Sáng Tác Văn Chương‎ > ‎Văn‎ > ‎

Từ bóng tối ra ánh sáng

  

 

Tháng 10 năn 1972, tôi lên nhận công tác ở Tây Bắc. Trong tâm trí của không ít người trước kia, Sơn La gắn liền với cảm giác e ngại, rùng rợn. Cái câu Nước Sơn La, ma Vạn Bú bao đời nay có sức đe dọa thật ghê gớm! Nhưng đối với thế hệ chúng tôi khi ấy, mảnh đất này thật giàu tiềm năng, và đặc biệt rất thiêng liêng.Vừa đặt chân lên đất Sơn La hôm trước, ngay hôm sau tôi tới thăm Khu di tích Nhà tù. Xúc động, tôi chậm rãi bước trên con đường năm xưa những người tù cộng sản từng đi. Trước những tang chứng của tội ác kẻ thù, tôi lặng người vì căm phẫn và đau xót. Những hiện vật quá khứ đặc biệt nói  nhiều với tôi về các đảng viên cộng sản kiên cường, về Chi bộ nhà tù sáng suốt. Cây đào Tô Hiệu trồng khi xưa vẫn đứng đó, quân thù tàn ác và xảo quyệt hoàn toàn bất lực. Màu xám xịt của nhà tù càng làm nổi bật sắc hồng tươi của cành đào mỗi độ xuân sang.

Giữa muôn vàn sự kiện lịch sử quan trọng, tại đây, lần đầu tiên tôi được biết tên ông Quản Mười, với những công lao gắn liền với sự lãnh đạo của Chi bộ nhà tù. Bác đến với Cách mạng từ hoàn cảnh riêng của mình. Nhưng tấm lòng của bác đối với cách mạng thì lại giống như trăm ngàn người dân Việt Nam yêu nước khác: tin yêu hết mực và gắn bó tới cùng.

Bốn năm sau, tôi đến thăm bác Lò Văn Mười tại Thuận Châu quê hương của bác. Lúc này bác vừa đi dự Đại hội Đại biểu Toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IV trở về. Bác nói với tôi trong niềm vui sướng, cảm động:

- Đảng và Nhà nước quan tâm đến tôi nhiều quá, mà đóng góp của tôi nào đáng là bao...

Bác ngừng lại một lát và tôi không thể quên những lời chân tình sau đó:

- Mỗi người Việt Nam thuộc mọi dân tộc và lứa tuổi đều có lý do tin yêu Đảng, nhớ ơn Đảng. Riêng tôi, tôi không biết nói thế nào để biểu lộ hết tấm lòng của mình đối với Đảng. Bởi lẽ tôi là người dân tộc thiểu số mà con đường đi theo Đảng quả thực rất éo le. Tôi xuất thân trong một gia đình thuộc tầng lớp được hưởng ít nhiều đặc quyền đặc lợi của chế độ cai trị địa phương. Thuở nhỏ tôi ít chịu cảnh lầm than nhục nhã vì bị đè nén cướp bóc như phần đông đồng bào tôi. Lớn lên, tôi sống trong đầy đủ và được học hành đôi chút. Bước vào tuổi trưởng thành, đời làm lính  đem lại cho tôi quyền hành bổng lộc. Nói như vậy, không phải tôi không bị khinh rẻ, ngược đãi. Có điều so với ách áp bức của bọn thực dân và bọn chúa đất đè lên cuộc sống của dân nghèo thì trường hợp của tôi thật chẳng đáng kể. Thế mà…tôi đã tiếp nhận ánh sáng của Đảng của Cách mạng. Điều này nói lên sức cảm hóa lạ lùng của lý tưởng cộng sản. Điều này còn nói lên sự bao dung của cách mạng, của người cộng sản đối với con người. Có lẽ nếu không được cách mạng cứu vớt thì chắc chắn tôi và những người như tôi sẽ lao vào con đường lầm lạc phản dân hại nước. Rơi vào vòng tội lỗi mà không biết mình đang mang tội thì còn đau khổ nào bằng!

Lời nói đó để lại giữa lòng tôi ấn tượng thật khó phai mờ. Và tôi ngỏ ý muốn viết về quá trình hồi sinh của đời bác. Con đường bác đến với cách mạng cũng là con đường của nhiều thanh niên ở vùng Tây Bắc đã đi. Bác vui lòng nhận lời:

- Tổ tiên chúng tôi từng dặn: “Quám chiến láng báu váng xia la” (Câu chuyện xưa không để vô ích). Có thể việc làm này sẽ góp phần nhắc nhủ các thế hệ con cháu mai sau giữ trọn niềm tin vào Đảng chăng!

Đó là ý nguyện của bác và cũng là ý nguyện của người viết.

 

Những ngày Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IV của Đảng.

Tôi được vinh dự gặp nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trước bị giam cầm ở nhà tù Sơn La. Được chứng kiến đội ngũ hùng hậu của Đảng, tôi vô cùng tự hào và phấn khởi về sự lớn mạnh không ngừng của Đảng ta. Rất tự nhiên, ký ức đưa tôi trở về những năm tháng xa xưa...

 

 

                                                                                             PHẦN I

                                                                                         Báu ốt đảy năm bó,

                                                                                                                Báu hó đảy cuốn phay.

                                                                                                                (Không bịt nổi nước nguồn

                                                                                                                Không gói được khói bay)

                                                                                                                Phương ngôn dân tộc Thái.

 

1

Tôi sinh ra ở một vùng rừng núi hẻo lánh thuộc Thuận Châu, Sơn La. Đến tuổi biết suy nghĩ, tôi không được tiếp xúc, không được chứng kiến điều gì ngoài sự trì trệ tối tăm của xã hội miền núi thời trước. Những năm 20 là thời kỳ vận động cách mạng sôi nổi và oanh liệt. Giai cấp công nhân Việt Nam dần dần bước lên vủ đài lịch sử. Phong trào yêu nước và cách mạng mang nhiều nhân tố mới mẻ lan rộng khắp Tổ quốc tôi suốt trong Nam ngoài Bắc. Các dân tộc trên dải đất thân yêu này đã thức tỉnh, đã vùng dậy. Thế mà... tôi không được biết tới. Có lẽ nơi “rừng thiêng nước độc” quê tôi xa xôi quá, cách trở quá! Ở miền xuôi lũy tre bao bọc thôn xã, còn ở đây làng bản bị núi rừng khuất che. Phong trào cách mạng vì thế có lẽ khó ba động tới. Nhưng nguyên do chủ yếu là ở phía quân thù. Bọn thực dân thâm độc cố tình bưng bít. Chúng sợ tiếng sấm truyền lan báo hiệu giông bão, giông bão gieo chết chóc xuống đầu lũ cướp nước và bán nước.

Thực tình, khi tôi bắt đầu khôn lớn thì ba tiếng Nguyễn Ái Quốc cũng đã truyền đến quê tôi. Cố nhiên chẳng người nào hay biết ông là ai? Ông thương ai, ghét ai? Ông bênh vực lợi quyền cho tầng lớp nào? Sẵn đầu óc mê tín, dân chúng thêu dệt cho con người ấy thật nhiều phép lạ. Nguyễn Ái Quốc là thánh! Nguyễn Ái Quốc là thần! Thánh thần thì tài lắm! Giỏi lắm! Tây sợ, các quan châu cũng sợ. Rồi dân chúng cũng phục cũng nể ông như những bậc siêu nhân khác.

Cuộc đời ngưng đọng như vũng trậu đằm giữa rừng sâu thật đáng ghê sợ! Lúc này tôi chưa cảm thấy rõ rệt. Nhưng cái xã hội tối tăm nhơ nhớp ngày ngày diễn ra chung quanh mình thì không thể cố tình bưng tai bịt mắt. Những điều mắt thấy tai nghe hay thì ít mà dở và ác thì nhiều, bắt buộc tôi suy nghĩ. Nhiều câu hỏi rõ ràng cũng có mơ hồ cũng có đồn đến trong đầu óc tôi. Tất cả đều không có lời giải đáp thỏa đáng.

Cũng như nhiều vùng núi khác trước ngày giải phóng, xã hội quê tôi phát triển chậm chạp, đứng ở giao điểm giữa thời kỳ nô lệ và phong kiến. Nền nông nghiệp tự cung tự cấp với lối canh tác tự nhiên thô sơ, hầu như là ngành duy nhất của kinh tế. Khi Pháp sang, chúng cũng chẳng “khai hóa” được gì thêm (!?). Mọi tầng lớp, kẻ thống trị và người bị trị đều bấu víu trông cậy vào ruộng vào nương. Có khác chăng chỉ ở chỗ: Bọn thống trị dùng quyền uy gần như vô hạn để đè nén bóp nẹt người lao động bị trị. Chúng trở nên giàu có. Chúng biến thành chúa cai trị một vùng. Con cá ở suối, con thú ở rừng đều là của chúng. Đến gái đẹp, ruộng tốt chúng cũng được quyền sử dụng và quyền ban phát. Chế độ cuông nhốc mới thật sự vô lý và tàn bạo. Cả nhà đi cuông, cả họ làm cuông, hơn thế ả bản thành cuông. Cuông nhốc đồng nghĩa với nô lệ, nô lệ về mọi mặt.

Vâng, tôi phải sống và chứng kiến những cảnh ngang ngược rợn người đó. Không rõ là bất hạnh hay là may mắn: Cụ thân sinh ra tôi thuộc tầng lớp quan lại ở địa phương. Bố tôi là kỳ mục (phó tổng) cho mường phìa trong của Thuận Châu. Hàng kỳ mục so với dân thì là quan, với hệ thống chức dịch trong mường thì lại ở lưng chừng. Trên có quan châu, quan phìa, dưới có quan bản, chúa bản. Bố tôi được chia hai mẫu ruộng chức tương đối tốt. Kỳ mục cũng phải tự sản xuất mới có cái ăn. Cuông mốc chỉ chia cho quan phìa và chẩu mường. Khi cần nhà tôi cũng được nhân công giúp thêm song chỉ thật hãn hữu. Gia đình tôi làm ăn có quy củ, có kinh nghiệm, lúa tốt lắm. Thường hai mẫu hàng năm chỉ thu được khoảng hai trăm gánh thóc (Mỗi gánh chừng ba mươi ký). Hai mẫu trong tay bố tôi phải tới bốn trăm gánh. Thóc nhiều, ăn không hết thì cho vay lấy lãi. Một gánh đầu năm đến cuối năm dôi thêm nửa gánh. Làm ăn như vậy cũng khá phát đạt. Do đó gia đình tôi không trực tiếp nhứng tay bóc lột người mà vẫn dư dật có của ăn của để.

Năm 1922, lúc 9 tuổi tôi được đi học. Huyện lỵ Thuận Châu lúc bấy giờ có trường tiểu học bán công (école élémentaire). Trường dành riêng cho con em các chức dịch và nhà khá giả theo học. Nhà dân nghèo không đủ điều kiện đến trường. Con trai kỳ mục như tôi nghiễn nhiên được vào học. Trường dạy chữ quốc ngữ dạy chen cả chữ Pháp, không ngoài mục đích đào luyện tay chân cho phường quan lại và thực dân. Ông ký, ông phán... đều mài đũng quần trên ghế nhà trường này cả. Dù sao đi học cũng là một vinh hạnh. Với tôi đi học còn là con đường sau này kế vị chức tước của bố nữa. Cái chức kỳ mục “thường thường bậc trung” ấy vốn nằm trong ước mơ của tôi. Tôi hăm hở đến lớp. Sáng đi tối về. Gặp trời mưa gió tôi thường nằm lại ở nhà người quen tại châu lị. Bạn học chí thân của tôi có anh Cầm Văn Inh (sau này là Trưởng ty y tế Sơn La, nay đã về hưu). Anh học giỏi, bao giờ cũng đứng đầu lớp. Tôi học không giỏi cũng không dốt. Thế mà chẳng hiểu sao tôi phải học đến hai năm lớp năm mới thi đỗ bằng sơ học yếu lược. Có lẽ học tài thi phận chăng? Nghĩ đi thì vậy, nghĩ lại nhiều con phìa, to đấy giàu đấy cũng chỉ đạt hai ba năm một lớp.

Bốn năm học trôi qua. Nhà trường thực dân vô tình luyện cho tôi ý thích đọc sách và thói quen đọc. Có lẽ đó là cái đáng kể hơn cả. Đến nỗi trong ba, bốn năm cầm cuốc cũng như những năm sau này, tôi mê truyện nhất là truyện thơ dân gian như... ong mê nhụy hoa. Tôi tìm đọc những truyện thơ của đồng bào Kinh được dịch ra tiếng Thái như “Càn Long du Giang Nam”, “Hoàng Trừu”, “Tống Trân Cúc Hoa”, “Nhị độ mai”... Những con người trung thực, đức độ, nghĩa khí được ca ngợi. Những kẻ phản trắc, tàn bạo, xảo quyệt bị lên án. Ý thức về sự công bằng ở đời ngấm vào tôi lúc nào. Tôi còn ngấu nghiến đọc anh hùng ca “Trương Han” của dân tộc mình. Nghe đâu đây là con người có thực với những chiến công có thực. Trong tác phẩm, Trương Han được kỳ vĩ hóa nửa người nửa thần. “Giá ngoài đời có con người như vậy thì hay quá!” – tôi thầm ước ao. Nhưng khoái nhất là giây phút nghe kể truyện cười. Những trận cười hả hê khi nhẹ nhàng khi sâu cay mà bao giờ cũng dí dỏm tế nhị mang sức phản ứng dây chuyền lạ lùng. Nhân vật Khun Hon chiếm được cảm tình của tôi hơn cả. Khun Hon sao mưu trí thông mình là vậy! Mà tiếng cười mai mỉa lại nhằm vào bọn phìa tạo mới ác chứ! Phìa tạo nhậm đắng nuốt cay, giận đến nổ con ngươi mắt, vẫn chịu không làm gì nổi. Mà sao cười cợt chế giễu lại đổ xuống đầu quan châu, quan phìa, quan bản? Họ có tội gì? Những câu hỏi mới mẻ đột ngột vang lên trong trí óc hồn nhiên của tôi. Cũng may gia đình mình làm kỳ mục thật đấy vẫn không làm ác làm tội quá quắt như những người kia!

 

2

Những câu hỏi tự phát nảy sinh và thôi thúc tôi tìm lời giải đáp ngoài đời. Có hai sự kiện khiến tôi nhớ mãi đến giờ.

Vào một tối, bọn chức dịch trong mường phìa kéo nhau đến gia đình gần nhà tôi uống rượu. Việc này thành thói quen của chúng. Chẳng có gì đáng nhớ, nếu không có chuyện sau. Gia đình này có mấy cô con gái đẹp nức tiếng. Bọn chúng chuốc cho chủ nhà say bí tỉ. Đàn ông từ cha đến con mê man bất tỉnh. Thế rồi... chúng thay nhau hảm hiếp mấy cô gái ngay bên mâm rượu trên sàn nhà của bố mẹ họ. Láng giềng chung quanh biết cũng cố tình làm ngơ. Ai cũng rõ chúng có máu mặt ở vùng này. Đụng đến chúng đâm ra liên lụy, thiệt đến thân thiệt cả con cháu mình nữa. Sao người “thay trời trị dân” mà độc ác vậy?!

Lần khác, sự việc xảy ra ngay trong gia đình tôi. Chả là trong mường phía có đến tám kỳ mục. Chức vụ này xếp thứ tự từ một đến tám theo quyền kế vị trước sau. Cha tôi là kỳ mục thứ năm. Thời gian đó kỳ mục thứ nhất chết. Đáng lý cha tôi tuần tự chuyển lên một nấc thành kỳ mục thứ tư. Oái ăm thay, tên kỳ mục thứ tám do đút lót tiền bạc cho quan phìa cho châu mường nó chuyển thằng lên hàng thứ tư trước cha tôi. Nội bộ giai cấp thống trị thì ra cũng lắm bất công, nhũng nhiễu. Cha tôi choáng váng. Cả nhà tôi căm uất. Biết kêu ai?

Cọ xát với thực tế, bao nỗi băn khoăn của tôi dần dà thêm sáng tỏ.

