai dám nhận đâu, thưa Đức Cha. Bởi thế các giáo sư đó không đến trường Mê Linh với một hợp đồng giấy trắng mực đen, nhưng với tất cả thiện chí và tinh thần giáo dục.

Có lẽ Đức Tổng Giám mục đã hiểu rõ là câu chuyện đang đi về đâu nên đứng dậy bắt tay tôi.

- Thôi được, giờ thì thầy về đi. Ta sẽ bàn với ông cố vấn thêm. Có gì mai ta sẽ tin cho thầy rõ.

Về tới nhà mà lòng dạ tôi cứ bồn chồn không yên. Sự thể rồi sẽ ra sao?

Sáng hôm sau, ông chờ, chờ mãi mà không thấy tin tức gì từ phủ cố vấn cả. Sốt ruột quá, ông đành đến tận nơi để hỏi. Gặp ông, Đại úy N. V. mới sực nhớ ra và nói với ông:

- Tối qua, Đức Tổng Giám mục và ông cố vấn bàn về chuyện của thầy đến khuya. Cuối cùng, ông cố vấn gọi tôi yêu cầu báo cáo cho thầy hay là mọi chuyện ở trường Mê Linh sẽ không có gì thay đổi. Đó là ý kiến của Đức Tổng Giám mục và của ông cố vấn.

Tôi nhớ lúc ra mắt thế giới ở điện Vatican, Đức Giáo hoàng hiện giờ chào mừng thế giới bằng ba từ ngắn gọn: Đừng sợ hãi. Câu nói trên có nghĩa là: Đừng sợ hãi khi làm cái tốt, thực hành cái phải, góp phần cho tiến bộ, cho sự sống của con người; đừng chạy theo những thứ “phù vân”; đừng tôn thờ tiềm bạc, danh vọng mà quên đi, bỏ đi nhân cách của con người. Cái chủ yếu đó phải chăng là lý tưởng sống như John F. Kennedy, Tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ đã nói đến?

 

                

                                                    Những kỷ niệm với trường Việt Hương

 

Trong cuộc đời nhà giáo, như bao người khác, tôi được hưởng nhiều vinh quang và hạnh phúc tinh thần (nếu không có chúng, chắc không ai có thể đeo đuổi nghề dạy học cho đến cuối đời!). Nhưng trong nghề đó,  cũng không thiếu những đắng cay, đau xót lẫn tủi nhục. Câu chuyện sau đây xảy ra ở trường Việt Hương là nơi mà một thời tôi có trách nhiệm điều hành.

Đối với tôi, Việt Hương là một cái tên thật đẹp và giàu ý nghĩa. Việt Hương là hương nước Việt – nghĩa là tinh hoa, tinh túy của nước Việt. Vâng, giáo dục theo tôi, là nhắm tới cái đích này, nó góp phần gìn giữ và phát triển quốc hồn, quốc túy. Sông Hương gắn với đất nước này làm một. Tự nhiên tôi nhớ tới câu nói của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, một người mà tôi luôn trọng về đức độ: Tình yêu nước là một trong những tình cảm thiêng liêng nhất, chân chính nhất, đúng đắn nhất đối với một con người. Giáo dục cần hướng cái đích đó. Tệ nhất là mất gốc, vì mất gốc chắc sẽ dẫn đến sai đường, lạc lối. Tôi rất quý trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người yêu nước nhất trong những người yêu nước. Theo tôi, chính ý thức dân tộc sâu đậm trong con người cụ đã làm con người và cuộc đời cụ có sức cảm hóa sâu rộng đến thế.

