Trách nhiệm công dân trong thơ Nam Bộ

        Vùng đất phương Nam trở nên trù phú là nhờ sự bồi đắp của dòng Cửu Long Giang. Những lớp phù sa kết lắng làm nên bao miệt vườn trĩu quả, bao cánh đồng bội thu. Tuy nhiên, như một định mệnh, may mắn đấy mà nghiệt ngã đấy. Tôi đã nhiều lần tận mắt chứng kiến mùa nước nổi. Ngập tràn chỉ một màu sông nước. Bao tai họa có thể ập xuống bất cứ lúc nào. Sống chết, mất mát lơ lửng trên đầu. Có người cầm bút nào lại có thể vô tâm? Tôi đọc được tâm sự mang ý nghĩa tiêu biểu qua khổ kết của bài thơ Vô đề: Những tâm hồn vô tư/ Dù nhẹ tênh, trống vắng/ Nhiều khi/ Vẫn có gì trĩu nặng ( Nguyễn Võ Khang Hạ).

            Không trĩu nặng sao được khi đồng bào mình phải gồng mình lên để trống trọi với lũ lụt tác oai tác quái. Thủy tinh hiển diện, Sơn tinh có lúc tưởng chỉ còn biết bó tay. Rất nhiều lần lòng nặng trĩu buồn đau, các bạn và tôi. Vì vậy, cách đây hai năm, ghé qua thành phố Long Xuyên, tá túc ở Trụ sở Hội Văn học nghệ thuật An Giang, tôi đã không thể dửng dưng khi cầm trên tay tập ký và thơ của nhiều tác giả, mỏng thôi, có nhan đề Mùa nước dữ. Đập ngay vào mắt tôi là những vần thơ trần trụi Lũ về phố chợ của Nguyễn Đình Chiến in ngay ở trang đầu:

                                    Bao cảnh đời đang đói lạnh giữa đồng sâu

                                    Biển nước mênh mông, trơ mái nhà xơ xác

                                    Giấc ngủ cụ già có bị nước dâng ướt lưng đánh thức?

                                    Trẻ thơ làm sao đến trường?

                                    Bếp kê nơi nào để nhóm lửa nồi cơm!

            Văn chương luôn đòi hỏi tài năng. Đúng thôi! Có tác phẩm lớn nào lại không được sinh ra bởi tài năng lớn? Nhưng, như quan niệm của thi hào Nguyễn Du: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Ta cần biết nâng niu những dòng thơ, những áng văn, có thể còn thô mộc, nhưng lại gắn bó mật thiết với số phận gieo neo của đồng bào mình, nhất là những người dân nghèo khổ. Ai đây, nếu trước tiên không phải là người cầm bút chúng ta, sẻ chia vui buồn, sướng khổ cùng nhân dân?

                                    Lũ tràn về phố chợ ngập gối chân

                                    Nghe cứa thịt  da niềm xa xót

                                    Dòng nước cuốn bao mồ hôi nước mắt

                                    Nỗi đau ta cứ quặn lòng

                                                                ( Lũ về phố chợ)

Tôi dừng thật lâu ở bài thơ có tên là . Đọc, suy ngẫm và rung động cùng Nguyễn Việt Dũng:

                                    Chín con rồng ngày đêm dâng nước

                                    Tức vỡ bờ trắng xóa đồng xanh

                                    Hạt  lúa về đâu nhà xơ xác

                                    Bếp ngang cánh én chiều lạnh tanh

Những câu thơ tả chân. Lòng người viết như nén lại, cứ để cho thực tế cay nghiệt tự lên tiếng:

                                    Nước xuôi dòng nước cuồng nước xoáy

                                    Nhấn chìm bao mạng số mong manh

                                    Sạt  lở đường cây tróc gốc

                                    Ghe xuồng trên sóng nước đong đanh

Nỗi âu lo của tác giả dầu được ghìm nén, người đọc vẫn nhận ra. Những câu thơ không lạnh lùng, không một chút lạnh lùng. Đó là sản phẩm tinh thần của người trong cuộc, cùng máu mủ thịt xương với nhân dân mình.

            Đấy là lũ gần. Còn đây là tâm trạng nhớ và lo của Lê Thanh My khi Nghe lũ miền xa:

                                    Đêm nằm nghe lũ vùng xa

                                    Nao nao như kẻ nhớ nhà về thăm

                                    Lưới thưa lọt bóng trăng rằm

                                    Tiếng con cá quẫy nghe âm âm buồn

Chưa thật hợp lắm, cái cảnh lưới thưa để lọt bóng trăng rằm. Cây bút nữ thanh mảnh của Châu Đốc như đang làm thơ chứ không phải đang sáng tạo nghệ thuật. Người sáng tạo, nhất là bậc cao, thường “quên câu quên chữ” (Vũ Quần Phương), chỉ mong thơ mình đọng lại máu thịt của cuộc đời. Cho dẫu vậy, tôi vẫn thành thật xúc động trước sự cầu mong thành thật của chị: “Lạy trời! Chầm chậm mưa tuôn/ Bạn ta áo vá, cơm lường chiều nay”. Những số phận mong manh! Càng mong manh trong nỗi lo lắng bồn chồn của người thân nơi xa:

                                    Đêm nghe tin lũ đổ tràn

                                    Nỗi đau trỗi dậy về ngang tim mình

            Như đã nói, ta chưa thật hài lòng trên phương diện văn chương. Riêng tấm lòng của người viết thì ta quý. Vì thế, tập sách mỏng mảnh chất chứa sự sống ấy vẫn còn ấm nóng trong tay tôi cho đến tận bây giờ. Cũng chính vì thế, mắt tôi đã dừng lại thật lâu ở những bài thơ: Cơn lũ (Trần Hữu Dũng), Bất chợt mùa nước lũ (Đức Ngân), Nhật ký mùa lũ đồng bằng - 1991(Trần Thế Vinh) trong tập thơ dày dặn hơn nhiều – Đồng bằng sông Cửu Long - Thơ.

            Xin được nói ngay, tôi có nhận ra tính cấp thời của thi ca, đặc biệt ở bài thứ ba. Thật tình, tôi không mấy thiện cảm với những bài thơ thời sự, sinh ra chủ yếu từ những tác động bên ngoài chứ không từ sự thúc bách bên trong. Những trường hợp trên có lẽ là ngoại lệ chăng? Nhưng khi đọc chúng, tôi lại bị một lý lẽ khác cảm hóa, đến nỗi buộc phải xem lại quan niệm trước đây của mình. Những vần thơ trực tiếp nảy ra từ những sự việc, sự kiện nóng hổi của đời sống nếu bắt gặp nỗi trăn trở  tìm tòi thường trực của nhà thơ thì cũng có thể vượt qua giới hạn của thời gian như thường. Tôi xin lưu ý từ nếu. Nói khác đi, cái bên ngoài phải bắt gặp yếu tố bên trong, chuyển hóa thành nỗi day dứt, sự tha thiết của người cầm bút mới có được những câu thơ đích thực, có sức lay động người đọc mọi thời.

            Bài Nhật ký mùa lũ đồng bằng- 1991, như tên gọi của nó, là một cách ghi chép bằng thơ. Kết cấu bài thơ tuân thủ nghiêm ngặt trình tự thời gian. Mồng 5 tháng Năm: “Tín hiệu bồn chồn trong sóng mắt hạ lưu”; Đến tháng Chín: “Gió nao nao, màu lúa ngả lao xao”; Rồi tháng Mười: “Và bóng mặt trời/ Trầm theo nước mênh mông”. Tôi chọn những câu bản thân cho là giàu chất thơ hơn cả. Bên trong chữ nghĩa ta thấy nhịp đập thổn thức âu lo của con tim.

            Tôi đặc biệt thích những vần thơ viết sau cơn lũ. Chúng kịp kết lắng thành phù sa của tư tưởng:

Tháng chín không thấy lúa vàng, hoàng hôn tự vẫn

                                                             Đàn chim vỗ cánh lạc loài kêu thương nhớ tổ

                          Giọng cười của nước cười điên òng ọc, run run mái chèo bơ vơ

Ngọn đèn dầu chao đảo chiếc bóng sầu đổ ập

           Trôi lục bình, mái nhà, con trâu, câu ca dao ướt sũng

                                                              Vớt lên đi em, thu vén những gì còn sót

                    Quên đi sự giận dữ, giấc mơ ốm yếu, u me bìm bịp bám rũ

                                                               Hãy cưỡi lên con rồng mà bay

                                                                             (Cơn lũ)

Tôi trích dẫn hơi dài. Phê bình rất kỵ làm vậy! Dễ nhạt, dễ nhàm. Đây là ngoại lệ. Lại thêm một ngoại lệ. Nhưng thơ Đồng bằng sông Cửu Long luôn đủ sức bao dung những ngoại lệ tương tự. Còn bởi một nguyên do khác: câu thơ khá mới lạ. Tôi tin là Trần Hữu Dũng nếu dám trả giá, sống chết cho thơ thì cuối cùng chắc cũng sẽ làm nên chuyện. Rộng dài bởi ý tưởng, mới mẻ bởi phi pháp - chính là bệ phóng cho thơ anh vươn cao, đi xa.

            Tôi cũng có thể chấp nhận việc dùng nước lũ để diễn tả tình yêu của Đức Ngân:

                                    Anh đâu biết tình em như đỉnh lũ

                                    Lặng lẽ âm thầm cuốn cả hồn anh

Cũng như đất sau cơn lũ, tình yêu sẽ trào dâng trong nỗi chờ đợi lớn lao:

                                    Nước đi rồi đất bỗng thèm khao khát

                                    Khi khô cằn nứt nẻ chân chim

        Thi ca có nhiều dạng, có nhiều cách nói, như chính cuộc đời. Nhưng nếu muốn được cuộc đời chấp nhận thì cách nói, kiểu dạng nào cũng phải mang hơi ấm của cuộc đời. Những ai quen ẩn mình trong vỏ ốc của cái tôi nhỏ hẹp chắc sẽ tìm được bài học bổ ích từ một trong những phẩm chất qúi giá đó của thơ miền Tây Nam Bộ.