Trước sự o ép trói buộc của bọn thống trị địa phương, dân nghèo có người bó tay cũng có người phản kháng. Phong trào “Chiêu dân tống thẻ” bùng ra giữa quê tôi. Thời kỳ đó ở Thuận Châu, thực dân Pháp và bọn quan lại thu ba thứ thuế: Thuế dân, thuế đầu nhà, thuế ruộng nương. Phìa tạo lạm dụng thu tăng thêm khiến nông dân phải đóng góp rất nặng. Lại còn cái nạn đi phu, hết làm đường rồi vận tải... Bức bách quá, nhiều người nghèo cùng ký tên vào bản yêu sách vạch trần sự hà lạm của bọn thống trị địa phương. Họ còn cử đại biểu đến tận Hà Nội để kêu ca. Tôi nhớ mãi hai người cầm đầu phong trào “Chiêu dân tống thẻ” ở Thuận Châu là: Quàng Văn Pản và Lò Văn Nua. Hai ông sau bị bắt và bị lưu đày. Thêm một bằng chứng làm sáng tỏ phương ngôn của dân tộc tôi: “Mưỡng đaư coj mĩ nặ haư côngj, Mưỡng đaư coj mĩ phổng côý han” (Mường nào cũng có thửa ruộng cong, Mường nào cũng có người anh hùng).

Rõ ràng việc làm của họ chưa đi đến đâu, tôi vẫn cảm thấy có gì đang âm ỷ trong lòng người nghèo. Lúc đó tôi không thể nào hiểu hết được. Phải mãi nhiều năm về sau tôi mới thấm thía câu tục ngữ: “Pai xưa, pôpj ma năy” (nghĩa là: Tránh hổ gặp lang sói) và “Hoi đâư chăng bấu kin nam” (nghĩa là: Ốc nào ốc chẳng ăn bùn).

Ham đọc sách nghe chuyện khiến tôi am hiểu sự thật ở đời. Những truyện thơ tôi ưa nhiều người khác cũng ưa. Họ đều nghèo khổ cả. Lúc đình đám hội hè cứ rượu vào là chúng tôi hát, hát triền miên và say mê. Sau này tôi võ vẽ làm thơ có lẽ cũng được khơi nguồn từ ngày đó. Trong tiệc rượu đông vui người ta nghe, người ta hiểu và người ta xúc động. Xu hướng tư tưởng trong những câu chuyện kể dân gian lại thường đi ngược chiều với quyền uy của bọn người “ăn trên ngồi trốc”. Trong tiệc rượu chúng cũng nghe và bắt để mắt để tai tới những điều đáng sợ nọ. Đã từ lâu chúng không dám dửng dưng nữa! Càng để ý để tâm chúng càng lo ngại. Trong chữ nghĩa tưởng như vô tình ẩn chứa một sức mạnh thật đáng gờm. Phải ngăn chặn lại! Chúng tuyên truyền tư tưởng ngu dân cổ lỗ. Trí óc non dại của tôi nhan nhản những lời khuyên răn của các bậc “quan dân”. Nào là: Đàn bà không nên học chữ, nếu học chữ thì mù mắt hoặc hiếm con trai. Chữ của dân tộc tôi có từ lâu đời. Chữ của ông cha mình mà học lại mù mắt ư? Lạ thật! Cao hơn, tệ hơn chúng bảo: “Báu huj sư pên quan, hụ sau khắm cáu so khảu” (Không biết chữ làm quan, biết chữ cầm đòn gánh đi ăn xin). Láo toét hết, xuyên tạc hết. Mới hay chúng dẵ sợ lẽ phải như cú sợ ánh sáng mặt trời – mãi sau này tôi mới giải thích được rành rọt như vậy.

Chúng cấm đoán và chúng đe dọa. Tôi thấy dân bản vẫn thích học chữ, thích đọc truyện. Cha dạy con, vợ dạy chồng, anh dạy em. Dạy chữ chẳng theo quy cách khoa học như ngày nay đâu. Họ cứ mang truyện thơ giảng từ chữ đầu đến chữ cuối. Thế mà cũng nhiều người biết đọc biết viết. Thì ra dân tộc tôi cũng thật ham học. Người nghèo truyền miệng những câu chất chứa sức phản kháng: “Báu lục sư đẩy háp xỉn” (Không biết chữ thì gánh váy đàn bà) nghĩa là xấu lắm.

Tuổi ấu thơ của tôi lớn lên trong đầy đủ. Tôi được ăn ngon, mặc đẹp lại được học hành chút ít. Nhưng thực tế xã hội gieo vào lòng tôi nhiều ấn tượng ngổn ngang. Cuộc đời tôi sẽ lặng lẽ trôi đi nếu không gặp một bước ngoặc lớn vào năm tôi 18 tuổi.

Lúc bấy giờ quân cướp nước đang vươn tay nắm chặt quyền hành và củng cố quyền hành ở khắp nơi. Việc làm đầu tiên là phải tổ chức và nắm chắc lực lượng trấn áp và đe dọa. Chủ trương mộ lính được thi hành ở Sơn La. Mỗi châu mường phải mộ khoảng 50 lính. Các tri châu được giữ lại 20 lính, còn lại bao nhiêu tập trung ở các đồn binh dưới sự điều khiển của các quan Tây. Muốn mộ lính có chất lượng, nghĩa là phụng sự nhiều nhất, cao nhất cho chúng thì phải tuyển. Không gì hay hơn là tuyển lính người Thái, dân Thái “hiền lành” “thuần nhất” “dễ bảo mà”!? Vốn thâm độc, xảo quyệt bọn thực dân hiểu rõ âm mưu này sẽ có hiệu lực như thế nào. Người lính Thái cầm súng của người Tây bắn người Kinh, bắn người Mèo, bắn người Xá... Mối hằn thù giữa các dân tộc khơi sâu thêm. Bọn chúng chễm chệ ngồi trên ghế cai trị và... cười khẩy.

Lệnh trên truyền xuống Thuận Châu. Quyền án nha lúc này nằm trong tay Bạc Cầm Quý – Một tên tri châu nổi tiếng hung ác và xảo trá. Lệnh nêu rõ: Chỉ sức những kẻ có con học từ tạo bản trở lên. Lại một lần thanh lọc! Chúng muốn bọn tay sai phải thực sự đắc dụng. Có hiểu biết đã đành, còn cần những sợi dây quyền lợi giàn buộc chắc chắn nữa. Tôi có đủ mọi “điều kiện” trên và lập tức trong danh sách có tên tôi. Cần nói ngay rằng: Việc đăng lính đối với tôi chẳng có gì thích thú cả. Quan hệ gia tộc ở quê tôi khăng khít lắm. Xa cha mẹ anh em dăm bảy bữa đã thấy buồn chán như mất mát một cái gì đó thật quý, khó đền bù nổi. Mối quan hệ trên có điểm tốt nên duy trì, cũng có nhiều điểm không phù hợp với xã hội ta bây giờ. Như những năm mới giải phóng nhiều thanh niên được cử đi học xa trong nước và ngoài nước. Nhớ nhà, nhiều người không chịu đi, hoặc đã đi lại bỏ về. Việc này ảnh hưởng không ít đến trình độ văn hóa và chính trị, thiệt thòi cho cá nhân và cả dân tộc mình. Cuộc sống mới đòi hỏi ta phải có một tầm nhìn rộng hơn, xa hơn.

Trở lại hoàn cảnh tôi thời đó, tôi không thích đi lính vì phải xa gia đình thân thuộc. Thêm nữa, dư luận xã hội được đời lính cũng chẳng hay hớm gì. Bản tôi vô khối người đi lính. Dịp nghỉ phép về thăm nhà họ kể cơ man chuyện về đời lính. Xem chừng họ chán ngán lắm. Nhiều người hậm hực bảo tôi:

- Lính tráng khổ lắm! Nhục lắm! Đêm phải đi gác cho quan Tây ngủ. Lúc kiểm tra thấy ngủ gật nó đánh. Thấy coi tù không đúng tư thế nó phạt. Uất đầy bụng mà đành chịu vậy!

Kẻ ra nói về cái khổ cái nhục của đời lính, dư luận thời ấy chỉ dừng lại ở bề mặt, ở hình thức, nào có sâu xa gì đâu. Mặc dù vậy đó cũng là tin dữ. “Tin lành đồn xa, tin dữ đồn xa”, chẳng ma nào thích cái nghề cầm súng gác thuê cho Pháp cả. Bắt buộc, đành phải đi vậy. Cay đắng hơn nữa, tôi phải mặc áo lính khi vừa ở rể được 15 hôm. Vợ chồng dù chưa chính thức cũng không dễ dàng chia ly mà không day dứt buồn tủi. Bao nhiu cái trớ trêu oan khốc dồn dập đến với đời tôi. Trái tim khối óc non trẻ tưởng vỡ tung. Tôi ngộ nhận rằng: Mình là người đau khổ nhất, chịu nhiều thiệt thòi nhất trên đời này.

Dư luận chung và tình cảnh riêng kể trên khiến tôi hoàn toàn dửng dưng đối với cuộc đời cầm súng cho Pháp. Nhưng tôi đành phải làm cái việc mà mình không hề mong muốn. Điều này có nguyên do của nó. Trước hết phải kể tới áp lực của chính quyền địa phương, của bọn quan cai trị đối với tôi và gia đình tôi. Ai cũng biết rằng cuộc sống của toàn thể gia đình tôi thậm chí của cả họ hàng tôi lúc này đều bấu víu vào chức kỳ mục của cha tôi. Chức quan đi liền với quyền uy, chức quan cũng đi liền với lợi lộc. Cái ăn, cái mặc, cái uống, cái hút đều từ đấy mà ra cả. Sự thể sẽ sao đây nếu tôi chống lại cái quyết định tối “quan trọng” đó. Bọn quan lại lớn nhỏ trong mường phìa chắc chắn sẽ không để cho chúng tôi yên thân. Bao nhiêu nỗi bất hạnh nhất định sẽ diễn ra liền sau đấy. Nỗi bất hạnh lớn nhất là ruộng chức dịch không còn. Đời sống hàng ngày rõ ràng bị đe dọa. Mà ruộng đất đã không còn một tấc thì làm thế nào thoát khỏi thân phận cuông nhốc ô nhục và đói nghèo. Chỉ riêng nghĩ đến tình cảnh đó tôi đã rùng mình. Đấy là chưa kể tới những hình phạt khác về thân xác... Kể ra nếu sớm: đến với cách mạng thì tôi đã có cách giải quyết khác rồi. Nhưng tầm nhìn của tôi thời ấy còn rất chật hẹp. Tôi mới chỉ thấy được nỗi khổ nhục cụ thể, nhỏ nhoi trong cuộc sống thường ngày. Còn cái khổ, cái nhục mất nước lớn hơn nhiều, đau đớn hơn nhiều nào tôi có thấy. Về điều này, nhiều khi tôi có phần ghen tỵ với thế hệ trẻ ở miền núi ngày nay. Họ may mắn hơn thế hệ chúng tôi rất nhiều. Ánh sáng của Đảng soi rọi tới tận những miền xa xôi heo hút. Cái đúng và cái sai ở đời thật vô cùng sáng tỏ và do vậy lẽ sống của con người cũng thật giản dị và dứt khoát. Còn bản thân tôi ngày ấy chẳng khác gì người đi rừng trong đêm tối: bế tắc và bất lực. Ngay đến cái ý nghĩ đơn giản là coi việc cầm súng cho Pháp là có tội với đồng bào mình, với đất nước mình mà tôi cũng không thể thông tỏ. Thậm chí cái vẻ “oai vệ” bề ngoài của người lính lại có sức cuốn hút đầu óc non dại của tôi. Chẳng là hồi ấy bọn chức dịch có quyền thế trong mường thường ức hiếp chúng tôi đủ điều. Nhiều khi uất lên tận cổ mà không làm gì được. Bọn trai tráng chúng tôi có lúc nghĩ quẩn rằng: “Hay là đi lính! Mình có thể ỷ thế thằng Pháp để không sợ một ai, kể cả bọn quỷ hèn kém ấy”. Nhiều lúc nằm một mình mường tượng ra cái cảnh ngẩng cao đầu đi ngang qua mặt bọn chúng nó với bộ quân phục rất oách lại cả súng ống nữa là tôi thích chí cười thầm trong bụng mãi.

Nhưng có lẽ cái đặc biệt thu hút tôi khi đó lại là những thứ vật chất mà bọn quan thầy và lũ tay sai đem ra nhử chúng tôi, cám dỗ chúng tôi. Phải nói thực dân Pháp trang bị cho kẻ đánh thuê người bản xứ cũng khá khá. Dường như chúng đoán biết được những nỗi cơ nhục mất mát của lính tráng. Và đối với chúng, cũng như đối với đế quốc Mỹ sau này, chỉ có một cách duy nhất là dùng vật chất để bù đắp lại. Thực dân Pháp phát cho mỗi lính khố xanh cả thảy sáu bộ quần áo tứ thân thuộc ba loại: vải kaki, vải pôpơlin và vải dạ. Tập tành thường ngày thì mặc hai bộ ki màu xám. Hai bộ kia dành cho lính trưng diện chơi bời ngày chủ nhật. Mùa nóng lên bộ pôpơlin trắng toát. Còn vào mùa lạnh thì đóng bộ oách nhất: dạ màu tím than. Ngoài ra chúng còn phát cho bọn tôi một vài thứ lặt vặt khác nữa. Tôi nhét tất tật vào một cái hòm nho nhỏ vừa gọn. Ngoài những thứ ấy ra, người lính còn được chia 25 đin ruộng lính. Mỗi đin hàng năm thu về chừng 25 gánh thóc. Số ruộng này lính không nhúng tay làm. Bọn cầm quyền bắt cuông nhốc các bản chăm lo mọi chuyện từ việc cày cấy đến việc gặt hái thu hoạch. Trước những món bở dễ làm những người non dạ hoa mắt, tôi như con chim non sa lưới, như con thú dại dột mắc bẫy – sa lưới và mắc bẫy mà không tự biết. Như vậy, tôi buộc lòng và cả tin khi cầm súng bảo vệ nhiều kẻ đáng lẽ phải khinh bỉ và căm phẫn.

Ngày tập trung mau đến. Tôi dứt áo ra đi. Cuộc tiễn đưa đầm đìa trong nước mắt. Đến nơi tập trung, ngó qua nhìn lại chỉ thấy toàn con em chức dịch hàng kỳ mục và quan bản. Lũ con quan châu quan phìa gan không bằng con muỗi, chúng sợ. Nhà chúng có quyền có thế có tiền chúng nghiễm nhiên được miễn lính. Còn bọn chúng tôi cổ bé họng nên phải chịu phần cay cực. Một bất công nữa sờ sờ ngay trước mắt mà nạn nhân lại là mình.

Sau ba hôm khám sức khỏe lập hồ sơ, tới ngày 28 tháng 3 năm 1931 tôi chính thức bước vào đời lính. Cài ngày thật khó quên. Đó là cái mốc đen trong cuộc đời lắm đổi thay của tôi. Trên trang đầu lý lịch, tôi thấy ghi rõ: “Lính tình nguyện thời hạn 5 năm” bằng tiếng Pháp. Một ngày dài lê thê, năm năm trời đằng đẵng biết đến bao giờ! Tôi khóc lóc vật vã trong nhiều ngày. Nghĩ tới con cháu quan châu quan lang vẫn ung dung thảnh thơi ở nhà mà tôi thêm tấm tức. Chúng chèn ép mình! Chúng đẩy mình đi! Chúng sống phởn phơ còn mình thì khổ ải... Nhưng rồi tôi bắt đầu quen dần với cuộc sống của người lính khố xanh...

Dù được hưởng một số đặc lợi, tôi vẫn không cảm thấy khuây khỏa chút nào. Ở nhà có cha có mẹ có vợ, có những người thân thích, lại có cả cai vế với nhiều triển vọng tốt đẹp nữa! Ở đây chắc sẽ vất vả khổ sở. Tôi linh cảm những ngày sắp tới chẳng sáng sủa gì.

Mặc áo lính được năm ngày trời bọn tôi vẫn chưa phải tập tành. Chúng tôi rủ nhau đi chơi ở các bản lân cận. Gặp đồng bào dân tộc mình tôi thấy nhớ nhà quá chừng. Sang ngày thứ sáu, tôi cùng một số người lính khác được đưa vào làm bàn giấy.

- Tôi không quen làm đâu!

Tôi thành thực bày tỏ ý nghĩ của mình với một người đi đứng oai vệ lúc này đang cố thuyết phục chúng tôi như vậy.

- Rồi sẽ biết làm! Trước lạ sau quen thôi!

Họ an ủi vỗ về chúng tôi. Về phía người thừa lệnh tôi thừa biết bộ máy hành chính của Phòng giám binh đang được tăng cường. Họ cần chúng tôi, và họ vuốt ve chúng tôi. Cắt phong bì, ghi công văn đi đến, mỏ cò đánh máy, đốt lò sưởi... là công việc thường ngày của mấy anh lính bàn giấy như tôi. Chân “long tong” không khi nào hết việc, lại toàn những công việc lặt vặt không tên. Cùng làm với tôi có một số anh tôi quen biết từ trước, như anh Hoàng Văn Xum (đi trước tôi năm tháng), anh Lường Văn Ân (đi cùng đợt với tôi). Ngoài ra còn có anh Hà Văn Ùi người Mộc Châu nữa.

