Xưa, nay và mai sau...

Trên tay tôi là tập thơ mới của Nguyễn Thanh Mừng, một cây bút quen thuộc của đất thơ Bình Định. Ấn tượng đầu tiên đến với tôi là sự thống nhất đến mức hiếm có của nó. Này nhé, tên sách: “Ngàn xưa”; Thể thơ: Lục bát; Bìa: Khuê văn các in chìm; 33 bài với một cấu trúc duy nhất: Ba khổ, 12 câu, không hơn không kém. Có bài mở với tuyên ngôn lừng lững: Tôi đi tìm vị trầu cau/ Ngàn xưa nối mối duyên đầu Văn Lang/ Mà nên lục bát hai hàng/ Nhớ thương ngun ngút dặm đàng ca dao (Sinh thành).

Lại có bài kết hướng tới mai hậu: Mai kia về lại sơn thôn/ Tôi mang theo cánh mẫu đơn u buồn/ Một đời tài tử văn chương/ Dám xin nhận chút vô thường trên tay (Mai kia).

Tôi bỗng dưng thảng thốt giật mình. Ta đang sống một nhịp sống khác thường. Muốn hòa nhập, con người hiện đại phải thay đổi, đúng hơn là phải biến đổi triệt để. Vậy mà tác giả “Ngàn xưa” lại muốn dắt ta vào quá vãng. Có lạc lõng, kỳ cục không đây? Có chàng thi sĩ giải buồn/ Đặt thêu chiếc mũ cánh chuồn đội chơi (Phiên chợ Đồ Bàn).

“Chơi” bằng thơ được ư? Với người khác thỉ có thể, riêng với Thanh Mừng thì tôi không tin. Chắc phải có nguyên cớ gì sâu lắm! Hãy giải mã thôi! Và thế là tôi bắt đầu học “Ngàn xưa”, đọc chậm rãi, từng bài một, như người ta đập lớp vỏ bàng cứng bên ngoài để nhâm nhi vị thơm bùi bên trong. Rồi mọi chuyện cũng dần dà sáng ra...

Vậy “Ngàn xưa” với Thanh Mừng là gì? Trước hết là cội nguồn dân tộc. Anh viết trong bài “Lên non”: Về nơi vỡ trứng Tiên Rồng/ Em ơi cắt cỏ phiêu bồng mà đan/ Lợp lên đỉnh nóc thời gian/ Tay nâng vạn cổ lời vang muôn trùng.

Là người nước Việt có ai không nhớ gốc tích của mình. Nhưng rất cần được nhắc lại, để không một phút nguôi quên. Tôi hiểu ý nguyện của chàng trai Việt thời hiện đại khi mường tượng lại đám cưới nàng Huyền Trân thuở trước: Quyết thâu trăm họ về tay/ Binh nhung ruổi chốn lưu đày tìm nhau (Đám cưới Huyền Trân).

Bậy giờ non sông đã liền một dải mà nào đã hết những mưu mô chia cắt. Vậy là còn cần, rất cần những câu thơ như thế, chớ nên bảo là vu khoát, vô bổ.

Quay về “Ngàn xưa”, với Thanh Mừng còn là quay trở về với truyền thống dân gian giàu sức sống. Đọc thơ anh, ta thường bắt gặp cách nói quen thuộc của ca dao, tục ngữ: - Giọt người khởi tự ngọn nguồn/ Giá gương phủ bọc trong vuông nhiễu điều (Từ đường); - Giữa đường mất vốn trắng tay/ Ngùi trong chớp bể mà vay mưa nguồn (Nghiệp).

Đấy là câu chữ! Quan trọng và quyết định hơn là hồn cốt: Muốn vo nếp gặp Lang Liêu/ Muốn trồng dưa gặp mái chèo An Tiêm/ Muốn dân đốt sáo nỗi niềm/ Ngang trời giăng một bóng thuyền Trương Chi (Từ đường).

