Thư ngỏ gửi một nhà thơ nơi tận cùng đất nước

Đàlạt, ngày 17 tháng 09 năm 1999

Anh Trần Hữu Nghiễm kính mến!

Tôi chưa có may mắn được đặt chân lên thành phố Cà Mau nơi tận cùng đất nước thân yêu của chúng ta. “Nước ta liền một dải / Từ mũi Cà Mau đến địa đầu Móng Cái...” Chắc anh biết đấy, từ lâu những câu thơ ấy luôn vang lên trong tâm trí mỗi người Việt Nam yêu nước. Và khi nỗi khao khát về vùng đất thiêng ấy sống trong tôi, không hiểu sao tôi lại nghĩ đến anh cùng các đồng nghiệp khác của tôi như nhà văn Nguyễn Thanh, nhà thơ Nguyễn Trọng Tín... - những người đang vắt kiệt mình trên trang giấy trắng để khẳng định là mình sống một cách có ý nghĩa. Vào dịp tết Kỷ Mão năm nay, tôi nhận được tập thơ anh gửi tặng, và mới đây, ngày 10/09, lại được anh gửi cho tập thơ vừa in của mình - tập “Khúc thương yêu”. Ở ĐàLạt, tôi thường xuyên được gặp các bạn viết khắp ba miền. Dạo cuối tháng tám vừa rồi, nhà thơ Đặng Hấn lên thăm tôi, có báo cho tôi biết là anh đang bị ốm nặng. Đọc lời cảm tạ của anh ghi ở đầu tập sách đối với Nhà xuất bản Trẻ và Xưởng in Tuần báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh, tôi xúc động lắm. Đồng nghiệp yêu mến anh đang làm tất cả những gì có thể làm để giúp anh. Tiếc là tôi không được ở gần để được bày tỏ, dù là đôi chút, tấm lòng của tôi với một đồng nghiệp đáng kính đang lâm bệnh như anh. Rồi cuối cùng, tôi tìm đến một cách bộc lộ tình cảm của riêng mình, viết thư để nói những cảm nghĩ  ban đầu về thơ của anh. Trước hết, từ nơi xa, tôi xin cầu chúc anh mau chóng hoàn toàn bình phục, đem lại sự an tâm cho người thân và niềm vui cho đồng nghiệp chúng tôi.

Anh Trần Hữu Nghiễm ơi!

Tôi không có thói quen viết về tác phẩm của những tác giả mà bản thân chưa được trực tiếp gặp mặt. Nói gì thì nói, phê bình văn chương bao giờ cũng là một cách xem xét, đánh giá. Đúng, sai cố nhiên phải đặt ra. Đành rằng “nhân như kỳ văn, văn như kỳ nhân”, nhưng tôi không bao giờ quên nương tựa vào sự mách bảo của trực cảm qua những lần tiếp xúc với người viết. Thơ anh có lẽ là một ngoại lệ với tôi. May mắn thay, có một tiếng nói gì da diết tự thẳm sâu bên trong buộc tôi phải viết. Và tôi đã công nhận ngoại biệt này với một niềm tin cần phải có trước khi cầm bút.

Hiện lên trong tâm trí tôi lúc này là hình ảnh một nhà thơ “độc ẩm buồn thương giữa khuya” nơi mênh mông sông nước, bạt ngàn tràm đước Cửu Long. Con người ấy “theo em đi về phương Nam” mà lòng vẫn nương theo Bắc Đẩu đêm đêm. Con người ấy ở cái tuổi “cái trẻ chưa qua, cái già đã lại”, mái đầu đã chớm bạc vì buồn đau, vì “vướng chân tục lụy”:

Bỗng dưng buồn đến lạ lùng

Đám mây vô định giữa lưng chừng trời

Bỗng dưng buồn đến lặng người

Bạn xưa đâu giữa cõi đời mênh mông

Tôi hiểu được nỗi buồn bâng quơ của anh. Cõi đời mênh mông, còn ta nhỏ nhoi thế kia! Cõi đời vô định, còn ta thì hữu hạn thế kia! Nỗi buồn xâm chiếm lòng ta là phải thôi, khó cưỡng lắm! Dường như anh cố quên đi chuyện buồn, gắng xua đi nỗi buồn, thì cái buồn càng chế ngự lòng anh:

Trời cao đất rộng, thôi thì

Em thương yêu hãy quên đi chuyện buồn

Hơn một lần anh xin được vô ưu như cỏ cây, như tháng ngày, nhưng nỗi ưu phiền, lo âu vẫn đeo đẳng anh như hình với bóng. Đành chấp nhận và học cách chung sống với chúng như cô bác đồng bằng sông Cửu Long chung sống với lũ thôi, anh Nghiễm ạ! Đó là thân phận đa mang của người nghệ sỹ khó vùng thoát ra lắm đấy! Đọc thơ anh, hãn hữu mới gặp tiếng cười, nhưng chỉ là tiếng cười trong ao ước được đặt nơi người mình thương:

