Xin đừng dừng lại, bạn ơi!

        Ở Gia Lai có hai bạn làm văn chương thường cùng hiện lên trong ký ức của tôi, đó là Văn Công Hùng và Thu Loan. Xin giở lại những trang kỷ niệm văn chương của tôi:

- Năm 1986, lần đầu tôi đến Pleiku, Hùng ra trường được 5 năm, Loan vừa học xong đại học, cả hai đều tràn đầy sinh lực và nghị lực, hăm hở trên chinh đồ (con đường dài) của nghề nghiệp thường gặp nhiều trắc trở và bất hạnh hơn là may mắn và hạnh phúc.

- 10 năm sau, vào 1996, cả ba chúng tôi về dự Trại viết Văn học Dân tộc và Miền núi ở Nhà Sáng tác Đại Lải. Hai bạn văn của tôi bước đầu khẳng định được mình, Hùng đã có Bến đợi, Loan đang ấp ủ tập thơ đầu tay Một thời trăng.

- Năm 1998, tôi đi dự Hội nghị Văn học Tây Nguyên ở Ban Mê, chỉ gặp Hùng, không gặp Loan. Tôi buồn khi biết được chuyện này chuyện kia không thật vui ở Hội Gia Lai. Càng buồn hơn khi nữ văn sĩ H’Linh Niê bạn thân của cả 3 chúng tôi bảo: “Dạo này Văn Công Hùng ưa viết báo hơn là làm văn thơ”.

- Năm 1999 này, tôi vui được gặp cả hai bạn Loan, Hùng ở Hội nghị Văn học Nghệ thuật Tây Nguyên tại Đà Lạt cùng các anh Hữu Chỉnh, Phạm Doanh… Hùng đọc nhiều thơ và tâm sự cùng tôi: “Em gắng mỗi tháng viết 4 bài báo và công bố 4 bài thơ!”.

Là người luôn quan tâm tới sự trưởng thành của đội ngũ sáng tác văn chương ở Tây Nguyên, nghe vậy, tôi có an tâm hơn về Văn Công Hùng. Đó là lý do chính khiến tôi gác lại nhiều công việc hệ trọng khác ngồi đọc lại, đọc kỹ thơ của anh. Tôi đã thấy gì? Đập vào tâm trí tôi trước tiên là những quan niệm thơ được thổ lộ thành câu chữ trong thơ của anh. Ai cũng biết, người làm thơ thì nhiều, phát biểu quan niệm về thơ bằng thơ thì ít lắm. Lý do:

-   Phải học nghề và trải nghề.

-   Phải luôn suy ngẫm về nghề và biết cách diễn tả những suy ngẫm ấy bằng cách thức văn chương.

Nói gọn lại: quan niệm thơ thể hiện ý thức sáng tạo cùng độ chín nhất định ở người làm thơ. Tôi mừng khi được đọc những tuyên ngôn thi ca của Văn Công Hùng là vì thế! Trong bài Thơ sinh nhật cho con, anh viết:

Vì thơ con ơi là chính cuộc đời

Người ta khóc, người ta cười còn ba thì viết.

Quan niệm như vậy bảo là mới thì không phải. Sách vở viết nhiều rồi! Cái chính là anh đã thấm. Nói cái gì bản thân thấm và tin sức mạnh có khác. Hơn nữa ở đây anh nói với con anh. Không thể không trung thực. Cũng như khi anh hướng thơ mình về phía nhọc nhằn lam lũ của người vợ: Những giọt thơ tích tụ trên đường được nhuộm màu nước gạo. Không, Văn Công Hùng không cố ý nói cho “văn chương” hoa mỹ đâu! Anh thật lòng đấy. Tôi hiểu anh mà! Có người hoài nghi những câu thơ sau của anh:

Thời gian trôi giữa đôi bờ dâu bể

Có câu thơ nhức giữa trái tim mình

Này! Hãy cẩn trọng, đừng cả tin, nhẹ dạ trước các nhà thơ. Họ biết ám người khác bằng những lời ma quỷ trong khi họ không tin đến 1% đâu. Nhất là cái tay Văn Công Hùng này, hắn cười cười nói nói ngất ngây thế kia! Vô tư lắm! Hả hê lắm! Bạn đời ơi!… Tôi không nghĩ như thế về anh. Một thi sĩ bậc thầy chẳng đã từng khái quát Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười đấy sao! Thực ra, đó chính là tiếng cười nức nở của Văn Công Hùng trước dâu bể của cuộc đời đấy thôi!