 

4

Bấy giờ Đờ Nu-ay-ăng (de Nouaillan) giữ chức giám binh. Vợ hắn con giám binh Phúc Yên Vanh-xăng (Vincent) nói tiếng Việt rất sõi. Đờ Nu-ay-ăng là tên thực dân có hiểu biết và khét tiếng hung ác. Cửa miệng hắn lúc nào cũng sẵn sàng tuôn ra những lời chửi rủa độc địa. Người ta có cảm giác đầu hắn chứa toàn những điều bất lương, ác hiểm mặc dù cách ăn mặc đi đứng của hắn thì rất chi là lịch sự. Những người dưới quyền hắn không nên không phải bị bạt tai liền. Hắn quát tháo to đến nỗi người ở dưới Chiềng Lề nghe rõ mồn một.

Một thời gian dài tôi làm long tong cho thằng này. Bạn bè quen thuộc nhắc tôi:

- Cẩn thận đấy! Nó ác lắm! Nó đánh chúng tôi không tiếc tay đâu!

Tôi hiểu. Cứ nhìn đội quản lúc nào cũng len lét lo sợ mà vẫn không tránh khỏi cơn thịnh nộ, tôi đủ hiểu tất cả: “Kẻ chỉ huy nó còn không coi ra gì nữa là mình”. Thằng Đờ Nu-ay-ăng rất khó tính. Ngày đông rét mướt đốt củi sưởi phải không có khói. Chỉ cần phảng phất khói là hắn đánh liền. Ngày hè oi bức, bọn tôi thay phiên nhau kéo quạt cho hắn. Quạt đan bằng nứa, rất to và nặng, phải treo lên và dùng tay kéo. Tôi nghĩ đến những người nô lệ của bọn bạo chúa ngày xưa. Bàn hắn làm việc không đánh véc ni tăm bông mà đánh bằng sáp ong bóng loáng, tưởng có thể soi gương được. Trên mặt bàn, nơi cửa kính cửa chớp chỉ dính ít bụi thì hãy liệu hồn. Bàn tay to khỏe của kẻ cầm quyền có thể sẽ giáng xuống người anh bất cứ lúc nào. Tôi ít bị đánh do tôi tinh ý và làm cẩn thận. Vả lại hắn nói tiếng Pháp, tôi lõm bõm hiểu được và làm đúng theo ý hắn nên cũng dễ tránh đòn hơn người khác.

Tên giám binh thời kỳ này được Sở địa chính Bắc Kỳ giao cho vẽ mặt bằng đồi Khâu Cả. Có lẽ bọn xâm lược đang nghiên cứu xây dựng và mở rộng nhà tù Sơn La thì phải. Tôi và mấy anh nữa theo hầu hắn suốt. Người xách cặp, người bê bàn ghế, người thì khuân chiếc hòm đựng đủ thứ: dây rợ, thước, bút... Đờ Nu-ay-ăng tự tay đo và vẽ, đo đến đâu vẽ đến đấy. Mà kẻ vẻ thì rất tỉ mỉ chính xác: Độ cao, độ nghiêng, đến rãnh nhỏ, bụi cây đều được phản ánh vào sơ đồ. Nhiều anh nghe không hiểu ý muốn của hắn nên bị đánh luôn. Tôi và anh Xum tinh khôn hơn, ít bị đánh, lại được hắn tin cậy giao cho giữ ê ke. Công việc này đòi hỏi phải hết sức thận trọng. Ngơi một chút, dây dọi thiếu chính xác là lập tức tai họa ập đến ngay.

Có lần chúng tôi đang đo độ dốc đoạn gần đường 6. Con đường vắt qua lưng đồi phía tây, nơi đồng bào thường qua lại. Đột nhiên có tiếng xì xào:

- Kìa! Xao chăn! (Gái đẹp)

Bất giác, tôi khẽ quay đầu về phía đường cái. Với tuổi thanh niên sôi nổi chuyện ấy cũng là lẽ thường tình. Nhưng chẳng may dây dọi lệch hẳn. Tôi chưa kịp có cảm giác lo ngại thì thằng giám binh đã lao xuống trước mặt tôi. Không nói không rằng nó lật mũ tôi ra rồi đấm liền hồi vào đầu vào mặt tôi. Tay nó nặng trình trịch, mỗi quả đấm giáng xuống như đóng cọc xuống người tôi. Vừa đánh nó vừa chửi:

- Đồ con lợn! Mày làm hỏng cả bản sơ đồ của tao rồi! Mấy ngày nay chắc sai sót không biết bao nhiêu mà kể nữa. Công lao vậy là đổ xuống biển.

Sau đó là những lời rủa độc địa bằng tiếng Pháp từ miệng nó xổ ra, “mẹc xa lô” “lơ buýp” “An nam mít”... Tôi khóc thút thít. Mồ hồi hòa với nước mắt chảy giàn giụa khắp mặt và ngực. Thân phận tôi tớ biết kêu ai?

Lần khác tôi khệ nệ mang một chiếc bàn và một chiếc ghế lẽo đẽo theo hắn. Đo xong, hắn ngồi xuống chiếc ghế kê sơ đồ lên bàn để kẻ vẽ. Trên mặt bàn luôn có một hộp bút chì đủ loại màu. Mũi bút chì thường xuyên phải được vót nhọn như mũi kim để kẻ cho chính xác. Hôm đó qua chiếc rãnh nhỏ gần tòa sứ không may tôi trượt chân ngã. Chiếc bàn nghiêng, và từ trên mặt bàn một chiếc bút chì đen rơi xuống. Tôi vội vàng nhặt bỏ vào hộp như cũ. Tưởng qua khỏi mắt hắn mọi chuyện như vậy là xong xuôi. Nào ngờ mũi bút chì bị gẫy, vội quá, tôi không để ý tới. Lúc cầm trên tay chiếc bút chì định vẽ, thấy gẫy, hắn lồng lộn tức tối. Tiện tay, tên giám binh dùng cây bút đâm thẳng vào ngực tôi. Ngực rớm máu, tôi bàng hoàng nhức nhối. Hắn dùng tay kia túm lấy vú tôi bóp mạnh như những gọng kềm xiết chặt cùng một lúc. Rồi rất bất ngờ hắn đẩy mạnh tôi về phía sau. Tôi ngã ngửa trên dốc sỏi đá khi miệng hắn không ngớt tuôn ra những lời chửi rủa đê tiện nhất bằng tiếng Pháp và cả bằng tiếng Việt. Mãi ba tháng sau trên ngực tôi vẫn còn bầm tím nhức buốt.

Nói sao hết được nỗi đau đớn tấm tức và nhục nhã của tôi sau hai lần bị đánh. Ăn lương của nó, làm việc cho nó, nó hành hạ mình thế nào chẳng được. Mà nghĩ lại, có riêng tôi bị đánh đâu. Anh em khác cũng bị hắn coi rẻ không khác gì súc vật. Hắn tức, hắn nguyền rủa không tiếc lời; làm trái ý, hắn đánh đập thẳng tay.

Vào 5 giờ chiều, sau thời gian làm việc trong ngày, những người lính mới chúng tôi phải đi làm rau ở vườn nhà giám binh và vường nhà tù. Bọn lính cũ đến giờ này được chơi bời để tối đi gác. Ngay chiều hôm bị đánh lần thứ hai, lúc đi làm ra, tôi kẻ lể phàn nàn với bè bạn. Kể xong tôi ôm mặt khóc rưng rức. Là những người cùng cảnh ngộ, anh em tỏ ra rất thông cảm với tâm trạng của tôi. Cùng làm vườn với chúng tôi còn có tù nhân nữa. Họ làm cật lực suốt hai buổi. Chiều đến 5 giờ họ vẫn chưa được nghỉ. Thấy tôi khóc tu hu, một người tù mon men tới gần tỏ vẻ thương cảm:

- Sao ông khóc dữ vậy?

Lần đầu tiên được tiếp xúc và tiếp chuyện với người tù, bản thân tôi khó tránh khỏi e ngại. Thực tế dư luận dân chúng chẳng có thiện cảm chút nào với người bị tù đày. Đã vào tù là chắc phải làm nhiều điều ác điều xấu lắm. Tôi bị ảnh hưởng bới quan niệm ấy. Đầu óc tôi chưa có khái niệm “tù chính trị” “tù cộng sản” là như thế nào cả. Vì vậy ban đầu tôi rất dè dặt nghi ngại. Người tù nhìn tôi bằng con mắt đầy thông cảm. Tôi dần dà quên đi ranh giới cần phải có giữa tôi – một người lính khố xanh và người tù đang bị giam hãm quản thúc. Tôi giãi bày nỗi bất hạnh của mình cho anh nghe. Lời kể của tôi đứt đoạn vì những tiếng nấc uất ức. Khi hiểu ra mội chuyện, anh vỗ về:

- Thôi! Đừng khóc nữa anh, nó còn làm nhiều điều ác hơn thế! Anh xem, Tây nói sang “bảo hộ” “khai hóa” cho dân ta. Chúng làm được những gì đâu. Ngược lại, chúng chăm chăm vơ vét sản vật quý ở rừng ở biển của ta. Chúng xây những nhà tù kiên cố giam hãm những người yêu nước như nhà tù Sơn La này... Thử hỏi chúng đã làm được những gì nào?

“Thử hỏi chúng đã làm được những gì nào?” Lần đầu tiên một câu hỏi như vậy đã vang lên trong suy nghĩ của tôi. Tâm trạng tôi cồn lên những nỗi đâu nỗi nhục khó diễn tả bằng lời. Tin vào những điều người tù vừa nói, tôi im lặng nhìn ra những rặng núi xa xa. Như hiểu được sức nặng của những lời mình nói, người tù tiếp:

- Anh thấy không? Dân mình khắp nơi đã nổi dậy. Tôi bị bắt và phải vào tù là do tôi tham gia cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Lãnh tụ Nguyễn Thái Học tài giỏi và các đồng chí của tôi đã khiến bọn thực dân mất ăn mất ngủ. Nó cứ tưởng ai cũng bó tay cam chịu mà! Không lâu nữa chúng tôi sẽ tống cổ chúng nó ra khỏi đất nước này. Rồi anh sẽ được chứng kiến, chẳng quá năm năm đời lính của các anh đâu!

Nói Tây ác, Tây xấu thì tôi tin. Sự thật sờ sờ ra đó. Còn bảo sẽ đánh đổ được chúng thì tôi không thể tin ngay được. Ở quê tôi chính quyền tay sai của Tây còn mạnh lắm. Bọn chúng cai quản khắp vùng, không một ai dám ngo ngoe. Còn ở đây, bộ máy cai trị của bọn thực dân dường như rất vững chãi. Chúng có lính, có súng, có tiền, có mọi thứ, làm thế nào mà đánh đuổi chúng đi được? Dù chưa tin, tôi vẫn nhớ những lời nói mới mẻ ấy. Được chia sẽ nỗi uất ức với người tù, lòng tôi thấy vơi dần.

Ngay hôm sau tôi xin đi nằm viện. Tôi định vin vào bệnh tình để chúng sa thải càng sớm càng tốt. Những ngày rảnh rỗi trên giường bệnh, tôi đấu tranh tư tưởng rất lung, hoặc bỏ về hoặc làm mọi cách để chúng thải hồi. Tôi nghĩ mà thêm căm bọn quan phìa quan châu. Chắc lũ con cái chúng đang nhởn nhơ đi học hay đi chơi gì đó.

Sau 3 tháng nằm viện, đốc tờ khám lại nhiều lần. Thấy sức khỏe tôi không đến nỗi tồi nó lại trả tôi về làm lính bàn giấy như cũ. Có một điều khiến tôi an tâm hơn là tên giám binh Đờ Nu-ay-ăng đã cuống gói về Hà Nội từ tháng trước. Thằng Tây Coóc Xuýt-xuy-ni vốn là xếp bốt đồn Vạn Yên chuyển về thay quyền tên giám binh cũ. Thêm nữa, công việc giờ tôi quen hơn, thành ra có thời giờ rảnh rỗi đọc tiểu thuyết và xem báo chí.

Một lần tôi để ý tới một quyển sách viết bằng chữ quốc ngữ dày chừng một trăm trang mang cái tên nghe rất lạ tai: “Mặt nạ cộng sản”. Nhân lúc tên giám binh đi vắng tôi tò mò đọc trộm. Người cộng sản được dựng lên như những kẻ tàn ác không có tình thương. Cộng sản nghĩa là cộng vợ, cộng chồng, cộng mọi thứ. Đáng ghê thật! Con người không có gì là của riêng, tất cả đều là của chung, bất cứ ai cũng có quyền hưởng thụ và đòi hỏi. Những ý tứ trên được viết bằng lời lẽ cay độc và gay gắt. Đang mải mê đọc và suy nghĩ thì bất chợt tôi nghe thấy tiếng giày đinh lộp cộp ngoài cửa. Tôi vội đặt quyển sách ngay ngắn vào chỗ cũ. Bước tới trước mặt tôi, tên giám binh cười khẩy:

- Ồ! Đọc đi! Tốt lắm!

Tại sao người viết lại bôi nhọ người cộng sản? Và tại sao quan thầy lại khuyến khích mình đọc những lời lẽ ấy? Những câu hỏi khiến tôi bứt rứt hoài.

Hàng ngày tôi còn một nhiệm vụ nữa là đến đón tù nhân về phòng giám binh làm những việc lặt vặt. Trong số người tù tôi tiếp xúc dạo ấy có một thợ khâu giầy đến giờ tôi vẫn nhớ như in. Anh có nước da ngăm đen, nét mặt nghiêm nghị. Đặc biệt ánh mắt sâu thẳm của anh như muốn nói với mọi người điều gì thầm kìn thiêng liêng lắm. Tôi gần anh đã thấy cảm tình ngay. Anh hiểu rộng biết nhiều và nói chuyện rất có duyên. Anh tự giới thiệu là người tù cộng sản. Thật lạ lùng vô cùng! Tôi tỉ tê hỏi anh về điều băn khoăn khi đọc cuốn sách dạo trước. Nghĩ một lát, anh nói mạnh mẽ và rành rọt:

- Chúng xuyên tạc thôi! Vì chúng sợ nên chúng mới xuyên tạc người cộng sản như vậy! Anh thấy đấy, người cộng sản có gì đặc biệt đâu? Họ yêu nước, họ thương dân, họ quyết đấu tranh đến cùng để giành lấy độc lập cho đất nước và hạnh phúc tự do cho mọi người.

Tôi rụt rè hỏi anh:

- Đấu tranh như thế liệu có đi đến đâu không? Quê tôi đấy, những người tham gia phong trào “Chiêu dân tống thẻ” đều bị thất bại cả. Đồng bào từ đấy sợ, không dám động tĩnh nữa.

Giọng anh tự nhiên quả quyết rắng rỏi hơn:

- Nếu mọi người cùng hiểu mục đích cao cả của cuộc đấu tranh, nếu mọi người cùng nằm tay nhau đứng dậy thì sẽ thắng lợi thôi anh ạ! Viết đơn kiện cáo không đi đến đâu cả. Phải hành động! Phải đấu tranh! Đấy, anh coi, cách mạng ở Nga đã thành công, lập nên nhà nước của nhân dân. Nhiều nước khác đang noi theo cách mạng Nga. Ở nước mình cũng thế! Thế nào cuộc đời cũng sẽ đổi thay anh ạ!

Đồng bào tôi thường nói: “Páu pí saư hu quai” (Thổi sáo vào tai trâu). Câu đó đúng với tôi khi nghe người tù cộng sản nói về cách mạng lúc ấy. Mãi về sau, trong thời kỳ Mặt trận bình dân, được đọc sách báo tiến bộ tôi mới dần dà vỡ vạc ra ít nhiều. Dù sao tôi vẫn thấy phục tấm lòng cùng hiểu biết của người tù kia. Thì ra trong bốn bức tường xám xịt của nhà tù lại giam hãm đầy đọa những con người đáng yếu đáng mến như vậy!

 

5

Bọn thực dân xâm lược ngày trước cũng khá chú trọng tới chính sách cai trị vùng các dân tộc thiểu số. Chúng sớm xác định đào tạo càng nhanh càng nhiều lũ tay chân người bản địa càng tốt. Tôi thuộc đối tượng “ưu tiên” này. Ngay việc tuyển chọn tôi vào làm lính bàn giấy cũng đã là “ưu tiên” rồi. Bọn tôi không phải tập tành, ít tuần tra canh gác lại được thêm 5% lương gọi là phụ cấp thơ lại.