Tôi xin trở lại với trường Việt Hương của tôi. Khởi thủy, trường thuộc dòng Chúa cứu thế. Thiên Chúa giáo có nhiều dòng tu. Đó là những cộng đồng tu sĩ đi bằng những con đường khác nhau nhưng cùng hướng tới một mục đích là dẫn dắt con người tới với Thiên Chúa. Các dòng tu đặc biệt coi trọng phương pháp và môi trường giáo dục. Trường Việt Hương được thành lập không ngoài mục đích chung ấy: Dẫn dắt và củng cố đức tin của con người, nhất là tầng lớp thanh thiếu niên. Quy mô của trường ngày càng được mở rộng. Được sự chấp thuận của Đức Giám mục giáo phận Huế lúc bấy giờ và ông N. V. H. - giám đốc Học chánh Cao nguyên Trung phần, tôi được mời làm hiệu trưởng nhà trường. Tôi coi đây là một vinh dự lớn, bởi vì tôi là một tín đồ trung thành. Thậm chí tôi còn cảm thấy rất là hãnh diện về trọng  trách và nguyện hoạt động sao cho xứng với phương châm “đẹp đời, tốt đạo”. Tôi hăm hở bắt tay vào việc. Bước đầu là ổn định nề nếp, sắp xếp lớp học, tuyển chọn thầy dạy, sau là từng bước nâng cao chất lượng dạy và học. Khi ấy tôi có một người giúp việc rất lanh lợi tên là C. B. A. Anh ta được tôi giao cho chức Tổng giám thị, nghĩa là thay tôi cai quản hầu như toàn bộ công việc lớn nhỏ của nhà trường, từ việc sắp xếp giờ dạy học, tổ chức vui chơi ngoại khóa đến việc xây dựng cơ sở vật chất và tài chính thu chi. Cứ chủ nhật hàng tuần, tôi hội ý với người có trách nhiệm này. C. B. A. báo cáo với tôi tình hình công việc trong tuần, còn tôi thì soát xét lại từng việc và đề ra kế hoạch chính cho tuần tiếp theo. Phải nói là công việc nhà trường chủ yếu nhờ anh ta mà chạy đều đều, như một cỗ máy tốt, rất ít khi trục trặc. Tôi một phần vì bận bịu (ngoài việc quản lý và giảng dạy ở trường này, tôi còn được mời dạy ở một số trường khác). Vì cả tin nên càng ngày càng để anh ta tự tung tự tác mọi chuyện. Phải nhiều năm sau, tôi mới tự rút ra một bài học cho mình là sống cần phải tin người, nhưng chớ đặt niềm tin tuyệt đối vào một ai, cần có bảo hiểm tựa như một võ sư giỏi thường không truyền hết ngón nghề cho đệ tử vậy. Thế võ dự trữ (thường là thế hiểm) cần giữ lại để phòng thân. Bài học này tôi phải trả một giá quá đắt ngay tại trường Việt Hương. Xin được nhắc lại là tôi ủy thác quyền điều hành hầu như toàn bộ công việc của nhà trường cho C. B. A. – có lẽ anh ta cũng muốn vậy. Là một người tinh khôn, anh ta hiểu khá rõ mặt mạnh và mặt yếu của tôi. Phần tôi thì không hiểu rõ anh ta cho lắm – mưu mô quỷ quyệt của anh ta nhằm lấn lướt dần dà đến chỗ nắm quyền lãnh đạo thay tôi thì tôi càng không hay. Binh pháp xưa nói Biết mình, biết người, trăm trận trăm thắng. Rõ ràng trong cuộc chiến này, C. B. A. nắm phần ưu thắng – còn tôi như một người đi đường hăm hở nhưng không ngờ được chiếc hố sâu đang nằm ở phía trước mặt. C. B. A. có quan hệ khá rộng – thân sinh anh ta nguyên là một tỉnh trưởng. Có lẽ vì thế mà anh quen biết chính giới khá nhiều. Một lần anh gặp tôi chủ động đặt vấn đề:

- Thầy có biết ông T. D. không ạ?

- Ai chứ, T. Đ. Thì tôi biết. Có thời ông làm tỉnh trưởng.

- Ông ấy mới bị cách chức...

- Thế hả?

- Liệu ta có thể mời ông ta dạy sử địa được không, thưa thầy?

Môn này chỉ có 6-7 tiết một tuần. Hơn nữa, theo suy nghĩ của tôi, khi C. B. A. mà có ý mời chắc là đã có điều kiện xem xét kỹ càng lắm đây. Nghĩ vậy nên tôi đồng ý và ủy nhiệm cho anh ta thay mặt tôi chính thức mời. Ông T. Đ. đã vui lòng nhận lời và tuần tới là có thể lên lớp ngay được. Mọi chuyện tưởng như vậy là êm thấm, nào ngờ chừng hai tuần sau, C. B. A. hớt hải gặp tôi ở phòng làm việc:

- Chết rồi, thưa thầy! – Anh ta nói một cách khó khăn, tỏ ra cực kỳ xúc động.

- Chuyện gì xảy ra vậy? – Tôi cũng cồn cào không yên.

- Thầy biết không? Ông T. Đ. là đảng viên Đại Việt!

Câu sau cùng anh nói liền một hơi như sợ đứt quãng là không thể diễn đạt hết ý và vì vậy mà người nghe không hiểu nổi.  Nghe đến hai tiếng “Đại Việt” tôi đã cảm thấy ngay là công việc không ổn. Thú thật tôi biết rất rõ ràng là con người sống trong xã hội còn tồn tại những khuynh hướng tư tưởng khác nhau thì khó chú tâm vào công việc giáo dục – Vậy phải làm sao đây? Tôi thật lúng túng.

- Thôi việc này để lo sau. Điều cốt yếu là thầy cũng phải tán đồng là không thể tiếp tục mời ông ta dạy ở trường mình được nữa?