Một lần, lúc Thao thức với mùa Xuân, anh thú nhận: Thương hơn ba mươi mùa xuân ẩm như tờ bạc mốc. Nghe ghê người quá! Tuy nhiên, không ở bài thơ nào mà nỗi lòng anh phơi ra như người ta phơi áo như trong bài Thơ trong chiếu rượu:

Uống đi bạn ta chia nhau ngụm đắng…

Giấy ghi thơ nhòe nước mắt đêm dài

Văn Công Hùng thành thật mời ta. Anh có lý riêng của anh, lẽ nào ta không thể chia sẻ cùng anh? Uống rượu, có phải vậy không, vì rượu thì ít mà vì nhau thì nhiều. Hẹn nhau, ta uống, cùng cạn ly, cho vơi đi, tan đi nổi u uẩn trong lòng. Nghĩ thế nên anh tiếp tục mời, lần này là vui và say: Cứ chuyếnh choáng cứ say vui lên bạn. Để lại rồi: Câu thơ buồn thập thững trên môi. Ở đời, tôi không thật ưa những người chỉ biết buồn đau, sầu não. Rồi than thân, trách phận! Nào ai có thể giải thoát được nỗi u uất của ta nếu ta không tự giải thoát cho mình. Tuy phải nói rằng, nỗi sầu đau trong thơ lại là chuyện khác. Nó sẽ có tác dụng “thanh lọc hóa” tâm hồn một cách tích cực nếu không rơi vào bi lụy, tuyệt vọng. Tôi nhận ra được điều đó khi đọc bài Vẫn phải tin vào những giọt nước mắt của Văn Công Hùng. Bài thơ góp phần phát hiện ra bao điều nghịch lý trong cái thuận lý của vương quốc huyền bí có tên là lòng người:

Tôi đựng nước mắt trong chiếc bình niềm tin

đong bằng nụ cười

những giọt nước mắt tối sẫm

nghe ti tỉ tiếng rên, chiếc bình như muốn vỡ

một đời người nước mắt dễ đâu khô

Đoạn thơ liền mạch trong một ý tưởng chung; không thể rút ra riêng rẽ từng từ, từng câu mà có thể hiểu một cách đúng đắn và đầy đủ ý định của người viết. Thậm chí, cũng không biện chứng nếu tách khổ thơ trên ra khỏi bài thơ. Xin hãy đọc khổ thơ đầy ưu tư sau đó của anh:

Tất cả niềm tin được phân phát cho mọi người

Còn nỗi buồn đựng hết vào chai lọ

Tôi vô tình uống phải

Rượu ơi

Nói là vô tình nhưng người đọc không hề thấy chút “vô tình” nào cả. Anh tự nguyện vác cây thánh giá nhằm cùng bao cây bút thơ khác cứu rỗi tâm hồn những kẻ bị đày ải đấy mà!

Có thể rút ra một điều: muốn hiểu Văn Công Hùng hãy kiên nhẫn lắng nghe cho đến phút chót tất cả những gì anh muốn nói. Riêng bản thân tôi, nếu không đủ kiên nhẫn để đọc anh, tôi đã không có cơ sở lý giải được vì sao anh lại là tác giả của những vần thơ hay về những bức tượng mồ Tây Nguyên. Tôi được đọc và nghe nhiều về văn hóa tâm linh của một số tộc người Tây Nguyên qua những bức tượng nhà mồ độc đáo. Chủ yếu là đọc những công trình khảo cổ. Nhận biết của tôi có sáng ra, nhưng thú thật chính những bài thơ như Tượng mồ, Pơ thi  Đinh Jơng của Văn Công Hùng mới khiến tôi bùi ngùi thấm thía. Anh đã từ nỗi đau của mình để đến với nỗi đau ẩn sâu trong từng thớ gỗ của những tượng mồ:

Nỗi đau khóc chẳng thành lời

Lặn vào thớ gỗ ru người –người ơi

Anh nghe thấy tiếng ru qua nỗi đau. Đó là sự thật trần trụi có lẽ anh học được từ cuộc đời “nắng ít mưa nhiều” của người mẹ:

Suốt đời lặng im như con hà ăn sóng

Sự thật ở đời mẹ hiểu hơn ta

Đúng là muốn đến được với những sự thật đích thực ở đời chỉ nghe, chỉ thấy, chỉ đọc, chỉ học thôi đâu có đủ. Phải sống, phải thấm, phải trải nghiệm. Đặc biệt là những sự thật về nỗi đau trần thế.Tôi không chút ngạc nhiên khi anh có thể viết:

Những tượng gỗ xoáy vào anh nhiều câu hỏi

Anh tan ra trong tiếng gọi thầm thì

Ngoài cuộc đời cũng như trong văn chương, có nhiều kiểu “tan ra”. Có cái “tan ra” để biến mất, lại có cái “tan ra” để hóa thành vĩnh cữu. Chẳng hạn, giọt nước mong manh khi biết hòa vào đại dương vô tận. Ở đây, trong câu thơ này, là đại dương của tình người được liên kết bằng những cảm thông dạt dào và bất tận, trước sóng cả của nỗi đau được thăng hoa thành nghệ thuât – nghệ thuật xoáy nỗi đau vào trong ruột gỗ. Để: Nỗi đau lặn đi cho tuyệt tác phơi bày. Viết về những bức tượng mồ trầm tư như vậy là tài lắm! Không từng đau – đau đến tê tái lòng bởi thế thái nhân tình –không thể viết nổi đâu!