Có lần một người hỏi tôi: “Văn chương dân gian có bao giờ cũ không?”. Tôi trả lời bằng cách hỏi lại: “Vậy gạo với người Việt ta có bao giờ cũ không?”. Thấm nhuần điều này đến tận gan ruột nên tự đáy sâu tâm hồn tác giả tự nhiên phát sáng: Trở mình một lá trầu không/ Đầm đìa trong cõi long đong đất bùn (Xóm Vọng Phu).

Tôi xem đây là những câu thơ thần tình, không phải trời cho anh mà dân gian dâng tặng anh. Để đền đáp tấm lòng trước sau như nhất cảu anh đấy mà!

Đặc biệt, với Thanh Mừng, trở về với “Ngàn xưa” là trở về tuổi thơ một đi không trở lại. Anh viết trong bài “Buột miệng”: Lang thang hương sắc kinh thành/ Anh tìm mảnh vỡ đời anh bên đường/ Cái thời anh uống nước nguồn/ Anh ăn rau núi thở hương hoa ngàn.

Có lạ không, chỉ là cuộc sống thanh tao đến đạm bạc mà sao nao lòng người đến vậy! Do kỷ niệm tuổi thơ lấp lánh sắc màu hư ảo ư? Chưa hẳn. Cái chính là do vẻ vô tư trong trẻo, càng trải đời càng cảm thấy quý giá, vàng mười không thể đánh đổi được, của nó. Vậy nên, tôi thật sự chia sẻ mong muốn này của anh: Đôi khi anh muốn trở về/ Ngày xuân đốn củi đêm hè buông câu/ Chiều vàng đủng đỉnh lưng trâu/ Mê vui cùng cỏ đắm sầu cùng cây.

Chỉ là “đôi khi” thôi, vì dẫu sao anh vẫn là con người hiện đại với vóc dáng cũng khuyềnh khoàng lắm đấy: Anh đi giữa thế gian này/ Khoanh tay thì lỡ, dang tay thì thừa.

Phải ý thức cho rõ cái “độ” cần thiết. Nếu không, anh vô tình trở thành kẻ xa lạ với đồng loại mà trước hết là với chính mình.

Thanh Mừng cũng như thơ của anh đã không xa lạ với chúng ta mặc dầu, xin thú thật, cũng là lúc làm ta hơi khó chịu bởi cái vẻ khăn là áo lượt quá mức của nó. Chẳng hạn câu thơ này: Thế rồi cạn một hồ trường/ Tôi ôm giấc mộng quan vương vào đời (Dâng).

Cũng may là những câu như thế không nhiều nên sự khó chịu của bạn đọc qua mau, nhất là khi bạn đọc cảm nhận được vì lẽ gì mà anh quyến luyến với “Ngàn xưa”. Phải nói là ở đây Thanh Mừng đã hoàn toàn thuyết phục chúng ta. Tôi đặc biệt lưu ý tới hai bài “Sim trên hè phố” và “Nửa đêm về sáng”.

Anh mở đầu bài “Sim trên hè phố” một cách tự nhiên thế này: Sim ơi còn nhớ ta không/ Xưa ta cùng bạn sống trong thung đồi.

Một câu hỏi. Hỏi để gợi bao kỷ niệm không quên thời quá khứ. Hỏi để nối xưa với nay dầu vật đã đổi, sao đã dời: Ta còn tí đỉnh tóc xanh/ Bạn còn chút ít ngọt lành mà thôi.

Thời gian trôi đi, mọi cái đều phôi pha, giữ sao được. May mà còn chút đồng điệu để thương, để nhớ. Để rồi ngàn xưa sau cơn lăn lóc vô hồi hóa thành kỷ niệm đẹp đủ sức chống cự lại sự bào mòn của năm tháng. Đấy là chiều thuận. Cuộc sống còn có chiều khác, chiều nghịch. Không phải vô cớ khi tác giả kếtt húc bài thơ trong nỗi day dứt: Mai này cát bụi nhập nhòa/ Biết ai còn nhận ai là cố tri?