Đi một mình giữa đường mưa ướt

Thấy em cười xanh biếc cõi trời xa

Có phần vu vơ, cái tiếng cười ấy! Trong khi cái dáng cô đơn của anh “giữa đường mưa ướt”lại hiện lên rõ mồn một lấn lướt hết thảy. Hóa ra, tiếng cười cũng chỉ là một giả định, cố nhiên là một giả định đáng yêu, không thể xóa đi nỗi đơn côi trong anh cho nổi. Anh vẫn: “Cô độc một góc trời / Mãi yêu người lặng lẽ”. Rồi anh Nghiễm ơi, anh cũng hóa thành người ưa im lặng, tách mình ra, sống trong cõi riêng tự lúc nào:

Soi lòng nghe gió heo may

Thẫn thơ mình lại cầm tay của mình

Đọc đến đây lòng tôi tự nhiên se thắt lại. Cô đơn, cô độc đến thế là cùng! Đến mức, tôi nhớ có lần trong vòng tay người thương “hai bàn tay đan nhau”, mà anh “vẫn thấy đời hiu quạnh” (Khuya). Nguyên cớ do đâu? – tôi tự hỏi. Và tôi ngỡ ngàng vì câu trả lời có được từ thơ anh: Ấy là do nhu cầu được sẻ chia, được cảm thông quá lớn nơi anh ấy mà. Trong bài “Ngậm ngùi” có đoạn:

Không có ai để chia tay chiều nay

Nắng rưng rưng vàng

Bước chân như say

Gửi buồn thầm

Theo mây

Tôi chợt liên tưởng tới bài “Những bóng người trên sân ga” của Nguyễn Bính. Thi sĩ là thế, thương vay khóc mướn một cách thành thật, buộc người ta rơi lệ cũng một cách thành thật. Như vậy là anh đã có thể toại nguyện “bay lên cao cô đơn”, “bay lên trên khốn khó” để người viết “thành thi nhân” rồi đấy! Mackêt từng nói, cả đời ông chỉ viết một tác phẩm duy nhất có tên là “Cái cô đơn”. Viết về cái cô đơn để nhân loại ý thức sâu sắc về nó, nhằm đấu tranh với nó. Vì vậy, theo tôi, cái cô đơn chỉ là mặt trái của cái hợp quần rộng lớn. Với thơ anh, giãi bày nỗi buồn cô quạnh cũng chỉ là một cách để cất lên “Khúc yêu thương” của chính mình:

Nằm nghe hơi thở của mình

Gởi muôn phương một chút tình thủy chung

Anh là vậy, và thơ anh cũng là vậy đấy: chỉ có cái tình là quý nhất bởi chỉ cái tình là còn mãi với đời:

Thời gian đi không dừng lại

Mai sau còn mãi tình này

Hai câu tôi rút ra từ bài “Nghĩa tình” anh làm ngay trên giường bệnh để tặng bạn bè thân hữu tới thăm. Trong bệnh viện, anh còn làm một bài thơ khác khiến người đọc có thể rưng rưng. Anh bảo: “Bạn đến thăm mình trong bệnh viện / Nói cười như thể thật là vui”. Để khi: “Bạn về bóng bạn còn trên vách / Nhớ bạn mình riêng nỗi ngậm ngùi”. Cũng là nỗi rung cảm nhưng cái lẽ ở anh và ở chúng tôi có phần khác nhau. Anh rung cảm vì bạn quan tâm tới mình, còn chúng tôi rung cảm vì anh đã thật sự quên đi nỗi hiểm nghèo của bệnh tật để chỉ nhớ đến cái tình của bè bạn. Ôi! Có phải phẩm chất đích thực của người nghệ sĩ là thế, phải biết quên mình đi, hướng tới con người và cuộc đời bằng cảm nhận của riêng mình. “Giữa đời thường”, ta là ta mà ta không thể chỉ là ta:

Con nợ nần chồng chất

Thương chi hoài tiếng kêu

Nhìn chi chùm mây trắng

Nhớ chi một màu rêu

Anh tự nhận mình là “một người lẩn thẩn”. Tôi lại rất yêu cái vẻ lẫn thẩn kiểu ấy; thiếu nó, ước nguyện suốt đời của anh liệu có được toại nguyện không? Bởi vậy, tôi có quyền yêu cái sự “thẫn thờ ta bỗng nhớ mông lung” khi anh đắm mình trong ánh trăng non đầu tháng; có quyền tin vào nỗi “xao xuyến không tên” khi anh “bước ra ngõ đã thấy đường hoa nắng”; và có quyền chia sẻ với “tiếng thở dài” “tự xa xăm” mà anh cảm thấy vào cái đêm “khuya mưa nằm lạnh trong quán khách

Thi sĩ, anh ta là ai? - có lần người ta hỏi tôi như vậy. Tôi nói, thi sĩ là con người như ta mà lại khác ta. Cũng như thi ca ấy, nó vừa là cuộc đời này như ta cảm nhận, lại vừa là thế giới khác như ta có thể cảm nhận. Đây, một câu thơ viết về mái trường có thể xem là hay nhất của anh:

Thuở tôi về cây phượng đỏ oằn vai
Mang những mùa hè nặng nhọc

Và đây nữa, một câu thơ có hồn thật đáng nhớ được anh trân trọng ghi làm Đề từ cho một trong những tập thơ tâm huyết nhất của anh:

Sông nước đêm khuya có mắt

Người đi xa không quên

Thơ anh có cái thực, nhưng nhiều hơn là cái mộng, đúng hơn là cái mộng hòa trong cái thực:

Em mong manh như là sương là mộng

Dịu dàng như một dải lụa mềm

Tôi biết anh là một nhà giáo gắn bó, yêu quý nghề. Và thú thật, tôi cứ tự hỏi sao anh viết nhiều về nghề dạy học mà vẫn chưa hái lượm được nhiều câu hay, lại càng hiếm bài hay? Xin anh yên tâm, thơ anh viết về nghề sư phạm của chúng ta (tôi cũng làm nghề dạy học ngót ba mươi năm rồi) không phải là một ngoại biệt đâu. Có lạ không, ai cũng được trưởng thành từ một mái trường, ai cũng mang ơn nặng nghĩa sâu với thầy cô, mà thơ văn hay về nhà trường vẫn thật hiếm hoi! Với những trường hợp khác thì tôi không rõ, với riêng thơ anh, có lẽ bởi cái tạng trời phú cho anh không mấy thích hợp với thực tế thường nghiêm cẩn, khắt khe, mô phạm của nghề dạy học. Anh chẳng đã không ngần ngại mà tuyên bố:

Sống cùng những điều không thực

Gửi thân mình cho hư không

Bay trên muôn phương trời đất

Tặng nơi nơi những đóa hồng

Mà thôi, hãy tạm hài lòng với những gì mình có, anh ạ. Có ai trên đời thỏa mãn được hết cả đâu. “Bỉ sắc tư phong” mà! Về phần mình, do thế tôi lại được hưởng lẽ công bằng của tạo hóa, để có được từ anh những vần thơ hay về mưa, về xưa, và về đêm. Xin lỗi, tôi có lần theo mục lục hai tập thơ để làm công việc liệt kê một cách máy móc, và tôi thật sự ngạc nhiên khi thấy số lượng bài thơ chuyên viết về những đối tượng trên nhiều đến mức “dễ sợ”. Rất đúng với sự bộc bạch của anh trong bài “Tâm cảnh”:

Trắng đêm đốt thuốc vàng mắt nhớ

Thân gầy bóng chiếc ngọn đèn khuya

Người của ngày xưa quên lối cũ

Hiên ngoài gió lạnh một trời mưa

Anh thấy đấy, tôi nói không ngoa đâu: “Trắng đêm”, “ngày xưa”, “trời mưa”. Anh bị ám ảnh bởi những thế giới dễ biến nhà thơ thành người sống trong mộng mất rồi! Tôi chợt nhận ra dấu ấn sâu đậm của cảnh vật, con người xứ Huế lên tâm hồn anh. Mà cũng phải thôi, có ai từng sống ở Huế Cố đô, Huế “mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên”, Huế thăm thẳm những tiếng hò đêm khuya trên sông nước, lại không nhiễm phong cách Huế? Huống hồ anh- “hai mươi mấy mùa xuân ở Huế”, để:

Những ý tưởng bay đi, những lời chưa nói hết

Âm thầm về tha thiết, mưa ơi!…

Trong những cơn mưa dầm dề, ta thao thức để ký ức trôi về quá vãng, bởi một lẽ giản dị:

Ngày qua không hẳn là đã mất

Người đi còn nhân ảnh lung linh

Kỷ niệm sống dậy chấp chới trong “Đêm mơ”, rồi:

Vần thơ vọng phía chân trời

Chập chờn trên sóng

Và cứ thế, cứ thế thơ anh có xu hướng đi về cõi vô cùng của không gian và thời gian mà anh gọi là “cõi trời chung”:

Một mình giữa cõi trời chung

Vẳng nghe tiếng vọng vô cùng thẳm sâu

Để ngay khi im lặng, buộc lòng phải im lặng, anh cũng không quên là: “Tôi tự hát âm thầm như đất”. Sự lặng im bao giờ cũng có ý nghĩa riêng của nó, mà đâu phải ai cũng có thể và có điều kiện khám phá ra?

Anh Trần Hữu Nghiễm kính mến!

Tôi đã viết khá dài, xin dừng bút ở đây, anh nhé! Tôi biết rằng thư có dài hơn thế chăng nữa cũng không thể nói hết được tình cảm và ước muốn của tôi dành cho anh và thơ anh. Trước khi ngừng lời, tôi chỉ xin nhắc lại những ý thơ trong bài “Ân phúc” mới được sáng tác của anh, rằng: “Tấm thân còn mang nặng nợ đời”, rằng: “Bao nhiêu tục lụy hãy còn vương”… Hãy khoan nghĩ tới “ngày kia mây trắng bay” để có dịp tạ ơn ân phúc của tình bạn, tình đời và tình thơ.

Ngóng chờ tin lành từ anh cùng những sáng tác mới của anh.

                                                                                                                         Kính thư

                                                                                                                PHẠM QUANG TRUNG