Cuối 1932 có đợt huấn luyện cai ở Phúc Yên, tôi được ghi vào hàng đầu của danh sách. Sáu tháng trôi qua, vào tháng 3/1933 tôi trở lại Sơn La với nhiều hứa hẹn trên con đường thăng quan tiến chức. Những ngày tập tành ở nơi đất khách quê người kết quả học tập của tôi chẳng giỏi giang gì cho lắm. Vì thế, mãi cuối năm ấy tôi mới được đeo lon cai nhì. Lên cai, quyền thế cao hơn, cũng oai đáo để. Trang phục lộng lẫy đường bệ. Cổ tay áo mang lon cai, cánh tay mang biệt hiệu thơ lại. Quần áo kiểu cách sang trọng không còn như lính trơn nữa.

Trước những miếng mồi khá “hấp dẫn” ký ức tôi vẫn không mất đi những dấu vết dạo nào. Khi trái gió trở trời vết đau trước ngực và trên đầu nhói lên như nhắc tôi về nỗi đau và nỗi nhục không thể quên được. Và, những lời nói, những ấn tượng qua hai lần tiếp xúc với người tù như hiện lên rõ mồn một.

1935, Mặt trận bình dân lên nắm chính quyền ở Pháp. Ách thống trị của bọn thực dân ở Đông Dương được nới đôi chút. Quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, và tự do lập hội có phần được mở rộng. Mọi người cảm thấy dễ thở hơn mấy năm trước đây. Rừng núi quê tôi xưa nay vốn im lìm, nay bắt đầu xao động...

Tôi giờ đây được thăng cai nhất. Chẳng phải là vì tôi chăm bẵm cúc cung phụng sự chúng đâu. Làm nhiều quen dần, công việc ít trắc trở, uy tín tự nhiên tăng thêm. Rồi, như trên đã nói, tôi thuộc đối tượng “ưu tiên” đặc biệt. Do đó bình thường từ cai nhì lên cai nhất phải đi học. Tôi đi bằng con đường riêng tương đối dễ dàng.

Cai nhất ít làm việc tạp dịch, nên tôi có thời giờ đọc sách báo. Mà sách và báo thời kỳ này không thiếu. Báo tiếng Pháp có, báo tiếng Việt cũng có. Xu hướng tư tưởng trên các trang sách trang báo thì cực kỳ phức tạp. Tư tưởng phản động, khuynh hướng lãng mạn của sách báo thực dân và cả tư tưởng mới mẻ tiến bộ của sách báo cách mạng nữa. Tôi nghiến ngấu nhá những món ăn tạp nham đủ loại. Ở phòng giám binh tôi tiếp xúc với một số báo thực dân như tờ “Đông Pháp”. Thú vị hơn cả là đến câu lạc bộ. Ở đấy đọc thả cửa. Tôi ưa đọc “Tiểu thuyết thứ bẩy” của Tự lực văn đoàn. Trên tập san đó thường đăng nhiều thư lãng mạn nhiều truyện hiện thực. Tôi rất thích những truyện ngắn độc đáo của nhà văn Nguyễn Công Hoan. Ngòi bút của ông thường hóm hỉnh mà sắc sảo. Tôi đọc, cười đấy, nhưng liền sau đó lại rơi nước mắt ngậm ngùi đau xót. Biết bao thân phận và cảnh ngộ éo le, cay đắng. Lần đầu tiên tôi hiểu rõ một thực tế: Ở khắp đất nước mình, người lao động đâu đâu cũng đều cùng khổ nhục nhã vì bị thằng Tây và lũ tay sai cướp bóc đè nén.

Thời kỳ này có một bộ phận Đảng ta ra hoạt động công khai. Báo chí của Đảng được lưu truyền rộng rãi. Mỗi khi có điều kiện gặp anh em tù, họ cầm trên tay những số báo mới nhất giới thiệu với tôi:

- Anh nên đọc những tờ báo này. Đây là tiếng nói của lẽ phải, của sự thật.

Thấy tôi có vẻ tò mò chăm chú các anh bảo:

- Anh biết tiếng Pháp không? Nếu anh biết tiếng Pháp thì tìm đọc tờ “Le Travait” (Lao Động” do Khuất Duy Tiến làm chủ bút. Không thì hãy tìm đọc tờ “Đời nay”, chủ bút là Trần Huy Liệu.

Thế là báo chí cách mạng đã đến tay tôi. Nhiều bài trên tờ “Đời nay” tới giờ tôi vẫn nhớ, như bài của ông Trần Huy Liệu chống lại chính sách cải cách điền địa của Cút-xô chẳng hạn. Chả là Cút-xô dạo này đang làm giám độc Sở địa chính Bắc Kỳ. Hắn đã để nhiều thì giờ nghiên cứu và đề ra một chủ trương rất thâm hiểm và tinh vi. Trước khi Bơ-rê-vi-ê sang làm Toàn quyền Đông Dương, thuế thân ở Việt Nam nhất loạt là 2đ5 một người. Khi sang Đông Dương nhậm chức hắn bãi bỏ chế độ này và thay vào một chế độ thuế thân có nhiều bậc khác nhau: Người dân không có ruộng mỗi năm phải đóng một đồng, người có vài thước trở lên đóng 2 đồng rưỡi, rồi đến loại thuế thân cao hơn 7 đ, 40 đ một năm. Cút-xô phát hiện ra chỗ chưa “tích cực” của bậc bề trên về mặt kinh tế. Hắn đưa ra một chủ trương khá hấp dẫn chứng tỏ đầu óc thuộc địa “bạo dạn” của tên thực dân gian giảo. Theo Cút-xô, nên chia đều số ruộng công ở các làng xã cho nông dân. Như vậy không có một dân đinh nào lại không có ruộng. Người bản xứ sẽ tha hồ “ca tụng” công đức của hắn nếu không thấy thực chất vô nhân đạo của chủ trương khoác áo nhân tâm này. Rất rõ ràng, ngài Cút có con mắt kinh tế ma quái. Mỗi người dân đinh nhiều hay ít cũng đều có ruộng và hạng thuế thân 1 đồng không còn nữa. Ít nhất mỗi dân đinh hàng năm cũng phải nộp cho chính quyền Pháp ở Đông Dương số tiền là 2đ5. Vì thế túi tiền khổng lồ của các ông chủ thực dân mỗi năm sẽ có thêm hàng triệu đồng. Thật ranh như cáo và dữ như cọp!

Ông Trần Huy Liệu trên báo “Đời nay” đã ngang nhiên đập lại dã tâm của Cút-xô. Bài báo thuyết phục tôi bởi sự phân tích rõ ràng thấu đáo, lý lẽ sắc bén còn thái độ thì thật công phẫn.

Ngoài những bài báo ra nhiều bản tin thời sự nóng hổi cũng khiến tôi chú ý. Nào phong trào bãi công ở Nam Định, Hòn Gai, nào những cuộc biểu tình của công nhân, thanh niên, học sinh ở Hà Nội, Hải Phòng. Rồi các cuộc đấu tranh đòi cơm áo dân chủ hòa bình ở tronh Nam nữa. Chẳng hiểu sao tôi thấy lòng mình cũng nao nao khấp khởi. Hay là dự đoán của hai người tù ngày nào đang biến thành hiện thực? Gấp trang báo lại nhin ra chung quanh tôi vẫn chưa nhận ra nhiều biến chuyển của quê hương mình. Núi rừng chỉ mới xao động mà chưa rung chuyển...

Giữa khi ấy, lợi quyền của bọn thực dân không ngừng bao vây mồi chài cám dỗ tôi. Ngoài giờ làm việc chúng tôi được chơi bời mặc sức. 4 giờ 30 phút chiều linh bàn giấy đã có mặt ở bải bóng chơi ruy bi (ôm bóng ném thẳng vào gôn). Phong trào thể thao bốc lên cao lắm! Đến nỗi vài năm sau, quãng 41-42, tên giám binh Philíppông đã tổ chức sân bãi bóng đá ở thị xã Sơn La. Thống sứ Saten thân chinh lên khánh thành bãi bóng này. Tối đến bọn quan thầy mở rộng cửa trại cho lính tìm đến cần rượu, tìm đến bàn đèn và nhất là tìm đến gái đẹp. Chúng vuốt ve mơn trớn binh lính đủ cách. Chúng còn cho tổ chức lễ tuyên dương công trạng của lính thuộc địa. Trong buổi lễ, tên chánh xứ trịnh trọng tuyên bố quyết định đổi tên lính từ Gác-anh-đi-gien-nơ (Garde indigène – Lính bản xứ) thành Gác-In-đô-xi-noa-đơ (Garde Indochinoide – Lính Đông Dương). Mang cái dah mới này có vẻ được trọng vọng hơn!?

Tôi lên cai nhất được ít lâu lại lên đội nhì. Chức cao đi đôi với tiền nhiều. Có lần gặp tôi một người tù bảo:

- Lon và chức của anh chẳng qua là mồ hôi xương máu của bà con anh em mình. Chúng làm gì có công với các anh, chúng chỉ có tội thôi!

Im lặng, tôi ngẫm nghĩ. Trong trại lính cũng có một viên đội hiểu tâm trạng của tôi. Nghe đâu anh cũng ham đọc báo chí cách mạng thì phải. Nhiều lúc anh thành thực tâm sự:

- Anh Mười này! sao bọn Tây lại hay bôi xấu những người tù cộng sản kia nhỉ? Họ tốt bụng và giỏi giang thật đấy!

Có khi anh lại bảo:

- Dù bọn mình là lính Đông Dương hay lính gì gì chăng nữa thì cũng vẫn là đời lính đánh thuê cả. Chúng bỏ tiền ra mua mình và chúng có quyền khinh rẻ mình. Thật nhục nhã hết chỗ nói anh ạ!

Lời nói và suy nghĩ của người đồng sự tác động đến tôi rất nhiều.

 

6

Năm 1939, chính phủ Mặt trận bình dân Pháp đổ, chính phủ phản động Đa-la-đi-ê lên cầm quyền. Thời kỳ dân chủ chấm dứt. Tất cả những quyền tự do tối thiểu mà nhân dân ta đã giành được đều bị tước bỏ. Bọn thống trị đột ngột tung lưới chụp lấy những chiến sỹ cộng sản và phần tử tiến bộ. Hàng loạt những sắc lệnh đẫm máu của lũ phát xít được ban hành. Ở vùng núi, một cơ sở cách mạng bị khám phá thì cả bản bị triệt hạ. Chúng treo thưởng 1000 đồng và một tấn muối cho kẻ nào nộp một đầu cán bộ.

Đầu năm 1940, nhà tù Sơn La lại chật ních người, phần đông là đảng viên cộng sản. Lúc này tôi vừa được thăng đội nhất, một chức hạ sĩ quan khá cao đối với binh lính người dân tộc. Lại một nấc nữa trên bậc thang danh vọng.

Tôi được giao nhiện vụ kiểm duyệt thư từ của tù nhân. Thư gửi tới và thư chuyển đi đều qua tay tôi. Theo yêu cầu của quan thượng cấp, tôi đọc và nếu phát hiện ra điều gì khả nghi phải báo cáo lại tỉ mỉ để có cách xử trí kịp thời. Nhờ những bức thư này mà tên của các anh Xuân Thủy, anh Xứng (đ/c Thanh Nghị), anh Cảnh (đ/c Quốc Hoàn), anh Luống (đ/c Nguyễn Đức Quỳ)... trở nên quen thuộc với tôi. Đặc biệt sự có mặt của người tù Trần Huy Liệu ở đây khiến tôi sửng sốt. Thì ra, tác giả của bài báo nổi tiếng thời Mặt trận bình dân, ông chủ bút tờ “Đời nay” đã bị bắt. Tôi thầm mong sẽ được gặp anh vào một thời gian sớm nhất.

Được đọc thư của người tù tôi thú lắm. Toàn là thư tâm tình cả thôi. Các anh nhắc tới những việc bình thường trong gia đình và coi đó là kỷ niệm: Một bữa cơm có đông đủ người nhà, một cảnh chia tay trước lúc ra đi, một dáng dấp thân quen của đứa con trai duy nhất... Thư kể nhiều chuyện, vui có buồn có, chuyện nào đọc lê ncũng xúc động. Tôi hiểu rõ tình cảm đằm thắm sâu nặng của những người tù cộng sản. Bảo họ là kẻ “vô gia đình” “không có tim người” chỉ là lời vu khống, không hơn không kém.

Tự nhiên tôi có ý thích ra ngoài trông coi tù. Nhưng cảnh ngộ chưa cho phép. Thỉnh thoảng tôi qua lại nơi họ làm việc để nhìn ngắm và tỏ chút thiện cảm với họ. Tôi vẫn ấp ủ nỗi mong muốn gặp người tù Trần Huy Liệu, người mà tôi rất co cảm tình. Dịp may hiếm có đã đến. Và, mãi mãi tôi không bao giờ quên lần đưa anh Trần Huy Liệu đi gặp tên chánh xứ Cút-xô. Nó như một viên gạch nối đậm nét trên con đường tôi đến với cách mạng.

Hôm ấy là ngày làm việc bình thường trong tuần. Buổi sáng lính phần đông đi coi tù làm khổ sai. Một số ít cai đội bàn giấy chúng tôi vẫn làm ở văn phòng như mọi ngày. Tên giám binh xuống tìm tôi. Hắn đưa cho tôi một mảnh giấy có ký tên Cút-xô:

- Anh cử một người vào trại giam dẫn tù nhân Trần Huy Liệu lên gặp chánh xứ ngay!

Chẳng là từ ngày đeo lon đội nhất tôi được giữ chức Xếp Buya-rô (Chánh văn phòng). Dưới quyền tôi còn có một số cai, đội và lính. Đáng nhẽ tôi không phải đi. Nhưng khi nghe đến tên Trần Huy Liệu thì tôi thầm quyết định rồi. Không do dự gì thêm, tôi thân chinh làm nhiệm vụ của thượng cấp coi như là mệnh lệnh của chính mình.

Đến nhà tù, tôi đưa giấy xuất tù cho tên xếp ngục. Lát sau tù nhân đeo số 1573 đã đứng trước mặt tôi. thực tình tôi không thể ngờ Trần Huy Liệu lại là con người này. Dáng anh bé nhỏ, nước da ngăm đen và chân đi khập khiễng. Anh đeo kính đen to vì đang bị đau mắt. Trong trí tưởng tượng có phần lãng mạn của tôi Trần Huy Liệu là người cao to, trán rộng, cử chỉ mạnh mẽ khác người. Dù sao đây cũng là con người từ lâu đã chiếm cảm tình của tôi.

Anh nghiêng mình chào tôi một cách lịch sự. Tôi khẽ gật đầu. Trên đường từ nhà tù đến tòa xứ tôi nghĩ rất mông lung. Cút-xô sẽ hành hạ người tù mảnh khảnh này bằng cách nào? Hắn có quyền uy, có thế lực. Anh Trần Huy Liệu như miếng mồi ngon, còn hắn như một con hổ độc ác thèm khát đang vờn quanh miếng mồi. Tôi lo ngại cho anh quá chừng! Anh Liệu vẫn đi trước mặt tôi. Anh cũng im lặng. Chắc anh không biết những gì đang xáo động tâm tư của tôi.

Bàn giấy của chánh xứ hiện ra. Tôi thấy luyến tiếc vì chưa được nói chuyện với Trần Huy Liệu, con người tôi hằng yêu mến, khâm phục đến nửa đời. Cút-xô vận một chiếc áo véc-tông trắng, quần da nâu sáng và thắt cra-vát xanh màu nước biển. Y phục sang trọng tôn thêm dáng oai vệ của tên thực dân. Sau khi nghe tôi báo cáo theo kiểu nhà binh, hắn vồn vã giơ cả hai tay về phía Trần Huy Liệu:

- Ô! Ông Trần Huy Liệu, mời ông ngồi xuống đây!

Rồi tự tay hắn kéo ghế cho Trần Huy Liệu ngồi. Tôi rất lạ vì cách cư xử của hắn. Bẳng một thái độ cương nghị trầm tĩnh, Trần Huy Liệu nói:

- Cám ơn ông! Tôi quen thẳng thắn: Xin được biết ông cho gọi tôi đến đây có việc gì?

Cút-xô xoa tay vẻ tự mãn:

- Hôm nay chúng ta sẽ cùng tranh luận với nhau về bài báo dạo nào của ông.