Hóa ra, anh không xa rời hiện tại – chính hiện tại là bệ phóng của bao vần thơ anh. Điều này được bộc lộ rõ hơn qua bài “Nửa đêm về sáng”. Nửa đêm ra tận bãi sông/ Mới hay gió mát trăng thanh dường này.

Sao lại ra sông vào lúc nửa đêm khi mọi người đang yên giấc nồng? Lại một mình “nâng chén ngang mày”, cô độc cô đơn đến thế? Ngẫm kỹ mới thấy cái lý ngầm “hiện đại” ở bên trong. Một nhà xã hội học Mỹ đưa ra một con số thống kê chứng minh rằng số người đàn bà Mỹ hiện thời ưa sống độc thân lớn gấp nhiều lần trước kia. Bởi tâm hồn họ giàu có đến mức sống một mình mà chả bao giờ biết thiếu. Có phải nhân vật trữ tình của chúng ta rơi vào tình trạng tương tự? Không hẳn vậy! Anh cảm thấy xa lạ với cái ồn ã, tất bật hàng ngày đó thôi. Chứng bệnh stress lo âu, mất ngủ, mệt mỏi vì căng thẳng quá có chịu tha ai đâu. Phải đề phòng! Một biện pháp hữu hiệu được nhiều người khuyên là hãy sống hòa với thiên nhiên, bầu trời, cây cỏ... Thế là: Biết rằng những khoảng trong xanh/ Lặng yên hào phóng đợi anh bên trời.

Anh còn biết: Không anh, mây nước sao trăng/ Vẫn hồn hậu, vẫn thung thăng muôn đời.

Món quà quý giá không dễ có được dành cho những ai có lòng với vẻ đẹp của thiên nhiên giữa vòng xoáy của cơn lốc cuộc đời. Bởi một lẽ đơn giản mà mấy ai nhận chân ra được: Chỉ vô tình một chút thôi/ Bao nhiêu vẻ đẹp lần hồi lìa xa.

Một khi con người không còn đủ nhạy cảm phát hiện ra cái đẹp nhỏ nhoi, cái đẹp mỏng manh thì không biết cuộc sống sẽ ra sao!

Như vậy, viết về “Ngàn xưa” mà cảm quan tác giả không tách rời, hơn thế lại rất hòa nhập với hiện thời. Cũng như anh, thơ anh trước sau vẫn là con đẻ của thời đại mình: Giò và chỉ có gió thôi/ Rung cành bứt quả thương người xa cơ/ Chở người về cõi tiêu sơ/ Trĩu vai nhặt những vần thơ cát lầm (Cây khế).

Từ đó, thơ Thanh Mừng có điều kiện vươn lên bằng sức bật của chính mình. Ta hãy nghe anh “lý sự” để thêm một lần thấm thía sức mạnh của tuổi ấu thơ: Tôi tiêu pha suốt cuộc đời/ Bằng niếm tin – phúc lộc thời bé thơ (Đồng tiền phúc lộc).

Cầu mong ai cũng có được ý nghĩ ấy giữa thời buổi không ít nhốn nháo, nhộn nhạo này. Và ý nghĩ sau nữa: Kề vai người vượt bể dâu/ Sao chưa níu được lòng nhau lại gần (Trên đường cày ải).

Dân tộc ta tửng đánh thắng những đế quốc sừng sỏ bằng sức mạnh tổng hợp từ mỗi người dân. Nay đất nước đã được độc lập. Tổ quốc đã được thống nhất mà sao dân chưa giàu, nước chưa mạnh? Một trong những vật cản đáng sợ có phải là lòng người chưa hoàn toàn gắn bó, cảm thông với nhau? Tôi thật hiểu và tin thơ Nguyễn Thanh Mừng là vì thế: Mang thiên chữ nghĩa dãi dầu/ Ngàn xưa gởi tới ngàn sau tấc lòng.

Anh còn trẻ, sức dài vai rộng. Hãy hiến thân cho nghề đừng một phút tính toán, do dự. Rồi cái gì phải đến sẽ đến với anh.

                                                                                                                         Đà Lạt, 14/9/98