Những tưởng trái tim bị đầy đọa đến mức rớm máu không thể bình yên cho nổi. Ấy vậy mà, có lạ không, Văn Công Hùng vẫn đủ nghị lực để gắn bó đến mê mải với cuộc đời này. Bởi đâu? Trước hết là bởi anh luôn mang một niềm tin nguyên vẹn đối với tương lai. Hãy nghe anh nhắn nhủ con mình:

Rồi sẽ đến lúc ba xuôi về hoàng hôn

Con hãy nhận lấy trong thơ đời dang dở

Con ơi dù nắng mưa dù gió

Chân trời là của con

Tôi không thấy mây xám thấp thoáng nơi chân trời khao khát kia. Nhất là khi tim anh bao giờ cũng được sưởi ấm bởi tình yêu, lắm khi đã thành quá vãng:

Ly nàng hương say chóng mặt hàng dừa

Đường chuyếnh choáng cồn cào dương chải tóc

Chắt được tứ thơ từ trong ly rựợu chát

Lại thấy biển hiền hòa như thuở còn em

Anh viết ở bãi biển Nha Trang trong cái khoảnh khắc Em hờn giận… để chiều nay biển khóc. Văn Công Hùng còn trải qua nhiều khoảnh khắc khác của những sắc thái tâm tư khác trong tình yêu để bạn đọc có được những câu thơ tình phù hợp nói giúp được lòng mình. Tôi không sợ nói quá lời khi nhớ lại câu chuyện mới xảy ra đối với một người bạn thân của tôi ở Hà Nội. Anh từng có một mối tình sâu nặng với một người đàn bà giờ đã có gia đình ở Thành phố Hồ Chí Minh. Từ Hà Nội, nhớ quá, anh bay vào. Buổi chiều, họ gặp nhau trong một nhà hàng sang trọng mà ấm cúng. Anh bảo, đồ ăn thì ngon, mà suốt buổi anh nhai như nhai trấu. Cố nhân, chả biết vô tình hay hữu ý, chỉ nói toàn công việc kinh doanh bề bộn của ông xã mình. Anh đành nén lòng cười cợt. Ngay sau khi chia tay, không chịu nổi, anh lấy vé bay ra như chạy trốn vậy. Sáng hôm sau anh nhận được một cú điện thoại đường dài với những lời hờn dỗi cùng trách cứ! Anh chỉ biết nín lặng. Ai có lỗi đây? Câu thơ của Văn Công Hùng ập đến trong tôi:

Xin em đừng nói bây giờ

Để cho tôi cứ ngày xưa… một mình

Anh còn cống hiến cho đôi lứa đang yêu nhiều câu thơ tình “có cánh” khác nữa. Ví như bài Tím. Cấu tứ bài thơ chặt, có nghề:

Sao tím thế hoa ơi chiều sắp tắt

Người đi xa rồi hoa tím cho ai

Bỗng thấy lẻ loi sắc màu chung thủy ấy

Phương trời nào em có tím như hoa

Văn Công Hùng viết cứ như không ấy! Nhiều người chê anh làm thơ nhanh quá! Nhanh, theo tôi đâu có sợ. Vấn đề là sống ra sao, có day dứt khổ sở vì ý tưởng của bài thơ trước khi đặt bút viết hay không? Như thế, mới mong tránh được dễ dãi, sáo mòn. Điều này mới thật đáng sợ. Phải nói là Văn Công Hùng đôi khi cũng rơi vào sơ sài và nông cạn. Chẳng hạn, đoạn thơ sau trong bài Thôi, em đi lấy chồng: Còn đâu thơ ngây/ còn đâu giấc mơ/ còn đâu dang dở/ để một đời hoài vọng. Cũng may trong bài thơ còn có hai câu Nụ hôn cũ hoang mang mà vấn vít/ Trả lại chân trời hư ảo một mình tôi neo lại, nếu không, nền móng của nó đã sụp đổ rồi! Có thể tìm thấy những chỗ luyễnh loãng tương tự trong một vài bài thơ khác nữa của anh. Phải chăng nguyên do nằm ở chỗ: anh chưa hoàn toàn thực hiện được phương châm tự mình đặt ra là Sống hết mình nên nói chẳng hết lời?

Thật lòng, tôi luôn đặt nhiều kỳ vọng ở Văn Công Hùng. Chỉ e anh có dám bứt ra khỏi sợi dây trói vô hình ngày càng thít chặt của báo chí để hiến thân không một phút tính toán, không một chút mặc cả cho thi ca hay không. Ôi! Mọi sự chọn lựa, sao dễ dàng mà sao cũng khó khăn làm vậy! Tiếc là ta không có hai cuộc đời. Mà kìa, thời gian đang sầm sập tới, đâu có đợi ai. Xin đừng dừng lại, bạn ơi!

                          Đà Lạt, 9/1999