Không chút chần chừ, Trần Huy Liệu nhìn thẳng vào mặt đối thủ:

- Vâng, nếu ông cho phép Trần Huy Liệu nói chuyện với Cút-xô thì tôi sẽ tiếp ông. Ông biết đấy, giờ đây tôi là một người tù.

Cút-xô cười ha hả:

- Được! Được thôi! Xin chiều ý ông. Tôi sẽ cởi áo chánh xứ để tiếp một trí thức học nhiều biết rộng như ông.

Tôi đừng nép vào một bên cửa chăm chú theo dõi trận đấu khẩu từ đầu chí cuối. Tôi hiểu, hai mũi nhọn sắp đụng độ nhau đây. Cút-xô là tên thực dân cáo già, còn Trần Huy Liệu là người cộng sản kiên cường từng trải. Ai sẽ thắng? Ai sẽ thua?

Thoạt đầu Cút-xô nói bằng tiếng Việt. Hắn nói thong thả, bóng bẩy như muốn khoe tài năm bắt ngôn ngữ ở xứ thuộc địa xa xôi này của mình. Trần Huy Liệu thì khác hẳn. Anh nói mạnh mẽ rành rọt. Thỉnh thoảng anh lại đứng dậy đập bàn giận dữ. Rất kịp thời Cút-xô nhún nhường đấu dịu:

- Ấy! Ông Trần Huy Liệu! Đừng nóng nảy! Tôi cho mời ông đến cốt để tâm sự với một trí thức có tên tuổi. Ông không nên mạt sát một quan chức cao cấp Pháp như thế!

Dường như không hề đoái hoài gì đến thái độ của Cút,  vẫn mỉa mai, giễu cợt, vẫn căm giận, khinh bỉ. Tôi không thể hiểu nổi tại sao sự thể lại diễn ra ngược đời đến như vậy. Cút-xô là chánh xứ, đứng đầu tỉnh kia mà. Và Trần Huy Liệu ai cũng biết là người tù, vận mệnh nằm trong tay hắn. Nhưng khi biết hắn không đánh đập anh, lòng tôi dễ chịu đôi chút. Đến lúc Cút-xô bí quá trở lại nói bằng tiếng Pháp thì tôi không tự trấn tĩnh được nữa. Hắn quát tháo lớn:

- Trần Huy Liệu! Ông cần biết rằng ông là một người tù.

Rất điềm tĩnh, anh nhìn địch thủ một cách thỏa mãn và kết thúc:

- Thôi được! Nếu ông muốn lấy thịt đè người thì câu chuyện của chúng ta hãy kết thúc ở đây!

Trần Huy Liệu từ tốn đứng dậy bước ra phía cửa. Cút gầm lên:

- Mẹc!...

Trần Huy Liệu quay lại nhìn viên chánh xứ tỏ vẻ khinh bỉ rồi bước ra. Tôi đứng ngây ra như pho tượng. Những gì mắt thấy tai nghe trong hơn một tiếng vừa qua khiến tôi không thể không sững sờ ngạc nhiên. Biết nói sao cho hết cảm nghĩ của tôi trên đường đưa anh Liệu trở lại nhà tù. Tình cảm rõ rệt trong tôi là lòng khâm phục kính nể anh và những người như anh. Một người với dáng dấp như thế, với sức lực như thế, với địa vị như thế lại là người chiến thắng. Sẵn đầu óc tôn sùng cá nhân tôi coi anh như một người có trí tuệ khác thường khó ai sánh kịp. Anh lại là người Việt Nam. Nước mình thật lắm người giỏi người tài.

Tới cửa xà lim Trần Huy Liệu quay lại mỉm cười hỏi tôi, như anh đọc được tâm trạng của tôi:

- Thế nào ông đội, ông thấy buổi gặp gỡ vừa rồi ra sao?

Tôi chưa kịp trả lời, anh đã hỏi tiếp vẻ e ngại:

- Ông không nói được tiếng Kinh à?

Tôi gật đầu ngượng nghịu.

Cánh cửa xà lim nặng nề sập lại... Nhưng đầu óc tôi lại như mở rộng thêm ra...

 

                                                                                             PHẦN II

                                                                                         Năm thuổ hua cọ pay

                                                                                                                Xưa kin cốn cọ pay.

                                                                                                                (Nước ngập đầu cũng đi

                                                                                                                Hổ vồ người cũng đi)

                                                                                                                Phương ngôn dân tộc Thái.

 

1

Tình cảnh của tôi như người đi rừng lạc lối, nhưng đã bắt đầu định được hướng đi. Giữa lúc ấy bọn xâm lược lại càng ra sức vỗ béo tôi nhằm biến tôi thành cho săn tận tụy của chúng. Con người tôi có sự giằng xé liên tục dữ dội, nhất là khi chúng cử tôi đi thi phó quản ở sân Quân ngựa Hà Nội. Con đường danh vọng thật thênh thang. Có nên đi không? Có nên nhắm mắt làm theo yêu cầu của chúng không? Chưa có điểm tựa tinh thần chắc chắn tôi đành buông xuôi vậy!

15 ngày trời tôi dự thi cả lý thuyết lẫn thực hành. Kết quả thi cử của tôi không cao lắm nên chúng chưa thăng phó quản ngay. Có điều chức vị đó ở ngay trong tầm tay của tôi rồi. Theo quy định của bọn thực dân, chánh quản coi việc trong trại lính, còn phó quản bao quát công việc bên ngoài. Tôi viện cớ sắp được thăng phó quản để xin ra trông coi tù nhân. Chúng chấp thuận. Thế là ngày ngày tay cầm ba tong tôi đi khắp nơi kiểm tra đốc thúc lính coi tù. Thái độ của tôi với binh lính thường nhã nhặn dễ dãi nên họ có phần quý tôi. Lính hay bảo nhau:

- Đội Mười tốt thật! Ông ấy lên phó quản thì dễ thở đây!

Là người cùng cảnh ngộ tôi hiểu tường tận nỗi lòng ước muốn của họ. Làm thân lính sướng nhất là khi chỉ huy tỏ ra thông cảm với mình. Quy định coi tù hết sức nghiêm ngặt. Đứng canh gác phải đúng tư thế: Đeo súng và súng luôn lên đạn và cắm sẵn lưỡi lê. Giống lính tráng đêm hay chơi khuya nên ban ngày thường mệt mỏi. Có người tựa vào cây ngủ gà ngủ gật, lại có người tựa súng vào sườn cho đỡ nặng. Người chỉ huy bắt được chỉ cần báo cáo ngắn với cấp trên: “Người lính A coi số tù B vi phạm quy định C” là lập tức bị phạt liền. Nhẹ thì phạt Salle de police (ở trong buồng lính) hay Consague (ở lại trại lính) không được ra ngoài. Nặng thì phạt prison (tù trong trại) 8 ngày hay 16 ngày. Lính bị phạt prison tối bị giam và ngày phải đeo gạch, cát rõ nặng đi vòng quanh sân trại lính. Bắt gặp lính vi phạm quy định tôi chỉ nhắc nhở nhẹ nhàng, không báo với Tây. Lúc vắng vẻ, thấy người lính nào đi qua tôi bảo:

- Khi có mặt Tây các anh cố gắng tuân thủ theo quy định. Còn khi vắng mặt chúng các anh có thể tự do chút ít. Nên cẩn thận, trên đời này không phải ai cũng tốt cả đâu!

Họ quý tôi, mến tôi và thấy lạ trước sự vị nể của tôi đối với anh em tù chính trị. Công việc khổ sai tù nhân làm bao giờ cũng nhiều và nặng. Hết xe nước, đập đá, làm gạch vôi lại lấy củi, phát nương. Việc ông sở cũng có, việc tư cho bọn cai ngục, giám binh, chánh xứ càng nhiều. Công việc quanh năm suốt tháng hầu như không mấy lúc nghỉ ngơi. Lại thêm chế độ sinh hoạt quá thiếu thốn khổ sở và bệnh tật hiểm nghèo hoành hành. Thân hình người tù ngày một tiều tụy bi đát. Tôi thuyết phục những người lính thân cân ít bức anh em làm lụng. Và hàng buổi thường cho tù nhân nghỉ trước giờ quy định chừng 7 phút đến 15 phút. Người tù có điều kiện tắm rửa nghỉ ngơi thoải mái.

Đặc biệt tôi tìm mọi dịp để gần gũi gặp gỡ anh em tù nhất là tù nhân Trần Huy Liệu. Một hôm tôi đưa toán tù nhân có anh Trần Huy Liệu sang phát cỏ mững ở mé đồi phía gốc ổi. Rất tự nhiên, anh Liệu và tôi cùng tìm đến nhau. (Sau này tôi được biết tổ chức bố trí anh gặp tôi).

- Chào ông đội! – Anh lên tiếng trước.

- Nên gọi tôi là “anh” cho thân mật!

Tôi mạnh dạn đề nghị, lúc đó tù và lính đã tỏa ra gần khắp quả đồi.

- Vâng! Tôi xin được tiếp chuyện với anh.

Nói xong Trần Huy Liệu đi trước, tôi như cái máy theo sau anh. Đầu tôi lóe lên một ý nghĩ: Sao anh lại đối xử với mình nhã nhặn như vậy! Tới một góc kín, chúng tôi bẻ lá cây tùng ngồi xuống. Tôi không kìm được lòng mình nữa:

- Anh Trần Huy Liệu ạ! Tôi biết tiếng anh đã từ lâu. Mấy năm trước tôi được đọc báo “Đời nay” do anh làm chủ bút. Gần đây lại được chứng kiến cuộc tranh luận giữa anh với Cút-xô. Anh nói có lý có lẽ tôi thích lắm!

- Không có chính nghĩa thì không đủ lý mà bẻ nó đâu anh ạ! – Anh Trần Huy Liệu cười thân tình. Không có chính nghĩa cũng không thể bắt nó cởi áo chánh xứ nói chuyện với người tù như tôi đây!

Nghe anh nói, tôi như thấy anh chính là hiện thân của lẽ phải, của chính nghĩa. Tôi tin anh và anh gần gũi với tôi hơn.

- Tôi theo dõi suốt từ đầu đến cuối cuộc đấu khẩu. Lý thú thật! Nó phải chịu thua anh.

Giọng Trần Huy Liệu bắt đầu hào hứng:

- Anh xem lúc đầu nó nói bằng tiếng Việt. Khi đuối lý nó phải xổ hàng tràng tiếng Pháp ra. Nó như nhắc tôi: Liệu hồn, hãy nhớ anh đang tiếp chuyện với viên quan cao cấp của nước Đại Pháp đó. Điều ấy có nghĩa nó chấp nhận thất bại rồi!

Nói đến đây nét mặt anh trở nên nghiêm nghị. Ngừng một lát, anh tiếp:

- Anh Mười ạ! Tôi biết anh cảm tình với chúng tôi.

- Vâng!

- Sở dĩ chúng tôi đến tìm anh vì anh là người tốt. Nhìn cách cư xử của anh với binh lính và tù nhân là chúng tôi đủ rõ...

Tôi đăm chiêu suy nghĩ. Giây phút này tôi thấy thiêng liêng vô cùng. tôi biết mình đang đến gần lẽ phải, đến gần chính nghĩa. Tiếng nói nhỏ mà rõ của anh vẫn vang lên:

- Anh lại là người chỉ huy có hiểu biết. Lon đội nhất của anh không đi liền với tội ác. Anh có thể giúp chúng tôi rất nhiều...

- Nhưng... để giúp các anh tôi có thể làm được việc gì? Liệu các anh có tin tôi không? – Tôi thành thực nói ra nỗi băn khoăn của mình.

- Rồi anh sẽ thấy chúng tôi cần và tin anh đến mức nào!

Câu chuyện tới đây xoay sang Cách mạng tháng Mười Nga. Anh say sưa kể về đất nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên như đang kể về một thiên đường thật sự của tự do và hạnh phúc. Tôi khấp khởi. Tôi ao ước. Tôi bị niềm tin của anh chinh phục từ lúc nào. Đây là lần đầu tiên tôi được trực tiếp nghe người cộng sản nói về Cách mạng tháng Mười với niềm tự hào và sung sướng đến thế. Tôi ghi nhớ lòi cuối cùng của anh:

- Nhà nước Liên Xô luôn nghĩ đến việc nâng cao đời sống của người lao động, còn bọn đế quốc lại chỉ tìm đủ cách để gây chiến tranh. Anh tính, nếu bọn chúng dồn tiền của theo đuổi ý đồ gây chiến vào mục đích dân sinh thì trên hành tinh này ai ai cũng no đủ, làm gì có cảnh chết đói, làm gì có người thất nghiệp.

Thật rành rọt!

Từ hôm ấy, anh Trần Huy Liệu tìm cách chuyển tài liệu tuyên truyền cho tôi đọc. Anh Luống (Nguyễn Đức Quỳ) hồi này chuyên giúp thêm cai ngục lo việc giao tù và cắt cử công việc cho tù nhân. Chắc anh cũng ở Ban bình vận nên gần gũi tôi luôn. Tôi thường nhận tài liệu và báo “Suối reo” từ tay anh để tìm hiểu. Chả là vườn nhà tù có một túp lều nhỏ dựng tạm để tiện trông coi rau. Anh Luống hay cử người khiêng rác xuống hố cạnh vườn đổ. Dưới đáy sọt thường có một số báo “Suối reo” mới hoàn thành. Bào chép tay, viết chữ đẹp, trình bày khá mỹ thuật. Tôi lạ lắm! Họ viết khi nào? Bằng cách nào? Giấy ở đâu? Mực ở đâu? Lạ nhất là trong hoàn cảnh sống thiếu thốn khổ ải đến như vậy mà họ có thể làm được thơ, viết được văn. Tôi nghĩ đến anh Trần Huy Liệu và cuộc đụng độ hôm nào. Khi người ta có chính nghĩa người ta sẽ làm được mọi chuyện. Sức mạnh tinh thần của con người quả phi thường.

Nhiều bài trong “Suối reo” tôi rất thích. Có đoạn đến giờ tôi vẫn không quên, như đoạn chúc tụng ở bài “Chúc xuân” của Mậu Chi chẳng hạn:

Một tôi mừng đường Sơn La dốc tựa cầu vồng

Đẩy xe gối mỏi lưng còng toát cả mồ hôi

Hai tôi mừng kíp vào đá lò vôi

Đứt dây đá rung đời ơi là đời!

Ba tôi mừng mấy anh làm bếp. làm bồi

Đánh xong cạo chảo con người khá lọ lem

Bốn tôi mừng phần sở “ô ten”

Gánh nhiều phân ngựa có phen gãy sườn...

Đâu có mười điều chúc mừng thì phải. Mừng gì lại oái ăm đến thế! Nghĩ kỹ lại thấy con người này đang ngạo nghễ cười trước bao gian hổ ở đời. Lòng ham sống thật quý làm sao! Tôi đâu dám sánh cùng những con người ấy.

 

2

Qua anh Liệu và anh Luống tôi được giao những công tác cách mạng đầu tiên. Trước hết là việc tạo điều kiện cho anh em tù học tiếng Thái. Đây là một chủ trương tích cực đúng đắn của chi bộ nhà tù.

Thực dân Pháp tăng cường mở rộng nhà tù Sơn La không phải không có lý do của nó. Những người cộng sản “cứng đầu cứng cổ” bị đầy lên Sơn La để không còn hy vọng gieo hạt giống cách mạng nơi quần chúng được nữa. Họ phải vượt qua ít nhất bốn cửa ải. Một là: chốn “rừng thiêng nước độc” này sẽ giết dần giết mòn họ. Hai là: núi đồi hiểm trở sẽ ngăn cản mọi ý định vượt ngục của họ. Ba là: ngôn ngữ bất đồng người cộng sản và người dân tộc không hiểu nổi nhau. Và bốn mới là: hệ thống bốt đồn canh phòng nghiêm ngặt ở các tuyến đường trục.

Hiểu rõ mưu đồ của kẻ thù, các chiến sỹ cộng sản có quyết tam rất cao trong việc học hỏi tiếng địa phương. Binh linh là đối tượng trước tiên để người cộng sản tuyên truyền, và cũng là đối tượng trước tiên giúp người tù học tiếng Thái. Bởi một lẽ đơn giản người lính gần người tù hơn cả. Đâu có tù là đấy có lính. Từ lúc đặt chân đến suối Rút anh em tù đã phải giao tiếp với binh lính. Bọn thực dân chủ trương cô lập người tù một cách cao độ. Lính canh phải đứng cách tù 6 bước (Trong khi dân thường cách xa 10 bước). Tuyệt đối không được ai trò chuyện giao dịch với tù nhân. Bọn chúng dọa dẫm:

- Loại người kia rất nguy hiểm. Chúng sẳn sàng giết người cướp của. Các anh là những người hiền lành tốt bụng chớ đến gần chúng!