Tôi lập tức gật đầu. Vậy là “dựng” ông T. Đ. là anh ta, mà “phế” ông T. Đ. cũng dều do một tay anh ta làm cả. Sau này tôi mới rõ đó chỉ là ngón đầu tiên chứ chưa phải là ngón cuối cùng: Anh ta chủ tâm giáng vào uy tín giảng dạy của tôi. Ngón đòn kế theo sau đó không bao lâu, lần này thì tôi không hề lần ra vết tay thủ phạm. Anh ta ném đá giấu tay. Trường Việt Hương có chừng 400 học sinh trai và gái học chung nhau. Có lần Giám đốc Học chánh mời tôi lên. Tôi bình thản bước vào phòng ông và nghĩ chắc chỉ liên quan đến một vài việc về tính nghiêm khắc của tôi, nhưng sự thật rắc rối hơn tôi nghĩ. Ông H. điềm tĩnh rút từ ngăn kéo ra một tấm ảnh chụp chung một cặp trai gái đang ôm hôn nhau, phải nói là thật khó coi. Chính tôi cũng phải đỏ mặt lên vì mắc cỡ.

- Ông biết chúng học trường nào không? – Ông giám đốc nghiêm giọng hỏi.

- Dạ, tôi không được rõ! – Tôi thành thật trả lời.

- Ông hãy nhìn kỹ một lần nữa đi! Học sinh của trường ông đó!

Thì ra học sinh trường Việt Hương thật! Tình hình đồi bại đến mức này mà tôi không biết  ư? Chính tôi khi ấy cũng thấy mình thật sự có lỗi. Đó là kết quả của lối quản lý lỏng lẻo, vì quá đặt niềm tin vào một cá nhân. Trách nhiệm này trước hết thuộc về tôi, người giữ cương vị chính trong trường.

- Đức Giám Mục T. cũng đã biết, chính Ngài cũng không hài lòng – Vị giám đốc nói tiếp như bồi thêm một quả đấm nữa khiến tôi loạng choạng, gần như hết khả năng tự chủ.

Mãi sau này tôi mới biết kẻ chủ mưu là C. B. A. Anh ta giở thủ đoạn ghép hình. Hai học sinh trai gái không hề có quan hệ tình cảm, đã được ghép vào nhau tạo nên một tấm ảnh “nghệ thuật tinh vi” chứng minh sự xuống cấp đáng ghê sợ về mặt đạo đức của trường. Sao trên đời lại có lắm kẻ táng tận lương tâm đến thế! Vì quyền lợi cá nhân người ta có thể sử dụng bất cứ thủ đoạn nào, kể cả những thủ đoạn trơ trẽn nhất: “Cần bắt bằng được chuột, vậy thôi: Mèo đen hay mèo trắng không cần biết!”. Ngón đòn vừa mạnh vừa hiểm. Uy tín của tôi với trường rõ ràng đang bị đặt lên bàn cân. Tôi ý thức sâu sắc được điều đó. Tuy nhiên, đây chưa phải là cú đấm sau cùng, cú đấm quyết định. Địch thủ của tôi có lẽ đang chờ cơ hội hay nói đúng hơn là đang chủ động tạo ra cơ hội. Mà tôi thì buồn thay, nào có hay biết gì đâu! Ngay cả đối thủ của mình là ai tôi cũng không biết, nói gì đến phòng thủ.

Vào một đêm tôi đang ngủ say thì chợt giật mình thức giấc. Có tiếng gõ cửa mỗi lúc một gấp, mỗi lúc một mạnh. Tôi nhìn đồng hồ, quái lạ, mới 3 giờ sáng. Tôi lập cập bước tới phía cửa.

- Ai vậy? – Tôi hỏi.

- C. B. A. đây! Xin thầy mở cửa, có chuyện gấp lắm!

Nhận ra giọng nói của người quen, tôi mở cửa. C. B. A. run rẩy nắm lấy hai cánh tay tôi:

- Nguy quá thầy ơi, truyền đơn Cộng sản rải đầy trường. Sự thể rất nghiêm trọng, em xin ý kiến thầy.

Ý nghĩ vụt qua nhanh trong đầu: Thế là tan tành mây khói cái mộng ước xây trường Việt Hương mà mình đã nguyện phó thác đến cùng. Tôi biết mình đã bị đo ván, nằm sóng soài trên sàn đấu, không có cơ may ngóc đầu dậy nổi. Chính quyền lúc bấy giờ là một chính quyền thù địch với Cộng sản mà. Khi tôi tới trường thì mọi chuyện đúng như anh ta nói: ngoài sân, trong lớp, trên mặt bàn... la liệt truyền đơn chống chế độ Ngô Đình Diệm.