Để đào sâu thêm hố ngăn cách về ngôn ngữ giữa người tù và người dân tộc, chúng thường xuyên đổi tù đi các nhà lao khác. Thành ra quen quen một chút thì các chiến sỹ cộng sản lại phải chuyển đi. Kẻ thù thật xảo quyệt.

Dù khó khăn người cộng sản vẫn không nản, không bao giờ nản. Ánh sáng cách mạng vẫn từ nhà tù chiếu rọi ra bên ngoài.

Tôi được anh Trần Huy Liệu giới thiệu gặp anh Huệ (tức anh Phạm Văn Hảo, sau này là Viện trưởng Viện bảo tàng cách mạng, nay về hưu) và anh Xe Bân tức Mai Đắc Bân. Nhiệm vụ của tôi là bằng mọi cách giúp hai anh học kỳ thạo tiếng Thái để vận động tuyên truyền quần chúng người dân tộc.

Anh Huệ và anh Bân thuộc loại tù cầm cố (Interm Adminiestratif) được đi làm tự do bên ngoài. Việc hàng ngày của anh là xuống các bản quanh thị xã xin tro về đóng gạch. Đây là một thuận lợi hiếm có để học tiếng Thái. Phải lo đốc thúc chung, tôi không trực tiếp đi cùng hai anh được. Tôi nghĩ ngay đến việc chọn những người lính đi kèm sao cho các anh có điều kiện học kết quả nhất. Quả khó khăn! Người lính trước hết phải quen thuộc thân cận với mình. Sau nữa những người lính đó phải tinh nhanh vừa biết tiếng Thái vừa biết tiếng Kinh. Trong trại lính có một số con em tôi như Lò Văn Uẩn (số lính 1695), Lường Văn Piệng (số lính 1690) là cháu tôi, anh Lò Văn Pấng (số lính 1027) là em họ tôi và nhiều người thân thuộc khác. Do vậy để thỏa mãn tiêu chuẩn đầu còn dễ dàng. Nhưng để thỏa mãn tiêu chuẩn thứ hai thì thực nan giải. Ở chốn rừng này ngày trước người biết tiếng Kinh rất ít, thạo tiếng Kinh càng ít nữa. Bản thân tôi từng qua trường này trường nọ lại có điều kiện tiếp xúc nhiều với người Kinh cũng mới chỉ dùng được ít tiếng, nói gì tới người khác. Nhiều anh em từ khi nhập lính đến khi mãn hạn lính, 5 năm trời, mà không nói được nhiều từ Việt thông dụng.

Nghĩ mãi, cuối cùng tôi cũng lựa được một số người tàm tạm ưng ý. Cú thế tù – lính gần nhau, học hỏi lẫn nhau. Tây nào, quản nào có thể để mắt đến bản Cọ, bản Hẹo, Mường La. Tôi dăn lính không chỉ dạy tiếng mà dạy cả tục kiêng kỵ để anh em gây được cảm tình với đồng bào.

Phải kể ngay rằng, bằng thái độ và bằng hành động hai anh đã cảm hóa lại những người lính giúp mình. Các anh cư xử đúng mực, tư thế đường hoàng, nói năng tỏ ra kính nể thông cảm với đồng bào. Quần áo các anh mặc là quần áo tù nhân nhưng sạch sẽ tươm tất lắm. Cái đáng phục hơn cả là lòng ham học hỏi tiếng nói dân tộc của hai anh. Đồng bào thấy ai cặm cụi học tiếng của dân tộc mình là quý mến thật sự. Có tôn trọng đồng bào mới học tiếng nói của họ mà! Lòng tốt của các anh truyền lan nhanh. Đâu đâu đồng bào cũng bảo nhau:

- Những người tù áo trắng tốt thật!

Mới hay đạo đức cách mạng quan trọng thực. Không có đạo đức cách mạng thì không thể làm cách mạng nổi.

Được mọi người không riêng gì lính đồng tình hai anh học rất nhanh. Chỉ sau một thời gian ngắn các anh không chỉ biết tiếng mà còn biết chữ và thuộc lòng một số bài dân ca nơi làng bản.

Sau này, khi nửa nước được hoàn toàn giải phóng, tôi có đến thăm anh Phạm Văn Hảo. Anh tặng tôi quyển “Viện bảo tàng cách mạng Việt Nam” làm kỷ niệm. Trên trang đầu tập sách anh dí dỏm viết nắn nót họ tên tôi và họ tên anh bằng chữ Thái. Thật xúc động! Những ngày hoạt động năm xưa như sống lại trong ký ức của chúng tôi. Đúng như ý nghĩ của anh Nguyễn Đức Quỳ trong thư gửi gần đây cho tôi: “Viết thư cho anh trong những ngày mà chung quanh rạo rực tiếng nói lời ca về cách mạng, về Đảng, về Bác Hồ. Tôi thèm muốn gặp lại những người trong gian khổ trước kia để hàn huyên, để thấy những bước dài mà dân tộc ta đã trải qua cùng những triển vọng tốt đẹp đang chờ đón chúng ta”. Rồi tôi và anh cùng hát lên bài dân ca Thái quen thuộc:

Bók tẩu kiểu bók tanh

Báu đảy pênh mía pánh to pên me nọi

Me nọi khỏi hoi bai

Me pai khỏi cốm đáp

Me nọi khỏi tứ háp bung món

Khỏi tứ con bung lẩu

Tứn chậu tắc nặm haử mía chẩu suối tin

Dịch mộc:

Hoa bầu cuống hoa dưa

Không được làm vợ quý xin làm vợ lẽ

Vợ lẽ là tôi tớ roi mây

Vợ lẽ là tôi tớ lưỡi gươm

Vợ lẽ là tôi tớ đội gánh bung dâu tằm

Là tôi tớ đôi chiếc bung rượu

Sáng dậy múc nước cho vợ cả rửa chân

Hát xong chúng tôi ôm nhau cười. Tôi quay nhìn chị Hảo. Chị rơm rớm nước mắt vì cảm động.

Trở lại những năm tháng trước kia, cuối buổi làm anh Hảo và anh Xe Bân lại gánh tro về phía lò gạch. Vào khoảng thời gian ấy tôi hay lảng vảng ở quanh đó để gặp gỡ các anh. Tôi động viên:

- Các anh sáng dạ lắm! Chỉ trong một thời gian ngắn mà biết được nhiều. Thực ra nói tiếng Kinh những điều thông thường đồng bào cũng lõm bõm hiểu được thôi. Nhưng lúc giao dịch lại nói bằng tiếng Thái, trúc trắc sai sót cũng được họ quý hơn.

Các anh thường dùng ngay vốn liếng tiếng địa phương vừa học được nói chuyện với tôi. Thấy sai tôi sửa liền. Ngữ pháp tiếng Thái có đôi nét khác nhữ pháp tiếng Việt. Như tiếng Việt nói: “Một đàn vịt”, tiếng Thái nói ngược lại: “Đàn vịt một”. Lúc đầu các anh hay lẫn một số cách nói thông thường đó. Tôi uốn nắn. Các anh sửa lại và cả bọn cùng cười.

Nhiều khi tôi giảng giải thêm một vài hiện tượng tương đồng với tiếng Việt cho các anh rõ. Như tiếng Thái có một số từ vay mượng tiếng Kinh hoặc phát âm na ná tiếng Kinh: Mỏi – mỗi; Pên – nên; Mết – mất; Vịa – việc... Nắm được mối tương quan trên, việc học tiếng sẽ nhanh hơn.

Từ một vốn tiếng Thái ít ỏi ban đầu, các anh mạnh dạn học hỏi thêm đồng bào. Chẳng bao lâu hai anh sử dụng thành thạo tiếng địa phương. Biết rồi các anh dạy lại các đồng chí của mình. Những chiến sỹ cộng sản qua hai anh, qua các mối quan hệ khác mà mau chóng nắm trong tay một công cụ đắc lực để tuyên truyền giác ngộ tổ chức quần chúng cách mạng. Co những bài hát bằng tiếng Thái đã ra đời như bài hát của đồng chí Nguyễn Văn Trân:

Kray nị xum hau khổ lai

Kháu bàu nhăng kin, páy pá khút mắn

Hák ma mắn nết còm cọi

Ma lăng an săng liệng lụk, liệng mia

Nộp thuế pay cheo, pay lính

Poịn cằn xum hau tứu khửu...

(Bây giờ chúng ta nhiều cực khổ

Gạo chẳng còn đào củ kiếm ăn

Nhưng rồi củ cũng hết dần

Lấy gì nuôi vợ nuôi con sau này

Lại nộp thuế đi phu đi lính

Cùng nhau ta nhất định đứng lên!...)

Từ đây mới có tổ chức “Tay móm chất nương” (Thanh niên cứu quốc Thái), cơ sở cách mạng đầu tiên ở khu Tây Bắc. Cũng từ đây mới có những Lò Văn Giá, Chu Văn Thịnh, Cầm Văn Thinh... – Một thế hệ thanh niên đủ nhiệt tình cách mạng lao vào cuộc đấu tranh sinh tử với quân thù.

 

3

Những ngày Tết cổ truyền của dân tộc, anh em có dịp tổ chức đời sống vật chất và đời sống tinh thần thật đàng hoàng. Đây cũng là một cơ hội tốt cho người tù tuyên truyền cách mạng. Trước Tết 42, anh Liệu bào tôi:

- Nhân dịp Tết Nguyên Đán, chúng tôi dự định tổ chức một đêm văn nghệ nhằm tuyên truyền rộng rãi tư tưởng cách mạng trong tầng lớp binh lính, công chức và nhân dân thị xã. Anh gắng vận động binh lính vào xem càng nhiều càng tốt.

Nội dung và hình thức buổi công diễn được thông báo cụ thể lên tên chánh xứ. Anh Khuất Duy Tiến là người nói tiếng Pháp hùng hồn biện luận lại chặt chẽ được cử làm công việc ngoại giao này. Đầu tiên chúng e ngại và tìm đủ mọi cách cản trở. Anh em tù đấu tranh mạnh mẽ chúng đành chấp nhận. Để đề phòng bất trắc, chánh xứ và giám binh ra lệnh cho trại lính canh gác cẩn mật, đồng thời tăng cường kiểm soát người ra vào.

Đêm ấy cửa nhà tù mở rộng đón đồng bào khắp nơi vào xem. Một vở kịch dàn dựng công phu được trình diễn. Lâu rồi, tôi quên mất tên và nội dung vở kịch. Tôi chỉ mang máng nhớ vở kịch có nhiều yếu tố gây cười, dí dỏm và sâu sắc. Anh Luống đóng vai thiếu nữ tân thời thật ngộ. Anh vận quần áo dài trắng, nói giọng the thé, lại thêm phấn son nữa. Mỗi lần vai anh xuất hiện trên sân khấu, bất kể binh lính, học sinh, nhân dân hay người tù đều ôm bụng cười. Nhiều binh lính xì xào:

- Sao họ kiếm đâu ra quần áo diện thế nhỉ?

- Cha mẹ họ gửi lên đó, nhà họ giàu lắm!

- Không! Họ mượn ở Chiềng Lề, chính tôi được biết mà!

Nhiều lời khen hơn cả là nơi đám công chức. Tâm lý của họ vừa vị nể những kẻ quyền cao chức trọng vừa ưa chuộng những người anh tài văn hay chữ tốt. Bọn họ luôn tỏ ra sành sỏi khi thưởng thức nghệ thuật:

- Trời! Diễn xuất tài quá! Chắc trước đây họ là người ở rạp hát mới giỏi giang như vậy.

Thị xã Sơn La ngày trước thỉnh thoảng cũng được đón một vài gánh hát ở xuôi lên trình diễn tuồng hoặc chèo. Phần đông đồng bào không thích cho lắm. Giờ được xem kịch nói vừa lạ vừa hay, tiếng trầm trồ cho đến mấy ngày sau:

- Họ giỏi thật! Thông phán không sánh kịp!

- Họ giỏi thế mới tuyên bố đánh Pháp đuổi Nhật được chứ!

Và đồng bào ao ước:

- Giá Tết nào người tù cũng làm thế này thì thích nhỉ!

Khó lòng kể hết được những lời khâm phục khen ngợi như vậy. Người cách mạng đâu chỉ kêu gọi đấu tranh thôi đâu. Họ làm nghệ thuật cũng tài tình. Đêm văn nghệ đã đưa quần chúng lại gần người tù hơn. Binh lính đối xử với người tù từ đó cũng thêm dễ dãi, kiêng nể.

Cũng vào dịp này, Nghị quyết của Hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng được Chi bộ nhà tù Sơn La tiếp nhận. Dựa vào tình hình thực tế, Chi ủy kịp thời đề ra chủ trương sáng suốt: Tăng cường tuyên truyền vận động xây dựng cơ sở cách mạng ở bên ngoài nhà tù, chuẩn bị để tiến tới khởi nghĩa ờ Sơn La khi có đủ điều kiện. Nhiều bước chuyển táo bạo của phong trào cách mạng nơi rừng núi quê tôi diễn ra một cách sôi nổi.

Có lần, lúc anh em tù đi làm về, anh Liệu gặp tôi:

- Anh Mười ạ! Chi bộ nhà tù có cử một số đồng chí học cách sử dụng vũ khí để làm quen với súng đạn của Pháp. Cứ học trên lý thuyết thật ít kết quả. Anh có thể tạo điều kiện cho anh em nhóm lấy củi mượn súng tập được không?

Lông mày tôi nhíu lại nghĩ ngợi. Đoán được nỗi băn khoăn của tôi, anh tiếp:

- Anh em tù có người giác ngộ thấp, có người giác ngộ cao. Anh chớ lo! Chúng tôi sẽ cử một đồng chí dày dạn kinh nghiệm phụ trách. Tin rằng không làm phiền lụy đến binh lính đâu!

Anh Liệu vốn quen tỉ mỉ chu đáo. Giao việc cho ai, anh bao giờ cũng bàn cách thực hiện đến nơi đến chốn. Công việc này hệ trọng mà cũng khá nguy hiểm. Tôi biết tổ chức đang thử thách tôi, phải xứng đáng với lòng tin cậy, sự hy vọng của các anh. Tôi suy đi tính lại nhiều lần. Súng Pháp có hai loại: Súng ngắn trang bị cho lính cơ và súng dài trang bị cho lính khố xanh. Tôi phải giúp anh em biết tháo lắp súng và thạo các tư thế bắn. Nếu vậy súng loại ngắn hay súng loại dài đều có thể được cả. Cùng cách cấu tạo, cùng cỡ đạn, chỉ khác loại súng ngắn bắn giật hơn loại súng dài. Công việc chuẩn bị dự định tiến hành từng bước thận trọng và chắc chắn. Tốp lấy củi do đồng chí Cảnh làm tổ trưởng chừng hai mươi người. Bình thường một lính kèm đến năm sáu tù thì ở trong rừng theo quy định một lính chỉ coi ba tù. Chúng sợ người tù lợi dụng rừng rậm sẽ vượt ngục. Hai mươi người lấy củi cần cử sáu, bảy lính trong đó phải có một cai chỉ huy. Trước hết cần cân nhắc chọn lựa người chỉ huy cho tin cẩn. Tôi nghĩ ngay tới Cai Piệng, cháu gọi tôi bằng cậu. Thời gian còn làm Xếp Buya-rô (Chánh văn phòng) tôi có đưa anh ta vào lính khố xanh. Anh mang ơn tôi nhiều. Những ngày tại lính tôi thấy anh chăm đọc báo tiến bộ và bước đầu có cảm tình với cách mạng. Chuyển biến tư tưởng của anh rõ nhất là khi anh xem đêm biểu diễn văn nghệ nhân dịp Tết 42. Đúng! Phải chọn anh ta thôi! Tôi thầm quyết định và gặp anh thực hiện ngay ý định:

- Cậu biết anh là người tốt bụng nên mới nói với anh điều này. Người tù có ý muốn mượn súng để tập. Anh cố tạo điều kiện bị mật đưa súng cho họ, chắc người tù sẽ không phụ lòng tin của anh đâu. Tất nhiên đầu tiên chỉ cho mượn một khẩu và không cho mượn đạn. Còn xem thử ra sao chứ! Và khi họ tập, anh cần nhắc lính canh phía đường sáu cho nghiêm ngặt. Đề phòng thôi! Anh biết đấy, rất ít khi đội quản đi kiểm tra. Nhưng cẩn thận vẫn hơn.

Tôi bàn thêm với Cai Piệng:

- Anh nên gương mẫu cho mượn trước. Thấy người chỉ huy không ngại, lính sẽ suy nghĩ chứ, phải không?

Được tôi tin cậy, Cai Piệng vui lòng nhận lời. Hôm ấy Cai Piệng cho anh em tù phía bản Nạ Cò mượn súng. Mọi việc đềm êm thấm. Anh em thay phiên nhau người tập người lấy củi, cũng có buổi cả nhóm lấy củi xong và dành thời gian còn lại để tập luyện. Củi lấy đủ và tập luyện vẫn có kết quả.

Hai ngày sau tôi hẹn Cai Piệng:

- Hôm nay cậu sẽ vào kiểm tra. Anh thuyết phục lính cho người tù mượn thêm một khẩu nữa. Rồi họ sẽ thấy an tâm trước thái độ của cậu.

Lần kiểm tra của tôi khá đường đột. Binh lính ngớ người ra lo sợ. Họ hết nhìn vào tôi lại nhìn chằm chằm vào Cai Piệng như có ý phân trần. Tôi nói vừa đủ nghe:

- Này! Các anh làm thế là sai quy định đấy! Nhưng không sao! Người tù là dân nước mình cả. Người tù không định bỏ trốn vì họ biết giữ lời hứa với các anh, họ biết bảo vệ các anh. Như vậy đủ rõ họ là người như thế nào! Tôi sẽ không báo với Tây đâu, đừng lo! Có điều các anh cần thay nhau canh gác cẩn mật. Không phải cai đội nào cũng là người tốt. Làm ơn cho người mà vẫn giữ được mình mới hơn.

Dù họ không nói ra lời, tôi vẫn biết lính hả hê lắm. Mãi nhiều ngày về sau họ còn kể cho nhau nghe về chuyện đó. Họ thầm thì to nhỏ:

- Ông Đội Mười tốt với lính thật đấy! Vào tay Quản Phật mà coi, có tù mọt gông!

Ông Đội Mười thế nọ, ông Đội Mười thế kia... Tiếng lành về tôi truyền lan nhanh.

Có súng, anh em tù tập nhiều buổi liền. Kết quả thật đáng mừng. Quan hệ giữa lính và tù ngày càng thêm cởi mở. Nhiều buổi lính phó mặc cho người tù ở giữa rừng tập luyện. Họ kéo nhau vào bản ngủ hoặc chơi xóc đĩa. Đến giờ nghỉ anh em tù cử người đến nhắc lính cùng về. Binh lính thấy người tù thật lòng thương mình, tự nhiên kính nể khâm phục...

Một lần lính coi tốp lấy củi ở phía bản Giảng cho tù mượn súng tập. Chẳng may có một tên đội khét tiếng ác ôn đi kiểm tra. Anh Trần Thế Môn đang tập liền vội vàng giấu súng vào đống củi. Thằng đội không phát hiện ra. Mọi người nhìn nhau hú vía. Chuyện ấy đến tai tôi, tôi liền bảo lính dưới quyền:

- Người tù biết bảo vệ các anh như vậy đấy! Các anh có thấy họ tốt không?

 

4

Một ngày tháng 8 năm 1943.

Nhà tù Sơn La đang yên ắng đột nhiên báo động ầm ĩ. Bốn tù, toàn những người quan trọng: Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh, Lưu Đức Hiểu, Nguyễn Văn Trân đã vượt ngục. Chánh xứ, giám binh nhất là hai tên giám ngục Guglielmi và Giovanetti lo cuống cả lên. Mặt mũi thằng nào thằng nấy xanh mét lo sợ. Hôm sau giám bịnh lệnh cho tôi đem năm lính đi truy nã. Nó biết tôi rất quen vùng này. Hàng năm phìa tạo địa phương thưởng đi chuyển giao lính ở thị xã. Tôi nhẵn mặt bọn chúng. Còn đường lối đi lại thì chẳng phải nói. Có ngõ hẻm xó rừng nào ở quanh đây mà tôi không biết đâu.

Tôi chia lính thành hai tốp. Một tốp đi dọc đường sáu, một tốp trong đó có anh Ún (số lính 1997) và anh Hậu (số lính 1922) do tôi dẫn đầu vòng qua đường Sông Đà. Tới Tạ Chan, phìa tạo gặp tôi liền thóc mách ngay:

- Mới hôm kia Giá cùng bốn người mặc quần áo đen như đi buôn thuốc phiện lậu qua đây! Cả bọn đều có thẻ thuế thân.

Tôi bảo chúng:

- Các anh biết không rõ nói ra e phiền đấy. Tây sẽ gọi lên Sơn La. Lóc cóc đi bộ một ngày đường, đến nơi lại không được yên đâu. Nào hỏi cung, nào vặn vẹo đủ điều. Tốt nhất cứ lờ đi là hơn.

Tôi cũng bảo lính:

- Ta vào nhà người quen hút thuốc ăn uống cho thỏa thích, dại gì!

Bọn tôi kéo nhau vào nhà phìa Nông Văn Trực ăn, hút và nói chuyện tào lao cho hết ngày. Sáng hôm sau tôi tự về báo cáo:

- Chúng tôi chia làm hai tốp ngày đêm dò xét nghe ngóng hỏi han vẫn không thấy tăm hơi gì. Có lẽ bọn nó qua ban đêm hay đi đường khác chăng?

Tên giám binh động viên:

- Các anh đi lùng sục vất vả quá! Cho anh và lính được nghỉ ngơi một ngày.

Vài hôm sau tôi được tin Cầm Văn Chiêu (Châu úy Mai Sơn) cũng đến Tạ Chan. Nó dò biết và báo lên tòa xứ lấy thưởng. Chánh xứ tức tốc cho tay chân vào bản Co bắt Lò Văn Giá. Cái chết của người thanh niên giàu nhiệt huyết ấy khiến tôi vô cùng đau xót.

Cho tới lúc này, thực tình tôi vẫn chưa biết có phải mình đang làm cách mạng hay không. Tôi được các anh lãnh đạo giao trách nhiệm báo tin tức thường xuyên của Nhật – Pháp chi Chi bộ nhà tù. Báo “Đông Pháp” dạo ấy lưu hành ít, chỉ có hai số ở tòa xứ và trại lính. Tôi không bỏ sót những bài quan trọng như Nhật đến Hà Nội làm gì? Phong trào đấu tranh trong các nhà máy đồn điền ra sao? Qua Cai Thát (lúc giờ làm cai thơ lại ở văn phòng) tôi còn biết những chuyện trao đổi hàng ngày giữa chánh xứ và giám binh. Mọi vấn đề hệ trọng như ý định mở rộng nhà tù, việc chuyển tù ở Hỏa Lò lên hay chuyển giao tù ở đây tôi đều biết khá rõ. Những dòng tin nóng hổi, bức thiết qua nhiều nguồn trong đó có tôi kịp thời đến với Chi ủy nhà tù.

Quãng đời hoạt động cách mạng của tôi có biết bao sự kiện. Nhưng giây phút được nghe anh Nguyễn Đức Quỳ nói về tổ chức Đảng trở thành sâu đậm trong ký ức của tôi. Hôm ấy khi nghe tôi báo cáo xong tình hình, anh Quỳ chậm rãi nói:

- Anh Mười ạ! Như lần đầu gặp anh tôi đã nói: Chúng tôi tuyên truyền mong giúp anh hiểu được con đường cách mạng, rồi từ đó anh sẽ tác động tới binh lính của anh. Trong thời gian qua anh làm được một số việc táo bạo có ích cho sự nghiệp chung. Từ việc lớn đến việc nhỏ anh tỏ ra không sợ khó, không sợ khổ. Tôi xin hoan nghênh tinh thần của anh!

Ngừng một lát, anh nói tiếp:

- Từ khi Ban binh vận thành lập và có sự tham gia tích cực của anh, binh lính ngày càng ủng hộ kính nể người tù. Nếu đối chiếu với Điều lệ của Đảng thì anh đã đủ tiêu chuẩn để được đứng trong đội ngũ của Đảng. Nhưng mong anh hãy thông cảm cho Đảng. Tổ chức Đảng chưa có chủ trương kết nạp những người có vai vế trong quân đội Pháp. Bài học này được rút ra từ kinh nghiệm xương máu của cuộc bạo động non ở Thái Nguyên do Đội Cấn và Đội Giá cầm đầu. Chúng tôi mong anh chớ nhụt lòng hăng hái. Một ngày không xa anh nhất định sẽ được đứng trong đội ngũ quang vinh của Đảng thôi!

Lắng nghe anh nói, lòng tôi lại bồi hồi nhớ lại lúc anh Quỳ giảng cho tôi nghe về hành động của Đội Cấn và Đội Giá trong cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên. Anh là người đọc rộng hiểu nhiều. Anh có niềm tin hầu như vô hạn vào bản chất tốt đẹp của con người. Giờ con người ấy đang nói với tôi về con đường của Đảng, con đường mà tôi nguyện từ đây hiến dâng trọn vẹn cuộc đời tôi không một chút do dự. Tôi tin vào điều anh nói như tin vào chính lương tâm trong sạch của mình.

Anh kết thúc có ý động viên tôi:

- Các đồng chí ở Hỏa Lò nhắc tới tên anh luôn. Các đồng chí bảo nhau ông Đội Mười tốt với tù với lính lắm!... Hãy cố gắng lên anh ạ!

Lần đầu tiên tôi được nghe hai tiếng thiêng liêng: “Đồng chí”!

Từ đấy, phần được giác ngộ, phần được các đồng chí lãnh đạo cổ vũ tôi hoạt động rất năng. Tuổi ba mươi của tôi bớt bồng bột sốc nổi nhưng chưa được trầm tĩnh chắc chắn cho lắm. Tính tôi lại hay nhẹ mồm nhẹ miệng. Nhiều lúc gặp tôi, các anh nhắc luôn:

- Anh nhớ cẩn trọng hơn! Anh em tù cũng có người chỉ dán biểu ngữ rải truyền đơn thôi. Sự giác ngộ của binh lính còn thấp. Mà thằng Cút-xô, anh biết đấy, rất quỷ quyệt. Trong trại lính thế nào cũng có những lưới mật thám của hắn.

Mới hay các anh luôn lo bảo toàn tính mệnh của tôi. Việc mất tôi sẽ ảnh hưởng phần nào đến công việc chung. Nhưng điều chủ yếu là tấm lòng bao dung của người cộng sản đối với con người. Được phấn đấu cho một lý tưởng cao đẹp như vậy, hạnh phúc biết nhường nào!

Nỗi lo lắng của các đồng chí lãnh đạo đối với tôi không phải không có nguyên cớ. Chúng chưa bắt quả tang những hành động cảm tình cách mạng của tôi. Có điều lời đồn đại gần xa chắc cũng khiến chúng nghi hoặc.

Vào một đêm cuối tháng 10 năm 43, tôi đang ngủ thì đột ngột có tiếng gõ cửa. Giật mình, tôi thức giấc. Một tên lính bồi ở tòa xứ đến mời tôi đi gặp chánh xứ. Nhìn đồng hồ, đúng 12 giờ. Khuya thế này hắn gọi tôi lên có việc gì? Lành hay dữ đây? Chỉ huy trực tiếp của tôi là giám binh. Còn chánh xứ đứng đầu tỉnh phải lo nhiều chuyện ít liên can đến tôi hơn. Sao người gọi tôi lên là tên chánh xứ? Lại giữa đêm khuya khoắt thế này> Nghĩ đến lời căn dặn của anh Liệu, anh Quỳ tôi linh cảm trước một điều gì không may sẽ tới. Và, tôi suy tính ngay cách đối phó. Rõ ràng chúng chưa có bằng cớ cụ thể gì để buộc tội tôi. Dưới con mắt của những tên thực dân, tôi, con người mà chúng dụng công đào tạo vẫn còn đắc dụng. Như vậy, hoặc Cút-xô sẽ nẹt tôi. Kẻ non gan không chịu nổi, phải thú nhận. Hoặc Cút-xô sẽ gắng khai thác ở tôi điểm gì có lợi cho sự tình nghi man rợ của hắn.

Tòa xứ hiện ra, phòng khách sang trọng của tên chánh xứ dưới bóng điện xanh trông càng thêm lộng lẫy. Cút-xô niềm nở chào và bắt tay tôi. Hắn hỏi qua quýt công việc hàng ngày của tôi, tình hình làm ăn của trại lính. Được một lát, hắn đứng dậy đóng kín cửa ra vào và cửa sổ chung quanh lại. Điều gì sẽ xảy ra với tôi ở giữa phòng khách này? Hắn tra tấn tôi chăng? Không! Muốn đánh đập tôi thì chắc hắn không kéo tôi đến đây. Chung quanh toàn là lính, hắn cần giữ sĩ diện của tôi trước lũ tay chân chứ! Không! Hắn thể nào cũng đe nẹt dọa dẫm tôi. Những ý nghĩ trên loang loáng nảy ra trong đầu khi tấm lưng to bè của tên chánh xứ đang quay về phía tôi. Do chuẩn bị tinh thần từ trước, tôi dần dần vững tâm trở lại.

Cút-xô lúc này đã đứng đối diện với tôi. Nét mặt và cử chỉ của hắn thay đổi hẳn. Phủ đầu hắn chửi thậm tệ bằng một tràng tiếng Pháp rõ dài:

- Mày là loài quên ơn! Chúng tao phải mất nhiều công lao tốn kém mới có nổi một thằng như mày. Mày ăn cơm nhà nước, đeo lon chính phủ Pháp. Mày đền ơn những người cất nhắc bảo hộ mày như vậy à? Đồ an7 cháo đá bát!

Giở tiếng thực dân hắn muốn lấy uy lực của quan cai trị đe dọa tôi. Dù sao hắn không giơ nắm đấm ra là may rồi. Phải đóng kịch ngay trước mặt hắn mới xong. Cút-xô vừa ngừng chửi, tôi đã ôm mặt khóc bù lù bù loa:

- Bẩm cụ lớn, oan uồng cho tôi quá! Chắc cụ lớn nghe lời xúc xiểm của kẻ không ưa tôi. Xin cụ lớn có bằng cớ cụ thể thì dù tội nặng nhẹ tôi cũng đánh cắn răng chịu vậy!... Đúng, tôi từ thằng lính quèn trở thành phó Quản đều do công lao của chính phủ Pháp. Lon này, áo này là của Pháp, hàm ơn quan lớn rất nhiều. Hơn 12 năm nay tôi phụng sự chính phủ Pháp cũng vì “ơn sâu nghĩa nặng” ấy. Giờ cụ lớn tin lời vu khống của kẻ khác... Oan uổng cho tôi quá!... Công tôi vậy hóa công dã tràng.

Tôi khóc nấc lên. Nước mắt lã chã rơi xuống. Cút-xô cứ để mặc cho tôi khóc. Năm phút sau hắn đứng dậy mở của cho tôi về. Tôi mừng thầm: màn kịch đóng đã thành công.

Chiều hôm sau tôi thuật lại đầu đuôi sự việc cho anh Quỳ nghe. Anh báo cho tôi hay:

- Hãy coi chừng thằng Cai Hồng. Nó có thể là tay chân phòng nhì của Pháp đấy!

Các anh đã đoán đúng. Chính Cai Hồng ton hót với tên chánh xứ về tôi. Có thời gian hắn làm chân long tong trong văn phòng do tôi phụ trách. Giám binh còn kiêm thêm công việc của nhà đoan (thuế quan) nên tôi được cử coi giữ kho muối. Nhiệm vụ của tôi là bán chịu muối cho binh lính để cuối tháng trừ lương của họ nộp cho quỹ nhà đoan. Hồng là tên ưa ăn chơi do vậy nợ nần như chúa Chổm. Có một lần hắn tới năn nỉ để xin mua muối chịu. Tiền nợ của Hồng mấy tháng trước vẫn chưa trả nên tôi bào hắn:

- Để tháng sau hãy mua!

Và hắn ức tôi từ dạo đó. Vốn tham tiền của chức tước, Cai Hồng liền bị mua chuộc làm màng lưới chỉ điểm trong khu vực công sở. Đến thời kỳ cả dân tộc ta lao vào cuộc kháng chiến chống Pháp, hắn cùng Đội Chăm mới rõ mặt là một tên mật thám chính tông. Cuối cùng anh bảo:

- Anh nhận định và đối phó như thế là được! Nhưng đây mới chỉ là bước đầu. Anh cần chủ động tấn công chúng.