Sáng hôm sau, không cần đợi chỉ thị từ trên, tôi tự đến Văn phòng Học chánh để chịu trận. “Chứng cứ sờ sờ. Mọi lý lẽ biện hộ đều tỏ ra bất lực. Chỉ còn mỗi một việc là nhận lỗi. Cần sớm bàn giao công việc điều hành cho một ban giám hiệu mới để chỉnh đốn lại tình hình”. Cuối cùng thanh tra học chánh kết luận như vậy. Không hiểu sao, từ trong sâu thẳm của lòng mình, tôi thấy mình hoàn toàn vô tội. Ngay cả những người có nhiều thiện cảm với tôi cũng không có cớ hoài nghi. Song tôi chỉ là nạn nhân. Vả lại thể trạng tôi quá yếu, không đủ sức đề kháng,  vì thế vi trùng gây bệnh tha hồ mà hoành hành. Ôi! Ghê gớm thay cuộc xung đột Thiện – Ác. Phải chăng cuộc sống chẳng qua chỉ là những biểu hiện khác nhau của cuộc chiến này? Đáng buồn thay, không phải bao giờ cái Thiện cũng thắng thế, nhiều khi cái Ác giơ nanh múa vuốt mới gớm ghiếc làm sao! Nhưng trước sau tôi vẫn tin rằng sớm muộn cái Ác rồi cũng sẽ bị tiêu diệt, cái Thiện rồi cũng sẽ chiến thắng. Cuối cùng tôi đã lên tiếng yêu cầu:

- Sự thể nghiêm trọng ra sao thì quý vị hiện diện ở đây đều đã rõ. Tuy nhiên, tôi thiết nghĩ vận mệnh của một trường bao giờ cũng nằm trong tay toàn thể giáo sư và học sinh. Tôi chỉ xin quý vị chấp thuận đề nghị của tôi: tổ chức tham khảo ý kiến của giáo sư và học sinh toàn trường. Qua cuộc trưng cầu này, nếu quả chúng tôi không còn đủ được sự tín nhiệm để tiếp tục điều hành thì xin thượng cấp cử một ban giám hiệu mới.

Khi ấy mọi người thấy lời đề nghị có lý nên tán đồng. Sáng thứ hai, tôi đứng trước học sinh. Như mọi lần, cái nhìn của tôi vừa nghiêm khắc, vừa âu yếm:

- Các con yêu quý – Tôi xúc động nói – Những việc xảy ra gần đây ở trường ta thật đáng buồn. Thầy không muốn, và các con chắc cũng không muốn. Các con có lẽ cũng đồng ý với thầy là cần phải tự nghiêm khắc với những sai sót của mình, khẩn trương chấn chỉnh lại nề nếp của nhà trường, đưa trường Việt Hương của chúng ta tiến lên thêm một bước mới. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, cấp trên có ý định thay đổi người điều hành nhà trường. Thầy đã đề nghị cần tham khảo ý kiến của các con. Vì dẫu thế nào, các con cùng với các giáo sư là những người luôn gắn bó và hết lòng với nhà trường. Thầy quyết tâm đi khỏi trường, nhường lại cho ban giám đốc khác để tiếp tục lo việc giáo dục cho các con. Nếu các con tán đồng ý kiến thầy phải ra đi, thì các con đưa tay lên. Và nếu các con không đồng ý học lại trường cũ nữa, vì đã mang danh xấu tiếng thì các con đưa tay lên một lần nữa. Các con có thể xin rút học bạ không tiếp tục học nữa, hoặc xin chuyển qua trường khác, đó hoàn toàn là quyền tự do của các con.

Nói dứt câu, tôi chăm chú nhìn xuống phía dưới, những khuôn mặt thân quen, không ít lần tôi phải to tiếng với trò này, trò kia khi các em tỏ ra lười nhác hoặc vô kỷ luật. Vậy mà sao tôi nhận thấy các em đã không ghét bỏ mình. Tuổi trẻ vốn rất nhạy cảm. Các em có thể nhận ra đâu là tấm lòng chân thật, còn đâu là sự lừa dối. Trong ký ức của nhiều thế hệ học trò, tôi là một người thầy nghiêm khắc. Học sinh thường nể trọng tôi, thậm chí sợ tôi, nhưng đối với tôi, chúng bao giờ cũng thương, quý và vâng lời. Lúc này, học trò của tôi, những đứa trẻ đang đứng lặng im kia sẽ quyết định uy tín của tôi, sẽ đưa ra lời phán quyết cuối cùng về lương tâm và trách nhiệm của tôi. Không hiểu sao lúc ấy tôi tin vào sự sáng suốt của học trò như tin vào lương tri của chính bản thân mình.

Một phút... hai phút... rồi năm phút qua đi. Không một ai động đậy, không một bàn tay giơ lên. Tôi biết mình đang hiện hữu giữa một cuộc sống được thiết lập bởi Tình thương và Công bằng. Cuộc đời tôi sẽ ra sao, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là Thiện phải thắng Ác, phải không các bạn?