Tấn công bằng cách nào? Anh Quỳ bày cho tôi viết đơn xin ra làm quan cai trị ở địa phương. Chức Phó Quản của tôi chẳng ngang với chức Châu úy hoặc Chánh tổng bên bên ngoài. Nhận được đơn chắc bọn chúng sẽ cho rằng tôi chỉ chú trọng đến việc đè đầu cưỡi cổ kẻ khác thôi, chẳng cộng sản gì đâu. Và chúng sẽ an tâm. Có nhiên không đời nào chúng dễ dàng nhả tôi ra. Tôi là mầm non mà chúng còn đang hi vọng. Một lẽ nữa, không dùng tiền bạc của cải đút lót quan trên thì cũng chả nước non gì. Xã hội đồng tiền chi phối mọi chuyện mà.

Các anh còn nhắc thêm:

- Trước mặt Tây anh cần tỏ ra ang ác một chút. Người tù hiểu cả, không lo.

Tôi thấy mưu kế của các anh hay hay. Chừng nửa tháng sau phìa mường Hung (Sinh Mã) khuyết, tôi làm đơn ngay. Viết xong, tôi qua giám binh chuyển đến chánh xứ.

Hoàn toàn im lặng.

Một thời gian sau Châu úy Mai Sơn lại khuyết, tôi viết tiếp đơn gửi thẳng cho chánh xứ và thống xứ dạo này đang đi công cán ở Thuận Châu.

Cũng hoàn toàn im lặng.

Binh lính không thể giải thích được hành động của tôi. Họ kháo nhau:

- Ông ấy lương nhiều quyền cao mà vẫn chưa hài lòng ư?

Họ hiểu làm sao được lòng tôi. Đúng là: “Lái côn lái cuông, lái xưa lái nọk” (Rỗ của người rỗ trong bụng, rỗ của hổ vằn vèo ngoài da). Tôi cứ dùng dằng nữa ở nửa đi như vậy, bọn chúng cũng có phần nể nang hơn!

 

5

Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Quân đội Nhật tràn lên Sơn La. Pháp đầu hàng một cách nhục nhã. Chúng chủ trương phân tán tù: Một số đi Nghĩa Lộ, một số đi Tuần Giáo, còn một số thì chuyển về xuôi. Nhân tình cảnh rối ren tôi cùng nhiều binh lính bỏ về nhà. Trước khi về anh Luống cùng các anh tù bảo sẽ gặp tôi sau. Cách đó chừng mười ngày, anh Luống, anh Mậu (Thiếu tướng Phạm Khắc Mậu) và khoảng mười anh em tù chính trị từ Điện Biên sang Nghĩa Lộ có ghé vào nhà tôi nghỉ lại một đêm. Tôi có trình bày những nỗi băn khoăn của tôi. Trong hơi ấm của bếp lửa nhà sàn, tôi nhớ mãi lời anh Luống căn dặn:

- Dù thế nào cũng không ra làm cho Nhật, hãy gắng liên hệ với tổ chức anh Mười ạ!

Lúc chia tay tôi yên tâm phần nào vì lẽ đó.

Phát xít Nhật chiếm đóng Sơn La. Nhiều quan lại địa phương trong số ấy có Cầm Ngọc Phương đổi chủ cuối đầu làm tay sai trung thành phụng sự nước “Đại Nhật”. Phương bàn với tên quan hai Nhật với tôi ra. Hắn vốn rất quỷ quyệt. Phương biết tôi có nhiều ảnh hưởng trong tầng lớp binh lính ở Sơn La. Nắm được tôi, chúng sẽ dễ dàng nắm trong tay cả một đội quân. Công văn chuyển thẳng về Thuận Châu sức tôi ra làm trưởng Bảo an binh Nhật. Tôi hết sức do dự, đứng ngồi không yên. Hợp tác với Nhật thì đi ngược lạ điều mong mỏi của anh Luống, của những người mình hằng tin yêu trân trọng. Mà không ra thì sẽ dễ phương hại tới tính mệnh của bản thân và của gia đình. Còn tổ chức? Biết ở đâu đây! Phải tìm manh múm thôi! Nghĩ vậy, tôi một mặt thực hiện kế hoạch hoãn binh, mặt khác tôi tìm mọi cách để liên hệ với tổ chức.

Lúc bấy giờ phong trào chuẩn bị Tổng khởi nghĩa ở Tây Bắc lên khá mạnh. Tôi dò hỏi. Và may quá, tôi gặp được anh Chu Văn Thịnh. Lúc này anh đang tập trung lực lượng ở thị xã quanh trại lính. Tôi trao đổi và xin ý kiến của anh:

- Trong hoàn cảnh của tôi, có nên ra làm việc cho Nhật không?

Anh bình tĩnh lựa lời giải thích cho tôi nghe:

- Ồ! Anh ra lúc này tốt chứ. Anh sẽ nắm trong tay binh lính và vũ khí. Khi có thời cơ, khởi nghĩa nổ ra, cách mạng sẽ gặp nhiều thuận lợi. Em tôi, Chu Văn Vinh cũng phục vụ quân đội Nhật đấy! Điều cốt yếu là súng giặc nhằm vào ai, phải không anh?

Nghe anh Thịnh nói, bao vướng mắc bấy lâu trong tôi được gỡ ra. Tôi thấy vững dạ hẳn lên. Từ giờ tôi lại được nối với tổ chức rồi! Hành động của mình đâu phải chỉ là của riêng mình nữa. Tôi ra làm cho Nhật mà trong lòng hoàn toàn thanh thản. Thấy tôi trở lại, cai đội và lính cũng kéo về khá đông, trong đó có Đội Chính, Đội Thát và khoảng dăm ba chục lính. Đã có quan có quân, Nhật cho củng cố lại trại lính và kho súng. Đúng như lời hứa, chúng cho tôi giữ chức trưởng cơ Bảo an binh cai quản toàn bộ lực lượng vũ trang ở Sơn La.

Giữa lúc đó phong trào cách mạng ở rừng núi quê tôi đang chuyển mạnh. Mối liên hệ giữa tôi và anh Thịnh thường xuyên được đảm bảo. Anh còn đưa tôi đọc báo “Cứu quốc”. Càng đọc lòng tôi càng như được mở cờ. Tôi được giao nhiệm vụ tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong binh lính. Anh Chu Văn Thịnh chuyển đến ở ngay trong trại lính cùng tôi để tiện bàn bạc trao đổi. Tôi được biết anh mới đi huấn luyện ở Chiến khu trở về. Anh giới thiệu với tôi các đồng chí hoạt động phía ngoài. Ở thị xả có các anh: Quàng Đôn, Đội Don, Văn Xôn, Cai Piệng... Mường Thanh có các anh: Cầm Vĩnh Tri, Cầm Minh...

Trại lính dưới quyền tôi hoạt động như trại lính khố xanh ngày trước. Nhật bắt một số người H’ Mông “làm phản” và một số lính lê dương giao cho chúng tôi coi giữ. Hàng ngày tôi phải qua Cầm Ngọc Phương bào cáo tường tận với quan hai Nhật về tình hình trại lính. Phương thạo chữ Nho lại sành sỏi trong nghề chó săn nên biết làm vừa lòng quan “Đại Nhật”.

Đầu tháng 8-1945, cao trào cách mạng ngày thêm sôi sục. Chu Văn Thịnh, Đội Thát và tôi bàn với nhau:

- Để súng trong kho bây giờ là hoàn toàn không lợi. Ta phải bí mật chuyển súng ra ngoài để trang bị cho quân khởi nghĩa. Thời cơ giành chính quyền sắp đến nơi rồi!

Ngay đêm hôm sau, một số súng to súng nhỏ mau lẹ chuyển ra cơ sở bên ngoài. Cầm súng trong tay anh em cứ ngỡ ngày cách mạng thành công đã tới gần.

Tình thế bắt tôi phải đóng kịch. Tang tảng sáng tôi hớt hải chạy sang tòa xứ cũ tìm gặp tên quan hai:

- Bẩm quan lớn! Đêm qua tôi cho lính canh phòng cẩn mật, vậy mà có một vài lính bỏ trốn mang theo súng đạn đi. Tôi tìm cách ngăn chặn vẫn không làm gì nổi. Nghe đâu: ... ở Ngọc Chiến, Mường Trai quân Việt Minh về đông lắm! Ta sẽ đối phó thế nào? Đề nghị quan lớn cho cách giải quyết.

Tôi biết bọn chúng đang hoang mang thực sự. Phát xít Đức – Ý – Nhật đã thua trận ở hầu khắp các chiến trường. Phong trào cách mạng ở Việt Nam như triều dâng thác đổ. Đối phó thế nào? Đến chính quyền Đông Kinh cũng bó tay nói gì ở đây. Thế của chúng “đi cũng dở ở cũng không yên”. Nó như cái cây lung lay sắp đổ, chỉ chờ thời gian nữa thôi!

Đêm hôm sau và hôm sau nữa một số lớn súng đạn lại chuyển đến tay quần chúng cách mạng. Giặc Nhật từ tướng đến quân bối rối cực độ. Chúng thoi thóp chờ ngày quân Đồng minh tới tước khí giới.

Tình thế diễn biến sẽ rất mau lẹ. Vấn đề liên hệ thường xuyên với Trung ương đặt ra một cách khẩn thiết. Sơn La không có vô tuyến liên hệ trực tiếp với Hà Nội. Nơi duy nhất có thể bắt liên lạc với Trung ương là Vạn Yên với nhiệm vụ: Hễ có biến chuyển gì, nhất là lệnh Tổng khởi nghĩa phải báo ngay cho tổ chức.

Ngày 19 tháng 8, cách mạng bùng nổ ở Thủ đô Hà Nội.

Nhận được tin, Đội Thát tức tốc đi đêm đi ngày về thị xã. Anh mang theo lời “Hiệu triệu của đại biểu Việt Minh” đọc trước 20 vạn đồng bào Hà Nội ngày 19-8-1945. Và trước đó, anh Chu Văn Vinh được cơ sở bố trí làm bồi cho tên quan hai Nhật báo tin hắn đã tự sát. Quân Nhật hoàn toàn rã rời. Một cuộc họp khẩn cấp của Ban Tổng khời nghĩa được triệu tập.

Ngày 22 tháng 8, cách mạng bùng nổ ở Sơn La.

Chỉ sau vài ngày, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Sơn La đã nhất tề vùng dậy đánh đổ ách áp bức của bọn châu phìa giành chính quyền ở các huyện: Mường La, Thuận Châu, Mai Sơn, Yên Châu và Mộc Châu. Một tình thế bao vậy cô lập bọn Nhật ở thị xã cũng xuất hiện. Ta tiến hành thường thuyết với Nhật. Điều kiện cơ bản là buộc chúng phải trao toàn bộ vũ khí có quân cách mạng. Tôi tổ chức lính đi hộ tống cho đoàn đại biểu của ta. Chúng ngoan cố chỉ nhận trao trả vũ khí của Pháp:

- Ồ! Chúng tôi còn cần vũ khí để bảo vệ quân đội trở về Hà Nội chứ!

- Không! Không được! Phải giao toàn bộ vũ khí cho quân cách mạng.

Nói bằng lời không xong, tối 26 tháng 8, lực lượng cách mạng từ nhiều phía tiến về thị xã. Tôi ra lệnh mở trại Bảo an binh cho quân khởi nghĩa lấy vũ khí. Rồi anh em Bảo an binh cùng quân khởi nghĩa rầm rập tỏa đi bao vây trại Nhật. Thấy động, quân Nhật hoảng loạn đã bỏ chạy từ trước.

Khởi nghĩa toàn thắng ở Sơn La.

Một Ban cán sự Tổng bộ Việt Minh được bầu ra. Chủ tịch là anh Chu Văn Thịnh. Tôi được cử làm ủy viên thủ quỹ của Ban cán sự. Đồng thời Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Sơn La cũng chính thức thành lập. Ủy ban tổ chức một cuộc mít tinh ra mắt ở sân trại Bảo an binh. Anh Chu Văn Thịnh thay mặt Ủy ban tuyên bố xóa bỏ chính quyền của bọn quan lại châu phìa kỳ mục, lập nên chính quyền mới của nhân dân. Tôi còn nhớ như in nội dung lời nói của anh:

- Từ nay, nhân dân sẽ được hưởng quyền tự do dân chủ thực sự. Nhân dân sẽ được bầu lấy người tốt người giỏi thay mặt mình ra làm việc, tự mình cai trị lấy mình. Từ nay, mọi đặc quyền đặc lợi của bọn quan lại châu phìa bị bãi bỏ, chế độ cuông nhốc bị thủ tiêu...

Nhiều đồng bao cũng như tôi rơm rớm nước mắt. Con đường mình đi thênh thang đại nghĩa. Một cái gì mới mẻ đang đến với cuộc sống của đồng bào tôi. Có ai nghĩ đến cuộc sống đó mà không bồi hồi xúc động... Giữa lúc này, nghĩ đến anh Liệu, anh Luống, anh Huệ và tập thể Chi bộ nhà tù lòng tôi tràn ngập một nỗi biết ơn vô hạn. Cách mạng đã giữ tôi đứng vững ở nơi giáp ranh của tội lỗi để đưa tôi trở lại con đường chân chính.

Nếu không có những người tù áo trắng thì tôi hoặc đã vào tù hoặc đã lên máy chém. Hành động chống phá cách mạng điên cuồng của Chánh quản Dưỡng ở Hà Đông tôi vẫn không quên. Cuối cùng y bị trừng trị, cái chết thật đáng đời.

Ngày hội của quần chúng cách mạng qua nhanh như một giấc mơ đẹp. Được ít ngày, bọn Tưởng Giới Thạch mượn danh Đồng minh tràn vào Sơn La. Chúng bắt các anh Chu Văn Thịnh, Đội Thát, Tử Du, Cầm Minh và tôi đưa về Hà Nội. Nhờ người nhà cất công xin xỏ, tôi được thả ở Sơn La.

Tháng 4 năm 46, anh Lương Văn Chiến (tức Phạm Văn Hảo) đặc phái viên của Bộ Nội vụ lên Sơn La. Anh vời tôi ra là ủy viên tỉnh bộ Việt Minh, Trưởng ty thông tin tuyên truyền tỉnh. Vài tháng sau, Trung ương cử anh Trần Quyết lên giữ chức Bí thư tỉnh Đảng bộ Sơn La. Anh mở nhiều lớp huấn luyện cho anh em chúng tôi. Có một lần anh Trần Quyết hỏi tôi:

- Anh biết đồng chí Trần Huy Liệu chứ?

- Có!

- Tôi là học trò Trần Huy Liệu. Anh Liệu có giới thiệu anh với tôi.

Nhắc đến cái tên Trần Huy Liệu tôi mừng mừng tủi tủi. Bao nhiêu kỷ niệm cùng một lúc sống dậy trong tôi.

Ngừng một lát, anh Trần Quyết nói:

- Tôi đề nghị kết nạp anh vào Đảng đợt này!

Thật qúa đột ngột! Tôi vui sướng đến rưng rưng lệ. Nhưng có đôi điều tôi vẫn chưa thật an tâm. Theo Điều lệ của Đảng, một đồng chí được kết nạp phải có hai đảng viên công tác từ một năm trở lên giới thiệu. Vả lại đảng viên nào cũng phải qua thẩm tra lý lịch và thời gian dự bị. Riêng đối với trường hợp của tôi những điều kiện trên không đặt ra. Vì sao vậy? Nghe anh Trần Quyết nhắc tới anh Trần Huy Liệu, suy nghĩ thêm, mọi điều trong tôi trở nên sáng tỏ. Thế ra cả Chi bộ nhà tù đứng ra bảo đảm cho mình. Lời anh Trần Huy Liệu hôm nào lại văng vẳng bên tai tôi... Nước mắt tôi cứ trào ra... Hôm ấy là ngày mồng 1 tháng 10 năm 1946.

 

Những ngày sau Đại hội Toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI.

Tình cảnh của tôi ngày trước như mấp mé bên bờ vực thẳm. Tôi cầm súng cho giặc, tôi là đối tượng trừng phạt của nhân dân. Cách mạng độ lượng giữ tôi đứng vững để không rơi xuống vực sâu của tội lỗi. Cách mạng còn hồi sinh cho cuộc đời tôi.

Đối với dân tộc tôi, cách mạng đã làm một việc thật phi thường! Thực dân Pháp quỷ quyệt và tàn bạo đày ải người tù lên Sơn La nhằm giết dần giết mòn cả thể xác lẫn ý chí của họ. Nhưng, đi ngược lại ý đồ thâm hiểm của chúng, các chiến sỹ cộng sản đã gieo những hạt giống đỏ đầu tiên trên quê hương tôi.

Dự Đại hội Đảng trở về, tôi thêm thấm thía công lao trời biển của Cách mạng đối với tôi và đối với dân tộc tôi.